BỆNH BẠI LIỆT ( Poliomyelitis ) (Kỳ 3)

Chia sẻ: Barbie Barbie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
60
lượt xem
11
download

BỆNH BẠI LIỆT ( Poliomyelitis ) (Kỳ 3)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chẩn đoán xác định: dựa vào - Lâm sàng: Sốt cao, đau cơ. Liệt nhẽo ngoại vi, không đối xứng, xảy ra đột ngột, giảm phản xạ gân xương và không có rối loạn cảm giác kèm theo. - Xét nghiệm: Phân lập virut từ máu, nhầy họng, phân theo từng thời kỳ bệnh. Phản ứng trung hoà hoặc phản ứng kết hợp bổ thể với hiệu giá kháng thể lần hai cao hơn lần thứ nhất. - Dịch tễ: tuổi dễ mắc bệnh (2-8 tuổi) và có nhiều trẻ trong một tập thể cùng bị tương tự. 2. Chẩn đoán phân biệt:...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: BỆNH BẠI LIỆT ( Poliomyelitis ) (Kỳ 3)

  1. BỆNH BẠI LIỆT ( Poliomyelitis ) (Kỳ 3) IV. CHẨN ĐOÁN: 1. Chẩn đoán xác định: dựa vào - Lâm sàng: Sốt cao, đau cơ. Liệt nhẽo ngoại vi, không đối xứng, xảy ra đột ngột, giảm phản xạ gân xương và không có rối loạn cảm giác kèm theo. - Xét nghiệm: Phân lập virut từ máu, nhầy họng, phân theo từng thời kỳ bệnh. Phản ứng trung hoà hoặc phản ứng kết hợp bổ thể với hiệu giá kháng thể lần hai cao hơn lần thứ nhất. - Dịch tễ: tuổi dễ mắc bệnh (2-8 tuổi) và có nhiều trẻ trong một tập thể cùng bị tương tự. 2. Chẩn đoán phân biệt: 4.2.1. Thời kỳ tiền liệt: cần phân biệt với:
  2. - Bệnh cúm và nhiễm virut đường hô hấp do virut khác: sốt cao liên tục tới 4-7 ngày, thường có rét, nhiễm độc nặng hơn, đau đầu dữ dội, bệnh diễn biến nhanh trong vòng 7-10 ngày. - Viêm màng não mủ: hội chứng màng não xuất hiện sớm và rầm rộ hơn, dịch não tuỷ đục, tế bào tăng rất cao chủ yếu là bạch cầu đa nhân trung tính, protein cao, glucose giảm. Bạch cầu máu ngoại vi tăng, chủ yếu là N. - Viêm màng não do virut khác: chủ yếu dựa vào tiến triển nhanh của bệnh sau 1-2 tuần. 4.2.2. Thời kỳ liệt: cần phân biệt với hội chứng viêm đa rễ - dây thần kinh (Gullain - Barre) hay gặp ở người lớn, liệt có tính chất đối xứng ở đầu chi, bệnh ít để lại di chứng. V. ĐIỀU TRỊ VÀ DỰ PHÒNG: 1. Điều trị bại liệt thể liệt: 1.1. Nguyên tắc điều trị: - Điều trị toàn diện, kết hợp chặt chẽ điều trị triệu chứng (chống viêm, giảm đau, hồi sức hô hấp, tuần hoàn...) với việc nâng cao sức đề kháng của cơ thể. - Tích cực đề phòng biến chứng và di chứng, tạo mọi điều kiện để bệnh nhân phục hồi chức năng và tâm lý.
  3. 1.2. Giai đoạn tiền liệt: - Bất động bệnh nhân trong 1-2 tuần. - Nếu có sốt cao phải hạ nhiệt, đề phòng co giật bằng cách chườm lạnh hoặc dùng thuốc (Paracetamol, Efferangan, Aspegic). - Giảm đau, an thần: Analgin, Aspirin, Dimedrol (tiêm bắp hoặc uống), Seduxen. - Nếu có phù não: Glucose 30% tiêm, truyền tĩnh mạch kết hợp Magiesulfat, lợi tiểu. - Tiêm bắp thịt gluconat Canxi trong 7-10 ngày. 1.3. Giai đoạn liệt: - Đặt bệnh nhân ở tư thế phòng dị dạng. - Tích cực hồi sức tuần hoàn, hô hấp nếu do tổn thương nặng ở thể hành tuỷ: đặt nằm nghiêng theo tư thế dẫn lưu, hút đờm dãi, thở oxy, hô hấp nhân tạo. Bồi phụ nước, điện giải, trợ tim mạch (Spartein, Coramin) nâng huyết áp (Dopamin...), chống phù não. - Thuốc phục hồi vận động ở các cơ bị liệt: Proserin tiêm bắp dung dịch 0,05% 0,1-0,2 ml/ngày trong 10-15 ngày.
  4. Dibasol 1-5 mg/ngày uống liên tục 20 ngày, kết hợp với Vitamin nhóm B. - Kháng sinh bội nhiễm đường hô hấp và tiết niệu. - Gamma globulin trong 7-10 ngày đầu. - Lý liệu pháp sớm (từ tuần thứ hai của bệnh) ngay sau khi hết sốt vài ngày, không nên để đến khi hết đau vì những bệnh nhân đau nhiều thường teo cơ nhanh. Có thể áp dụng các biện pháp: bó Paraphin, điện phân, xung điện tần số cao... chia làm nhiều đợt, mỗi đợt 10-15 ngày, kéo dài trong 1-2 năm. - Kết hợp thể dục liệu pháp (xoa bóp, vận động tại chỗ... ) với tâm lý liệu pháp. 1.4. Giai đoạn hồi phục và di chứng: - Tích cực nâng cao sức đề kháng của cơ thể. - Tiếp tục các biện pháp lý liệu và thể dục liệu pháp. Cho bệnh nhân tập thể dục nhẹ nhàng, tập đi lại và các cử động khác. - Nếu có di chứng có thể dùng phẫu thuật chỉnh hình để can thiệp. 2. Điều trị bại liệt thể nhẹ: - Giảm đau, an thần, hạ nhiệt.
  5. - Điều trị các rối loạn tiêu hoá. - Tăng cường dinh dưỡng, nâng cao sức đề kháng. - Theo dõi sát để phát hiện tình trạng liệt. 3.Điều trị bại liệt thể không liệt: - Chủ yếu là an thần, giảm đau, chống phù nề não. - Có thể áp dụng lý liệu pháp nếu có biểu hiện co thắt kéo dài ở các bắp cơ và theo dõi trong vòng hai tháng. 4. Dự phòng: Dùng vacxin: - Vacxin bất hoạt Salk là loại vacxin dược chế tạo từ chủng virut bại liệt bị bất hoại bằng Formalin. Loại này dùng đường tiêm, do đó chỉ tạo được kháng thể mà không gây được miễn dịch tại ruột. Hiện nay vacxin Salk chỉ được sử dụng khi vacxin đường uống không có kết quả. - Vacxin sống độc lực Sabin có nhiều ưu điểm hơn: dùng đường uống, gây được miễn dịch lâu bền, chống lại được sự xâm nhập của virut hoang dại (do tạo được miễn dịch tại ruột), đạt hiệu quả 90-100%, giá thành rẻ.
  6. Tất cả trẻ em (nhất là trẻ từ sơ sinh đến 60 tháng) được uống 2 giọt vacxin Sabin 1 lần và hàng năm uống lại. Nhờ có vacxin này mà nhiều nước đã đẩy lùi và thanh toán được bệnh bại liệt. Đó cũng là mục tiêu đến năm 2000 của nước ta.
Đồng bộ tài khoản