Bệnh do vi khuẩn Pseudomonas gây bệnh ở động vật thủy sản

Chia sẻ: trungomen

Pseudomonas là vi khuẩn xuất hiện ở mọi nơi trong môi trường. Sự biến dưỡng dễ thay đổi và linh động của chúng làm cho chúng có thể sống ở nhiều môi trường khác nhau như nước, đất, trên cây và trong các động vật. Trong số những loài Pseudomonas này, có những loài tiêu biểu có thể được sử dụng trong công nghệ sinh học.Đặc điểm hình thái học chung cho Pseudomonas là Gram âm, tế bào hình que, di động nhờ roi ở đầu và không có bào tử.Các đặc điểm sinh lí là dị dưỡng, không lên...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Bệnh do vi khuẩn Pseudomonas gây bệnh ở động vật thủy sản

Bệnh do vi khuẩn Pseudomonas gây bệnh ở ĐVTS
Tác nhân gây bệnh:
- Pseudomonas là một giống vi khuẩn thuộc họ Pseudomonadaceae,
- Vi khuẩn gram âm, có dạng hình que, không sinh bào tử,
- Kích thước tế bào khoảng 0,5-1,0 x 1,5-5,0 µ,
- Chuyển động bằng một hoặc nhiều tiên mao.
- Giới hạn nhiệt độ phát triển rất rộng từ 4-430C.
- Chúng phân bố rộng khắp trong môi trường, trong đất và trong
nước
- Gây bệnh cho người, động vật và thực vật.
- Tác nhân gây bệnh ở cá gồm một số loài:
P. fluorescens, P. chlororaphis,
P. anguilliseptica, P. dermoalba, P. putida.
Bệnh do vi khuẩn Pseudomonas gây bệnh ở ĐVTS
 Một số bệnh do Pseudomonas spp
- Pseudomonas có thể gây bệnh xuất huyết ở một số loài cá,
nhưng chủ yếu ở nước ngọt. Bệnh có một số dấu hiệu như:
+ Cục bộ hoặc đại bộ phận da cá xuất huyết,
+ Vẩy rụng rõ nhất là 2 bên thân và phía bụng,
+ Gốc vây lưng hoặc toàn bộ vây lưng đều xuất huyết,
+ Các tia vây rách nát cụt dần.
+ Ruột và nội tạng xuất huyết ,
+ Có thể gây chết hàng loạt cá nếu bệnh ở dạng cấp tính.
Bệnh này thường do:
Pseudomonas fluorescents.
P.puntida .
P.anguilliseptica
Bệnh do vi khuẩn Pseudomonas gây bệnh ở ĐVTS
 Pseudomonas còn có thể gây bệnh trắng đuôi ở cá:
+ Thời kỳ đầu của bệnh, ở vị trí gần đuôi, có một điểm trắng,
+ Vùng trắng lan dần về phía trước cho đến vây lưng và vây hậu môn làm
phần thân sau màu trắng.
+ Bệnh nặng cá cắm đầu xuống dưới, đuôi hướng lên trên tạo thành vuông
góc với mặt nước, còn gọi là cá "trồng cây chuối", cá bệnh chết nhanh chóng và
hàng loạt, trước khi chết có hiện tượng co giật.
+ Bệnh này do loài vi khuẩn Pseudomonas dermoalba.
 Pseudomonas spp gây ra bệnh lở loét, hoại tử ở baba, ếch:
+ Xuất hiện các vết loét ở chân và mặt bụng của ếch và baba,
+ Vết loét còn tồn tạI ở vùng xung quanh mai của baba,
+ Thân baba bị mềm nhũn, khi bị lật ngửa không lật úp lạI được.
+ Gan, phổi, thận có màu đen. Baba bị bệnh có thể chết 30-100 %.
 Gây bệnh bệnh đốm nâu ở tôm càng xanh cùng với vi khuẩn Aeromonas
Bệnh do vi khuẩn Pseudomonas gây bệnh ở ĐVTS
 Các loài ĐVTS có thể bị bệnh:
- Một số loài cá nước ngọt:
+ Cá trắm cỏ: (Ctenopharyngodon idellus),
+ Cá chép (Cyprinus carpio),
+ Cá chình nhật bản (Angulla japonica),
+ Cá chình châu Âu (Anguilla anguilla).
+ Cá Tai tượng
+ Cá mè trắng, cá trê
- Một số càng nước ngọt như tôm càng xanh
- Một số đặc sản nước ngọt: Baba, ếch, cá sấu…
 Mùa vụ bệnh: Bệnh xuất hiện quanh năm kể cả mùa đông nhiệt độ
lạnh và mùa hè nóng nực.
 Phân bố địa lý: Trung Quốc, Nhật Bản, Châu Âu, Thái Lan, Indonesia
và Việt Nam.
 Điều kiện bệnh: Khi cá trải qua điều kiện vận chuyển đường dài
Bệnh do vi khuẩn Pseudomonas gây bệnh ở
ĐVTS

- Các biện pháp phòng trị bệnh do
Pseudomonas spp tương tự như
bệnh do Aeromonas spp




Cá bị bệnh trắng đuôi do Pseudomonas
dermoalba
Bệnh do vi khuẩn Edwardsiella ở cá

 Tác nhân gây bệnh:
- Edwardsiella thuộc họ Enterobacteriaceae.
- Vi khuẩn này có một số đặc điểm:
+ Dạng hình que mảnh, gram âm,
+ Kích thước 1 x 2-3 µ m, không sinh bào tử,
+ Chuyển động nhờ vành tiêm mao.
- Thường gặp hai loài: E. tarda và E. ictaluri.
- Vi khuẩn này gây bệnh ở các loài cá nước ấm
Bệnh do vi khuẩn Edwardsiella ở cá
 Dấu hiệu bệnh lý:
-Cá bệnh tỏa ra mùi hôi thối do mô bị
hoại tử.
- Gan tụy, thận xung huyết phù nề bởi
các vết hoại tử.
- Cá bệnh thể hiện kém ăn hoặc bỏ ăn,
gầy yếu, bụng thường chướng to,
xung quanh miệng và gốc vây có các
đám xuất huyết, mắt cá bị lồi.
- Một số cơ quan nội tạng như gan, lá
lạch, thận bị hoại tử, tạo thành
những đốm màu trắng đục đường
kính 0,5-2,5mm, nên bệnh này còn
gọi là “bệnh đốm trắng”hay "bệnh
Cá Tra nuôi tại ĐBSCL bị bệnh hoại hoại tử nội tạng "
tử nội tạng do Edwardsiella ictaluri
Bệnh do vi khuẩn Edwardsiella ở cá
Sự hoạI tử nộI tạng
thể hiện sự phù nề
của gan, tụy và
thận, sự xuất hiện
các đốm trắng đục
trong các cơ quan
nộI tạng, có mùi hôi
thối



Gan cá tra bị bệnh hoạI tử nộI tạng
vớI nhiều đốm trắng nhỏ trắng gan
Bệnh do vi khuẩn Edwardsiella ở cá
 Đặc điểm phân bố của bệnh:
- Vi khuẩn Edwardsiella spp thường gây bệnh ở các loài ca nước ấm:
cá trê sông (Ictalurus punctata);
cá hồi (Oncorhynchus ishawytscha);
cá chép (Cyprinus carpio);
Cá chình Nhật Bản (Anguilla japonica);
cá bơn N hật (Paralichthys olivaceus);
cá đối mục (Mugil cephalus);
cá rô phi (Tilapia nilotica);
các loài cá trê (Clarias spp)
- Một số động vật khác : Rắn, cá sấu, bò sát, lưỡng cư...
- Ở Việt Nam, đã phân lập được E. tarda từ cá trê đen, trên vàng và E.
ictaluri từ cá tra, giống và cá thịt. Bệnh gây từ 60-70%, có trường hợp tới
100%.
- Bệnh xuất hiện vào mùa có nhiệt độ ấp áp, trong ao nuôi mật độ cao,
chất lượng nước xấu và trong nuôi cá lồng bè.
Bệnh do vi khuẩn Streptococcus ở cá.
Tác nhân gây bệnh
- Streptococcus spp có dạng
hình cầu hoặc hình ovan,
đường kính 350C và < 150C
- Khuẩn lạc mầu vàng ánh
Bệnh thối mang ở cá
 Dấu hiệu bệnh lý
- Cá bệnh thể hiện dấu hiệu bơi
tách đàn, chậm chạm trên mặt
nước,
- Bắt mồi giảm hoặc không bắt mồi.
- Da cá chuyển dần sang mầu đen,
- Bề mặt xương nắp mang xuất
huyết, ăn mòn có hình dạng không
bình thường.
- Các tơ mang thối nát, có dính bùn,
- Vi khuẩn Myxococcus piscicola có
men Protease để phân giải tế bào,
do đó các mô tế bào nhanh chóng
thối rữa.
Bệnh thối mang ở cá
 Phân bố và lan truyền bệnh:  Phương pháp phòng trị:
-
- Bệnh thường gặp ở nhiều loài Để phòng bệnh: cần làm tốt khâu
tẩy dọn ao trước một vụ nuôi.
cá nước ngọt: cá trắm cỏ, trắm Quản lý tốt để chông ô nhiễm hữu
đen, cá chép, mè hoa. cơ, thường xuyên thay nước để
- Bệnh xuất hiện vào mùa xuân, giữ môi trường trong sạch.
đầu hè, mùa thu, thích hợp ở - Trong lồng bè cần đảm bảo lưu
tốc dòng chảy cho phù hợp,
nhiệt độ nước 25-350C.
thường xuyên vệ sinh thành lồng,
- Bệnh xảy hay xảy ra ở cá nuôi có thể treo các túi thuốc sát trùng ở
lồng bè mật độ cao, nước lưu các góc bè,
thông kém, ở cá nuôi ao có - Để trị bệnh trộn kháng sinh vào
nhiều mùn bã hữu cơ. Ngư dân thức ăn cho cá ăn trong 5-7 ngày và
phun Ca(OCl)2 xuống ao với nồng
gọi là ” bệnh mang đóng bùn”.
độ 1 ppm
Erythromycine 4 g /100 kg cá/ ngày
Oxytetracycine 20-40 mg/kgcá/
ngày
Bệnh đục cơ của tôm càng xanh

Dầu hiệu bệnh lý
- Tôm kém ăn, hoạt động chậm
- Đầu tiên cơ phần đuôi chuyển
màu trắng đục,
- Sau lan dần lên phía đầu
ngực, tôm bệnh nặng mang
chuyển màu trắng đục, vỏ tôm
mềm,
- khi luộc chín mầu hồng nhợt
nhạt, mất đi sắc tố đỏ của
những con tôm khỏe mạnh.
- Tôm bị bệnh này có tỷ lệ
chết cao.
Bệnh đục cơ của tôm càng xanh

 Tác nhân gây bệnh:
- Là cầu khuẩn:
Lactococcus garvieae
Enterococcus seriolicida
-Là các vi khuẩn gram (+),
có dạng hình cầu hay
hình trứng.
- Vi khuẩn phát triển ở
nhiệt độ 10-400C, độ
muối thích hợp 0,5-6,0
%o, pH 9,6
Bệnh đục cơ của tôm càng xanh

 Phòng bệnh: Phân bố và lan truyền bệnh
- Bệnh đã xảy ra ở tôm càng
- Quản lý môi trường
xanh (Macrobrachium
- Dùng vitamin C:2-3g/kg TĂ
rosenbergii)
 Trị bệnh:
- Xảy ra ở Trung Quốc, Đài
Dùng kháng sinh trộn vào thức
Loan, tỷ lệ nhiễm bệnh từ 30-
ăn tôm để trị bệnh, nếu nhiều
75%.
tôm trong ao, bể còn bắt mồi:
- Ở Việt Nam bệnh đục cơ đã
- Ciprofloxancin liều lượng
xuất hiện tạI Thanh Trì, Hà
100mg/1kg Nội, Hải Phòng nhập từ Trung
Quốc
BỆNH NẤM Ở ĐỘNG VẬT THỦY SẢN
 Đặc điểm chung của nấm:
Ngành nấm (Eumycophyta):
- Là thực vật bậc thấp, không có diệp lục tố, không th ể t ự
dưỡng,
- Phương thức sống hoại sinh, cộng sinh hoặc ký sinh trên ĐV
và TV.
- Gây bệnh ở ĐVTS thường là các nấm thể sợi,gọi là khuẩn ty
Ký sinh gây bệnh ở ĐVTS có hai loại:
+ Loại có dạng sợi đa bào, nhưng giữa các tế bào không
có vách ngăn, gọi là nấm bậc thấp, đại diện là các giống
Lagenidium, Saprolegnia, Achlya...
+ Loại khác giữa các tế bào có vách ngăn, gọi là nấm bậc
cao, đại diện là nấm Fusarrium
Bệnh nấm hạt Dermocystidiosis

Tác nhân gây bệnh
Dermocystidium spp, gồm nhièu loài:
- Dermocystidium koi, ký sinh cá chép,có bào
tử hình cầu, đường kính 8-12 µm.

- Dermocystidium kwangtungensis, ký
sinh ở cá lóc- Ophiocephalus
maculatus: Thể dinh dưỡng hình sợi
mảnh rất dài. Cắt ngang có dạng hình
tròn, bên trong chứa nhiều bào tử
dạng hình cầu, có điểm sáng lệch về
một bên, đường kính 5,8 µm (2,9-
7,4µm)

Dermocystidium sinensis ký sinh ở cá
-
trắm, thể dinh dưỡng có dạng hình
cầu, đường kính 9-17µm, trong tế bào
chất có nhiều hạt nhỏ. Bào tử hình
cầu, đường kính 13,8 µm (11,6-
16,2µm), bên trong có thể hình cầu
sáng lệch về một bên,
Bệnh nấm hạt Dermocystidiosis
Bệnh nấm hạt Dermocystidiosis
 Chẩn đoán bệnh:
• Dựa dấu hiệu bệnh lý,
• Lấy mẫu soi tươi dưới kính hiển vi, nhuộm Giemsa,
Hematoxylin & Eosin rồi kiểm tra dưới kính hiển vi.
• Dùng phương pháp mô bệnh học để chẩn đoán
• Nuôi cấy phân lập nấm hạt trên cấc môi trường n ấm.
• Cũng có thể dùng phương pháp kính hiển vi điện t ử
(TEM) để chẩn đoán và nghiên cứu nấm này.
 Phòng trị bệnh:
- Dùng thuốc tím (KMnO4) 10-20 ppm,
- Xanh malachite 1-2 ppm tắm cho cá giống để phòng
bệnh trước khi nuôi.
- Nếu cá bị bệnh cũng tắm cho cá bằng các thu ốc trên
với liều dùng giống như bệnh nấm thủy my.
Hội chứng lở loét ở cá
(The Epizootic Ulcerative Syndrome of físh-EUS
 Những dấu hiệu chính:
- cá ít ăn hoặc bỏ ăn, chậm chạp,
khi bơi thường nhô cao cái đầu
lên trên mặt nước.
- Da cá sẫm lại, có vết mòn màu
xám hoặc các đốm đỏ phát triển ở
đầu, thân, các vây .
- Những vết hoại tử dần dần lan
rộng và sâu thành những vết loét,
vẩy rụng, xuất huyết và viêm, có
thể để lộ ra những nội quan của
cá bệnh.
- Giải phẫu các cơ quan nội tạng
cho thấy tình trạng rất bình
thường, hầu như bệnh EUS
không thể hiện dấu hiệu biến đổi
bên trong nội tạng.
- Bệnh có thể gây chết dữ dội ở
một số loài cá có tính nhạy cảm
cao với loại EUS như cá lóc đen
(Ophiocephalus striatus)
các giống nấm bậc thấp hay các
-
Hội chứng lở loét ở cá
(The Epizootic Ulcerative Syndrome of físh-EUS)




Cá tai tượng bị bệnh lở loét Cá lóc bị bệnh lở loét và có nhiều
nấm bậc thấp ký sinh tại vùng
loét
Hội chứng lở loét ở cá
(The Epizootic Ulcerative Syndrome of físh-EUS)
 Tác nhân gây bệnh:
- Virus:
+ Rhabdovirus hình que, có acid
nucleic là ARN có tên là ở gan cá
lóc, cá trê (Wattana vijarn, 984),
+,Binavirus từ cá bống tượng và
cá lóc (Hedrick, 1986).
- Vi khuẩn:
Vibrrio annguillarum trên cá nước
mặn và Aeromonas hydrrophila,
pseudomonas sp trên cá nước
ngọt bị EUS.
- Các loại ký sinh trùng: Monogenea,
Protozoa, Crustacae .
- Một số giống nấm bậc thấp như Aphanomyces spp phân lập được
Aphanomyces spp, Saprolegnia. từ mẫu cơ cá bị bệnh EUS
spp và Achlya
Hội chứng lở loét ở cá
(The Epizootic Ulcerative Syndrome of físh-EUS)

 Đặc điểm lây lan:
 Phân bố của bệnh EUS:
- Thông báo lần đàu tiên tại Úc vào tháng
- Chủ yếu theo dòng nước và sự di
3/1972,
chuyển của cá mang mầm bệnh.
- Theo Frerich,1988 cho biết có trên 110 - Cá bị các vết thương tổn trên cơ
loài cá bị nhiễm bệnh lở loét, trong đó thể do tác nhân cơ học hay do ký
một số có tính nhạy cảm cao như: Giống
sinh trùng.
cá lóc- Ophiocephalus spp, đặc biệt là cá
lóc đen (Ophiocephalus striatus); cá trôi - Kết quả nghiên cứu ở Úc và
Philippine cho thấy, sự bùng phát
(Cirrhina mrigala); các loài cá trê (Clarias
spp); ở cá nước lợ có loài cá đối (Mugil của EUS đã liên quan tới pH thấp,
cephalus) và cá diếc (Carassius auratus). nhiệt độ thấp kéo dài và sự tồn
tại của các loài cá nhậy cảm và
- Đến năm 1985, rất nhiều quốc gia sự có mặt của nấm Aphanomyces
trong khu vực đã có thông báo về invadans.
bệnh này: Malaysia, Indonesia, - Một số nghiên cứu khác lại cho
Thailan, Philippine, lào, rằng, EUS bùng phát liên quan tới
Campuchian, Srilanca, Bangladesh, sự cảm nhiễm của virus
Ấn độ, Pakistan và Việt nam. Rhabdovirus và các yếu tố môi
trường khác.
- Tại Việt nam, Bệnh xuất hiện lần
đầu năm 1980-1981, tại khu vực
bình trị thiên
Hội chứng lở loét ở cá
(The Epizootic Ulcerative Syndrome of físh-EUS
- Phơi khô đáy ao và dùng vôi nung
 Phương pháp chẩn đoán:
(CaO) để tẩy dọn ao trước mỗi vụ nuôi
Dựa vào dấu hiệu bệnh lý như là một thao tác cần thiết.
-
đã mô tả. - Rắc vôi nung (CaO) với nồng độ 20
ppm, hai tuần rắc một lần. Hoặc dùng
- Kiểm tra nhanh mẫu mô cá bệnh
chlorine Ca(OCl)2 với liều lượng 1ppm
để phát hiện sự hiện diện của
Aphanomyces invadans. Đàn cá giống trước khi thả cần được
-
tắm bằng NaCl 2-3% trong 5-15 phút
- Dùng phương pháp mô bệnh học
Tránh các thương tổn do tác động cơ
để phát hiện các khuẩn ty của học trên cơ thể cá.
nấm và sự biến đổi mô bệnh học
Các nguồn nước cấp cho ao phải khử
-
đặc trưng. trùng, duy trì môi trường nuôi có chất
- Dùng phương pháp phân lập lượng tốt.
nấm trên MT. Czapec Dox agar Vào mùa bệnh, nên bổ sung thành
-
(CDA) ở nhiệt độ 200C phần vitamin C vào thức ăn cho cá, để
tăng khả năng đề kháng .
 Phòng và trị bệnh.
Các ao đã bị nhiễm bệnh cần cách ly
-
- Phòng và trị bệnh EUS cho đàn cá tự
và tiệt trùng nước ao trước khi xả bỏ
nhiên là không thực hiện được.
ra môi trường để tránh sự lây lan
- Lựa chọn để nuôi các loài cá có khả
năng kháng với bệnh EUS cao là
biện pháp hiệu quả nhất để quản lý
bệnh.
Bệnh nấm thuỷ my ở cá và trứng cá




Dấu hiệu bên ngoài của cá và trứng cá
bị bệnh nấm thủy my
Bệnh nấm thuỷ my ở cá và trứng cá




Giống nấm Saprolergnia Giống nấm Achlya
Bệnh nấm thuỷ my ở cá và trứng cá

 Phân bố và lan truyền.  Phòng bệnh cho cá
- Rất nhiều loài cá nước ngọt bị + Thực hiện kỹ thuật tẩy dọn ao
trước mỗi vụ nuôi
bệnh này...
- + Nuôi cá với mật độ thích hợp và
Trứng của cá nước ngọt, đặc biệt
là các loại trứng dính: Trứng cá tránh những tác động cơ học
hoặc do ký sinh trùng
chép, cá tra, cá Basa…
- + Về mùa đông cần quan tâm tới dinh
Bệnh xuất hiện nhiều khi nhiệt độ
dưỡng để cá chống rét và duy trì
nước thấp váo đầu mùa xuân, khi
sức đề kháng. Cần duy trì và ổn
nhiệt độ 18-250c.
định nhiệt độ trong ao bằng nhiều
- Bệnh phát triển ở ao nuôi, bể ấp cách: chuyển cá vào ao có độ sâu
có nhiều mùn bã hữu cơ, nước tù lớn, phủ bèo tây trên 2/3 mặt ao.
bẩn + Định kỳ phun xuống ao thuốc
phòng nấm cho cá: malachite
green(MG) 0,1-0,2 ppm.
+ Sát trùng cá bố mẹ bằng các loại
thuốc sát trùng bôi lên các vết
thương để phòng sự phát triển
của nấm: Cồn iod bão hòa, thuốc
tím 1%, MG 1%.
Bệnh nấm thuỷ my ở cá và trứng cá
 Phòng bệnh cho trứng cá.  Phương pháp trị bệnh:
vỗ cá bố mẹ có chất lượng tưyến + Đối với cá bệnh, có thể dùng một
+ Nuôi
sinh dục tốt. số hóa chất để trị bệnh nấm
thủy my: Methylen 2-3ppm, MG
+ Cho cá đẻ với tỷ lệ đực cái phù hợp
để tỷ lệ thụ tinh là cao nhất, 0,15-0,2 ppm và lặp lại 2 lần
trong 1 tuần.
+ Chọn ngày cho cá đẻ có nhiệt độ
thích hợp, + Đối với trứng cá, khi bệnh mới
+ Trong quá trình ấp trứng, phải thường xuất hiện, dùng thuốc kịp thời
xuyên vệ sinh mạng tràn để nước cũng chỉ cứu được những trứng
lưu thông tốt. còn khỏe,
+ Đối với loại trứng dính như trứng cá chép:
+ Thường dùng các loại hóa chất
- Lựa chọn và sát trùng giá: ngâm giá
sau: NaCl 2-3%, MG 0,15-2ppm,
thể có trứng trong NaCl 2%, MG 0,5-
Methylen 2-3ppm, formol 1/500-
0,7ppm trong 10-15 phút. 1-2lần/
1/1000 tắm cho trứng trong thời
ngày.
gian 5-15 phút, tắm 2 lần/ngày.
- Áp dụng phương pháp ấp khô,
+ Nước Oxy già ở nồng độ 250, 500
- Khử dính và ấp bằng bình vây để
và 1000 µg/ ml tắm trong 60
hạn chế tác hại của nấm thủy my.
phút có kết quả tốt.
- Trong bể ấp trứng cá chép, phun
vào bể MG nồng độ 0,1-0,15 ppm,
sau 6- 8 h lặp lại.
Bệnh nấm ấu trùng ở giáp xác
 Tác nhân gây bệnh.
- Gây bệnh nấm ở ấu trùng của giáp xác hầu hết thuộc về nấm bậc thấp:
Lagenidium spp;
Sirolpidium spp;
Halipthoros spp.
• Các giống nấm nói trên đều có dạng khuẩn ty, phân nhánh ít hoăc nhiều,
sinh sản vô tính bằng các bào tử.
Bệnh nấm ấu trùng ở giáp xác
 Dấu hiệu chính:
- Ấu trùng tôm he (Penaeus spp) bị
bệnh thường có một số dấu hiệu:
bỏ ăn đột ngột, đứt đuôi phân, có
màu trắng, khó lột xác và có thể gây
chết hàng loạt, đặc biệt ở các giai
đoạn tiền ấu trùng (zoae, mysis).
- Ấu trùng ghẹ (Portunus spp) và cua
biển (Scylla spp) khi bị bệnh nấm:
giai đoạn zoae thay đổi màu sắc, từ
màu trong sáng bình thường, sang
màu trắng. Khi quan sát trực tiếp
phát hiện thấy hệ sợi nấm không có
vách ngăn phân nhánh chằng chịt
trong cơ thể zoae. Hiện tượng chết
dữ dội có thể tới 100% .
- Khi ký sinh trên trứng ghẹ, làm trứng
chết chuyển sang màu nâu, hệ sợi
nấm xuất hiện trên bề mặt ngoài
của trứng và các túi bào tử động đã
hình thành ở bên ngoài các ống
phóng
Bệnh nấm ấu trùng ở giáp xác
Phân bố của bệnh:
-Ký chủ: tôm he (Penaeus spp), cua
(Scylla spp) va ghẹ (Portunus spp),
tôm hùm (Panulirus spp, Hormarus
spp), cua xanh (Callinectes spp)
-Giai đoạn phát triển của ký chủ:
Giai đoạn tiền ấu trùng của giáp xác
thường bị nhiễm rất nặng (Zoae,
Mysis), giai đoạn Postlarvae có thể
nhiễm nhưng nhẹ hơn
- Địa lý: Gặp ở mọi nơi trên thế
giới
- Bệnh thường xảy ra ở bể ấp dùng
- Mùa vụ: Có thể phát triển quanh nhiều kháng sinh và có mật độ
năm, nhưng bệnh hay xảy ra ở mùa ương ấp cao, độ ô nhiễm hữu cơ
có nhiệt độ thấp. cao.
Bệnh nấm ấu trùng ở giáp xác




Ấu trùng của ghẹ (Portunus
Ấu trùng của cua(Scylla sp)
sp) bị bệnh nấm ấu trùng
bị bệnh nấm ấu trùng
Bệnh nấm ấu trùng ở giáp xác
 Phương pháp chẩn đoán:  Phương pháp phòng bênh trị:
- Tắm cho tôm mẹ bằng formol
- Dựa vào dấu hiệu bệnh lý
50-100 ppm trong 10-30 phút,
- Dựa vào phương pháp kiểm tra
malachite green 0,05-0,1 ppm,
nhanh bằng kính hiển vi ở độ
- Rửa Nauplius bằng hóa chất:
phóng đại ≥ 100x.
Formol 100-150 ppm trong 30
- Có thể nghiên cứu bệnh nấm này
giây
bằng phương pháp vi sinh vật
- Hạn chế hiện tượng lạm dụng
học, nuôi cấy và phân lập nấm
kháng sinh trong các bể ấp ấu
trên môi trường PYGS Agar
trùng giáp xác
(Peptone-yeast- Glucose Agar
- Để trị bệnh dùng Malachite
trong nước biển) hay PYGS
Broth, nếu dùng nước cất để pha Green 0,005-0,01 ppm, Treplan
chế cần bổ sung với 20%o NaCl 0,05-0,1 ppm...phun vào bể ấp
và kháng sinh (Penicillin, sẽ có hiệu quả trị bệnh.
streptomycin, gentamycin...) để
kìm hãm sự phát triển của vi
khuẩn trên môi trường nuôi cấy.
Bệnh nấm ở giáp xác trưởng thành

 Tác nhân gây bệnh:
Giống nấm bậc cao Fusarium
spp
- Sợi nấm có vách ngăn
- Không có túi bào tử
- Sinh sản bằng bào tử đính
(Conidia) có dạng hình thuyền,
hình quả chuối.
- Có thể tiết sắc tố nâu, vàng
hay cam vào môi trường nuôi
cấy.
Bệnh nấm ở giáp xác trưởng thành
 Dấu hiệu chính:
- Mang tôm thay đổi từ màu
trắng sang màu đen,
- Xuất hiện các điểm đen trên
mang, vỏ kitin, trên các phần
phụ như chân bơi, chân bò,
râu..., tại vị trí đó, vỏ ki tin
không bị ăn mòn (đây là điểm
khác nhau cơ bản giữa bệnh
nhiễm khuẩn và bệnh nhiễm
nấm),
- Dưới các điểm đen đó, mô cơ
của giáp xác bị thương tổn,
sắc tố melanin xuất hiện-đây
là sản phẩm của cơ chế miễn
dịch tự nhiên ở giáp xác.
Bệnh nấm ở giáp xác trưởng thành
 Đặc điểm phân bố: Rất nhiều  Giai đoạn phát triển của giáp xác
giáp xác nuôi bị nhiễm bệnh này: khi bị bệnh này:
• Fusarium solani gây bệnh trên Thường là giai đoạn tôm trưởng
tôm he (Penaeus spp), tôm hùm thành trong các ao nuôi giáp xác
thương phẩm.
(Homarus spp; Panulirus spp), cua
xanh (Callinectes spp)  Điều kiện bùng phát của bệnh:
• F. brabchialis ký sinh trên tôm - F.solani và F. moniliforme phân lập
hùm (Palinurus vulgalis; Homarus được từ tôm he Nhật Bản phát triển
gammarus); tốt ở nhiệt độ 25-300C.
• F. tabacmum ký sinh trên tôm - Fusarium spp phát triển trong điều
sông (Cherax spp và Euastacus kiện ao nuôi hay lồng nuôi có sự ô
spp); nhiễm hữu cơ.
• F.oxysporum, F. tricinctum và F. - Tác nhân hay xâm nhập vào thời kỳ
graminaerum gây bệnh ở tôm he giáp xác nuôi lột xác
Trung Quốc > Ở Việt Nam: Từ tôm sú, cua biển và
• F. moniliform được phân lập từ tôm hùm bị đen mang chúng ta đã
tôm he Nhật Bản (P.japonicus) bị phân lập được một số loài của
đen mang (K. Hatai). Fusarrium
Bệnh nấm ở giáp xác trưởng thành
 Phương pháp chẩn đoán  Phương pháp phòng trị bệnh:
-
• Dựa vào dấu hiệu bệnh lý như đã Hatai, 1974 đã thử nghiệm 40 loại hóa
mô tả ở trên để chẩn đoán. dược khác nhau trong điều kiện thí
nghiệm và đã tìm ra một số có hiệu
quả tiêu diệt Fusarium, nhưng áp
• Cần quan sát mẫu mô ép tươi dụng vào thực tế lại ít có hiệu quả.
bằng kính hiển vi quang học để
phát hiện các khuẩn ty và
Microconidia và Macroconidia đặc - Lightner, 1979 cũng đã thử 21 loại hóa
thù của nấm Fusarium. dược để chống lại nấm trong thí
nghiệm và đã xác định được 1 số hợp
chất có hiệu quả diệt Fusarium, nhưng
• Có thể phân lập bệnh phẩm trên vẫn chưa được ứng dụng vào thực tế.
môi trường Sabouraud Dextrose
Agar (SDA) hay PDA (Potato
-
Dextrosse Agar), khuẩn lạc của Yu, 1989; Hong, 1988, dùng chất
Mycostatin có thể làm giảm tỷ lệ chết
nấm thường tiết sắc tố vàng cam
hay vàng nâu vào môi trường nuôi ở các giai đoạn sớm, ngoài ra cần loại
bỏ các con bị bệnh ra khỏi quần đàn
cấy và sau vài ngày, bắt đầu hình
thành các bào tử đính hình cũng là giải pháp cần thực hiện
thuyền đặc thu.

Tài Liệu Ngư nghiệp Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản