BỆNH DO LEISHMANIA ( Leishmaniasis ) (Kỳ 1)

Chia sẻ: Barbie Barbie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
82
lượt xem
11
download

BỆNH DO LEISHMANIA ( Leishmaniasis ) (Kỳ 1)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Leishmaniasis là tên gọi một nhóm bệnh với nhiều biểu hiện lâm sàng khác nhau do một loại ký sinh trùng sống trong tế bào thuộc ngành đơn bào, giống Leishmania gây ra. Bệnh được lây truyền từ động vật sang người, đôi khi từ người sang người bằng loài muỗi cát (Phlebotomus hoặc Lutzomyia). 1.2. Mầm bệnh: Hiện nay, cách phân loại các Leishmania còn chưa thật thống nhất giữa các tài liệu, nhất là các Leishmania gây bệnh ở Nam Mỹ. Tuy vậy, có thể xếp thành bốn loài Leishmania gây bệnh chính cho người.Trong mỗi loài có...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: BỆNH DO LEISHMANIA ( Leishmaniasis ) (Kỳ 1)

  1. BỆNH DO LEISHMANIA ( Leishmaniasis ) (Kỳ 1) 1. ĐẠI CƯƠNG: 1.1. Định nghĩa: Leishmaniasis là tên gọi một nhóm bệnh với nhiều biểu hiện lâm sàng khác nhau do một loại ký sinh trùng sống trong tế bào thuộc ngành đơn bào, giống Leishmania gây ra. Bệnh được lây truyền từ động vật sang người, đôi khi từ người sang người bằng loài muỗi cát (Phlebotomus hoặc Lutzomyia). 1.2. Mầm bệnh: Hiện nay, cách phân loại các Leishmania còn chưa thật thống nhất giữa các tài liệu, nhất là các Leishmania gây bệnh ở Nam Mỹ. Tuy vậy, có thể xếp thành bốn loài Leishmania gây bệnh chính cho người.Trong mỗi loài có nhiều chủng gây bệnh ở các địa phương khác nhau:
  2. - L. donovani, gây Leishmaniasis phủ tạng (còn gọi là bệnh Kala azar). - L. tropicana, gây bệnh Leishmaniasis ngoài da ở "thế giới" cũ (Old world cutaneous Leishmaniasis). - L. mexicana, gây bệnh Leishmaniasis ngoài da ở "thế giới" mới (New world cutaneous Leishmaniasis). - Các Leishmania khác ở Nam Mỹ. Trước đây, các Leishmania này xếp trong tổ hợp của L. braziliensis, hiện nay gọi là L. viannia. Ở trong cơ thể muỗi và ở môi trường nuôi cấy, Leishmania có đuôi và di động dễ dàng, kích thước 1,5-4 x 14-20 mm, hình bầu dục. Khi trong cơ thể vật chủ (động vật có vú và người), thì mất đuôi, sống trong tế bào (nhất là các tế bào đơn nhân), chúng nhỏ lại 2-5 mm và phát triển tại đây. 1.3. Dịch tễ học: 1.3.1. Nguồn bệnh: - Nguồn bệnh chính là động vật có vú (chó, chuột, các loài gậm nhấm...) - Người cũng được coi là nguồn bệnh. 1.3.2. Đường lây truyền:
  3. Lây truyền qua vết đốt củ muỗi cát. Leishmania nhân lên trong ruột muỗi cát khoảng 8-20 ngày sau khi muỗi hút máu động vật và người có KST. Khi muỗi đốt người thì truyền bệnh. Ở người và động vật, Leishmania xâm nhập vào các tế bào đơn nhân, đại thực bào... - Ở những vùng Châu lục cũ (Châu Á, Châu Âu, Châu Phi): do giống muỗi cát Phlebotomus truyền bệnh. - Ở những vùng Châu lục mới (Châu Mỹ) do giống muỗi cát Lutzomyia truyền bệnh. 1.3.3. Đặc điểm dịch tễ, tính cảm thụ và miễn dịch: - Bệnh có ở toàn thế giới, trừ Australia chưa thấy có bệnh. - Mọi người đều có thể nhiễm bệnh. Những bệnh nhân suy giảm miễn dịch (bệnh nhân AIDS) thường dễ nhiễm bệnh và bị thể nặng hoặc từ thể ẩn thành thể có biểu hiện lâm sàng... - Có miễn dịch suốt đời sau khi khỏi bệnh, nhưng chỉ có miễn dịch với loài đã mắc bệnh, không bảo vệ được với những loài khác. 2. LÂM SÀNG LEISHMANIASIS PHỦ TẠNG (BỆNH KALA AZAR):
  4. Lâm sàng bệnh Kala azar giống nhau trên toàn thế giới. Tuy vậy, từng vùng có những khác nhau riêng do các chủng của L. donovani gây ra: - L. (donovani) donovani: gây bệnh ở Trung quốc, vùng Nam Á, Su dan, Kenia, Ethiopia, đôi khi ở Nam Sahara... - L. (donovani) infantum: gây bệnh ở các nước quanh Địa Trung Hải, Bắc Phi, Trung Đông, Nam Âu, Trung và Tây-Nam Á, Trung quốc... - L. (donovani) chagasi: gây bệnh ở Trung và Nam Mỹ. Ngoài ra, một số chủng Leishmania khác gây bệnh da cũng có thể gây bệnh nội tạng như L. tropicana, L. amazonensis... 2.1. Thời kỳ nung bệnh: Thường 2-6 tháng (có thể 10 ngày - 24 tháng). Tại chỗ muỗi đốt nổi lên nốt sẩn nhỏ, rắn, to bằng hạt đậu, mầu hồng nhạt hoặc nâu, không bị loét (khác Leishmaniasis thể da), đôi khi có vẩy trên mặt. Tìm trong nốt sẩn sẽ thấy KST Leishmania. 2.2. Thời kỳ khởi phát:
  5. Khởi phát thường âm ỉ, không rõ. Nhưng có thể thấy mệt mỏi toàn thân, sức khoẻ suy giảm, da tái, chán ăn, sốt nhẹ, lách hơi to. Thời kỳ này chưa có thay đổi về số lợng hồng cầu, bạch cầu; chỉ có tốc độ lắng máu tăng nhẹ. 2.3. Thời kỳ toàn phát: - Sốt: kéo dài, thất thường hoặc thành cơn giống cơn sốt rét (10-20% bệnh nhân có 2 cơn sốt trong 24 giờ). Có thể sốt nhẹ hoặc sốt cao. Tuy nhiên, một số ít bệnh nhân không sốt trong 2-3 tháng đầu (nhất là trẻ em). - Lách to và rắn chắc: là triệu chứng phổ biến nhất. Lách to các chiều, có thể quá rốn hoặc vượt qua đường trắng giữa. Lách to nhưng ít đau, nếu có đau (thường gặp ở người lớn) cũng chỉ đau âm ỉ, bứt rứt ( do vỏ lách căng to nhanh). - Gan to: thường gặp, nhưng không to nhiều bằng lách. 2.4. Thời kỳ suy mòn: - Do lách to, kèm theo đói ăn và giảm trương lực cơ nên da bụng căng mỏng, lách sa, bụng ỏng, người gầy còm, suy kiệt, phù... - Da toàn thân (nhất là ở mặt) có ban sẩn to, nhỏ không đều, thường bằng hạt đậu, ban mầu nâu đỏ, sau thâm đen. Vết thâm đen tồn tại lâu nhiều năm, nên còn gọi là bệnh "hắc nhiệt" (Black fever). Trong nốt sẩn có KST Leishmania. Ban gặp nhiều ở người lớn, ít thấy ở trẻ em.
  6. - Thiếu máu: hồng cầu và huyết cầu tố giảm, bệnh càng nặng và lâu năm càng giảm nhiều. - Bạch cầu giảm, thậm chí chỉ còn vài trăm nghìn/mm3 máu. Bạch cầu đa nhân trung tính (N) giảm rõ, bạch cầu lympho và môno tăng (70-90%) - Tiểu cầu giảm (có khi chỉ còn 40 000-80 000/mm3). Có thể có rối loạn đông máu. - Tốc độ máu lắng tăng cao. - Protid máu giảm, tỷ lệ Albumin giảm, Gamma globulin tăng.
Đồng bộ tài khoản