Bệnh khuyết tật MPS

Chia sẻ: Mi Sa | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
82
lượt xem
19
download

Bệnh khuyết tật MPS

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đây là bệnh tương đối hiếm mà chưa có tài liệu nào bằng Việt ngữ nên Nhóm Tương Trợ thân ái gửi bài dưới đây tới bạn đọc, chúng ta nên tìm hiểu để hoặc có thêm kiến thức mà lo cho con, hoặc để thông cảm với trẻ và cha mẹ. Biến chứng của bệnh làm trẻ có hình dạng khác thường, khiến cả trẻ và cha mẹ gia đình rất cần sự hiểu biết của mọi người để việc chung sống trong cộng đồng được thoải mái cho cả đôi bên....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bệnh khuyết tật MPS

  1. Bệnh Khuyết Tật MPS (Mucopolysaccharides) - Hội Chứng Hurler Ts Võ Nguyễn Tinh Vân Đây là bệnh tương đối hiếm mà chưa có tài liệu nào bằng Việt ngữ nên Nhóm Tương Trợ thân ái gửi bài dưới đây tới bạn đọc, chúng ta nên tìm hiểu để hoặc có thêm kiến thức mà lo cho con, hoặc để thông cảm với trẻ và cha mẹ. Biến chứng của bệnh làm trẻ có hình dạng khác thường, khiến cả trẻ và cha mẹ gia đình rất cần sự hiểu biết của mọi người để việc chung sống trong cộng đồng được thoải mái cho cả đôi bên. MPS là tên chung chỉ những bệnh gây ra do việc cơ thể không phân giải được chất mucopolysaccharides (MPS) thành những chất khác vô hại cho cơ thể. Chất MPS vì vậy không tan biến mà chất chứa lại trong tế bào, khi tích tụ lên tới mức nào đó sinh ra nhiều rối loạn về cả tâm thần và thể chất. MPS có dạng là chuỗi phân tử lớn và dài, nó được dùng để tạo mô liên kết trong cơ thể, có tính trơn, sánh như thạch. Hiện nay không có cách hay thuốc nào chữa hết những bệnh này, tuy nhiên có trị liệu cho các triệu chứng của bệnh. Hiệu quả việc chữa trị tùy thuộc rất nhiều vào việc tìm ra bệnh lúc sớm sủa, vì vậy điều quan trọng là cha mẹ và chuyên viên y khoa có hiểu biết về bệnh. Bài dùng chi tiết trong trang web của các hội MPS trên internet, xin bạn vào xem để lấy thông tin hữu ích. Địa chỉ của trang web hội tại Úc và Hoa Kỳ là: www.mpssociety.org.au Cơ Chế Tế bào trong người khi hoạt động sẽ thải ra một số hoá chất trong đó có MPS, các chất này cần được phân giải, tiêu tán giống như rác thải ra trong nhà mỗi ngày phải mang bỏ đi mà không để lại chất chứa làm chật nhà. Diễn biến hóa học làm tiêu trừ chúng đòi hỏi có những tác nhân trung gian gọi là diếu tố hay phân hoá tố (enzyme), vai trò của diếu tố là như cái kéo, cắt chuỗi phân tử dài MPS thành những chất nhỏ hơn để tế bào tái sử dụng. Khi thiếu một trong số các phân hóa tố cần thiết thì diễn trình không hoàn tất, phân tử lớn MPS không được tiêu huỷ mà sẽ tích tụ lại trong tất cả tế bào của cơ thể làm sinh hoạt bình thường bị hư hại, lâu ngày mức tích tụ gia tăng dẫn đến việc thay đổi diện mạo, ảnh hưởng đến sự phát triển và hoạt động của những bộ phận trong người. Em bé mới sinh ra không lộ dấu hiệu nào về bệnh, nhưng khi em lớn dần chất thải tích tụ càng lúc càng nhiều, làm hư hại các tế bào thì triệu chứng bắt đầu xuất hiện. Bệnh sẽ tăng theo thời gian, gây ra nhiều vấn đề khi trẻ tăng trưởng. Ảnh hưởng thay đổi tùy theo loại bệnh, có người có triệu chứng nhẹ, người khác có hình dạng biến đổi như gù lưng, cong xương sống. Trong đa số trường hợp trẻ bị chậm lớn, và có loại bệnh gây ra chậm phát triển trí năng lẫn khuyết tật thể chất. Loại khác gây trì trệ nặng về tâm trí cũng có thể khiến trẻ chết sớm. Nguyên Do Bệnh sinh ra do di truyền tử (gene) có tính liệt (recessive), nó có nghĩa người ta không nhất thiết phải lộ ra triệu chứng khi có di truyền tử này, mà có người lộ ra triệu chứng và có người mang mầm bệnh nhưng không lộ ra gọi là carrier. Nam và nữ đều có thể là người mang mầm bệnh và có thể truyền bệnh sang cho con, riêng bệnh Hunter thì chỉ có người nữ là mang mầm bệnh mà không lộ triệu chứng. Tỉ lệ trẻ sinh ra có bệnh nói tổng quát là 1: 26.000 nhưng nó thay đổi tùy theo loại bệnh. Hurler: có tỉ lệ 1:115.000 Hunter: 1:166.000 Sanfilippo: 1:89.000 Morquio: 1:220.000
  2. Khi cả hai người nam và nữ mang mầm bệnh (carrier) thành hôn với nhau (điều này thường rất hiếm) thì mỗi lần mang thai, tỉ lệ để bào thai mắc bệnh MPS là 1/4. Trẻ nào không lộ triệu chứng mà anh chị em của trẻ có bệnh thì có tỉ lệ là 2/3 sẽ mang mầm bệnh. Đối với bệnh Hunter nếu người cha có bệnh thì khi sinh con, con gái là người mang mầm bệnh và thường không lộ triệu chứng, còn con trai hoặc bình thường (không mang mầm bệnh) hoặc lộ ra triệu chứng. Nếu bạn sinh con có MPS thì có thể làm thử nghiệm trong những lần mang thai về sau để xem bào thai có bệnh hay không. Có hai cách thử nghiệm là thử nước nhau (Amniocentesis) trong khoảng 14 - 17 tuần mang thai, hay thử tế bào màng nhau (Chorionic villus samples) trong khoảng 8-10 tuần. Cũng có thử nghiệm để tìm xem người ta có mang mầm bệnh hay không, bạn có thể hỏi bác sĩ, trung tâm về di truyền học hay hội MPS để biết thêm chi tiết. Phân Loại Có nhiều loại bệnh MPS, năm loại thông thường nhất được liệt kê dưới đây, chúng được đặt theo tên của bác sĩ có mô tả đầu tiên về bệnh. MPS I: Bệnh Hurler, còn gọi là hội chứng Hurler. MPS II: Bệnh Hunter, hội chứng Hunter. MPS III: Bệnh Sanfilippo, hội chứng Sanfilippo MPS IV: Bệnh Morquio, hội chứng Morquio MPS VI: Bệnh Maroteaux Lamy, hội chứng Maroteaux-Lamy. Bệnh MPS V về sau được thấy là một biến thể của MPS I nên thường không được đề cập tới. Mỗi loại bệnh gây ra do thiếu một diếu tố (enzyme) đặc biệt trong chuỗi phản ứng hóa học phân giải chất MPS. Triệu Chứng Người có bệnh lộ ra các triệu chứng và bệnh với mức độ nặng nhẹ khác nhau. Bệnh sẽ ngày càng tăng và gây ảnh hưởng cho tim, xương, khớp, bộ hô hấp, não bộ, sinh ra chậm phát triển trí năng, mắt mờ, thấp người, khớp cứng, nghe và nói khó, tuổi thọ giảm. Bệnh nặng thì khả năng đi, nói, nghe từ từ mất đi khi trẻ lớn. Chữa Trị Vào lúc này người ta chưa tìm ra cách nào để chữa bệnh MPS, vài trị liệu được sử dụng có kết quả cho một số người là ghép tủy xương, thay thế diếu tố (Enzyme Replacement Therapy ERT). Ý kiến chung nói là kết quả trị liệu tùy thuộc phần lớn vào việc tìm ra bệnh sớm lúc trẻ còn nhỏ, tức bác sĩ cần phải biết cách khám và chẩn đoán được bệnh. Bệnh được tìm bằng cách làm thử nghiệm về nước tiểu, và cần trọn lượng nước tiểu thải ra trong 24 tiếng đồng hồ. Bạn có thể phải ngưng dùng thuốc nào làm cản trở thử nghiệm trong ngày lấy nước tiểu, còn thì việc rất giản dị không gây khó chịu cho trẻ, cũng như không có rủi ro và kết quả thường có trong vòng một tuần. Dưới đây ta đi vào chi tiết các bệnh riêng biệt. A. MPS I 1. Tổng Quát Còn gọi là Hội chứng Hurler hay Hội chứng Scheie, MPS IH, MPS IS, MPS IH/S. Bệnh được đặt tên theo bác sĩ Gertrud Hurler người mô tả tình trạng bệnh năm 1919. Năm 1962 bác sĩ Scheie mô tả các trường hợp nhẹ hơn. Hiện nay MPS I được chia làm ba nhóm lớn tùy theo mức độ nặng nhẹ với các triệu chứng khác nhau. — Trẻ có bệnh nặng được gọi là có hội chứng Hurler, — Trẻ có trí thông minh bình thường và lớn lên như mọi người được cho là có hội chứng
  3. Scheie, — Trẻ nào có trí thông minh bình thường hay gần bình thường mà có triệu chứng nặng về thể chất được gọi là có hội chứng Hurler/Scheie. Tất cả ai có bệnh MPS I đều thiếu cùng một diếu tố (enzyme) gọi là alpha-L-iduronidase, vào lúc này ta không có cách thử nghiệm sinh hóa nào đáng tin để tìm xem bệnh sẽ nặng ra sao. Người ta đã xác định được vị trí của di truyền tử (gene) trên nhiễm sắc thể, và đang có nghiên cứu về mặt này với hy vọng là trong tương lai sẽ có việc định bệnh chính xác hơn. Hiện thời bác sĩ phải dựa vào việc khám nghiệm trẻ để có nhận xét về mức độ nặng nhẹ của bệnh ra sao. Ta nên nhớ rằng bất kể tình trạng của trẻ được liệt kê thế nào, ảnh hưởng của bệnh thay đổi rất đáng kể. Tính theo tỉ lệ thì tại Úc: — Hội chứng Hurler có tỉ lệ là 1/88.000 — Hội chứng Scheie là 1/500.000 — Hội chứng Hurler/Scheie là 1/115.000 Di Truyền Vài di truyền tử trong người có tính liệt (recessive), có nghĩa ta mang di truyền tử ấy (tức có mầm bệnh) nhưng nó không ảnh hưởng sự phát triển của ta. Bệnh Hurler gây ra do một di truyền tử liệt như vậy. Nếu ai mang mầm bệnh thành hôn với người khác cũng mang mầm bệnh, thì rủi ro sinh con mắc bệnh cho mỗi lần mang thai là 0.25, trẻ phát bệnh vì mang di truyền tử liệt của cả hai cha mẹ. Tỉ lệ cho anh chị em lành mạnh mà mang mầm bệnh của trẻ có bệnh MPS I là 2/3. Đây là bệnh hiếm nên việc lập gia đình với ai khác cũng mang mầm bệnh có tỉ lệ rất thấp, miễn là người ta không thành hôn với anh chị em họ hay thân nhân gần trong gia tộc. 2. Đặc Tính Lúc mới sinh, trẻ có MPS I thường tỏ ra không có gì khác biệt, nhưng theo năm tháng những triệu chứng điển hình bắt đầu lộ ra. Em nhỏ bị hội chứng Hurler có thể có chẩn đoán ra bệnh trong những năm đầu đời vì cương mô bị mờ, chậm phát triển, đi đứng khó khăn, nét mặt dị dạng, lá gan và lá lách to, da và tóc dầy cộm. Trẻ có hội chứng Scheie được chẩn đoán ra bệnh vào những năm cuối của tuổi thơ hay trong lúc mới trưởng thành, khi người ta thấy các khớp xương cứng lại hay vì cương mô hoá mờ. Đa số người có MPS I có chung nét mặt. Người thuộc hội chứng Hurler có gương mặt thô kệch, đầu rất to có khuynh hướng dài hơn từ trước ra sau, trán vồ. Mũi rộng, sống mũi dẹp, hai cánh mũi to và hếch lên; mắt hơi lồi; lưỡi to và có thể thè ra. Tóc rậm hơn bình thường, lông mày rậm, thân hình có thể có nhiều lông hơn. Trẻ có bụng phình ra, khi đứng thì hông và đầu gối cong lại. Trẻ có Scheie thì diện mạo khác hẳn. Người lớn thường có thân hình vạm vỡ, thân ngắn hơn chân tay; cổ ngắn, miệng rộng, hàm vuông. 3. Triệu Chứng. Điều quan trọng là bạn đi khám đều đặn với bác sĩ để theo dõi sự tiến triển của bệnh, và cho phép thăm dò những cách chữa trị khác nhau. Một số những tật bệnh thông thường của người có MPS I thuộc các trường hợp sau, tuy nhiên đây không phải là danh sách đầy đủ. a. Tai mũi họng và trục trặc về đường hô hấp: Chảy mũi thường xuyên, thịt dư lớn trong cuống họng, điếc, khí quản bị nghẽn có thể dẫn tới việc ngưng thở lúc ngủ. Nhiều tật bệnh về tai mũi họng có thể được chữa trị có hiệu quả như bệnh nhân MPS I thường có giải phẫu cắt bỏ thịt dư, và gắn ống grommet thông tai với mũi.
  4. Người ta cũng hay bị điếc, hoặc là do hư hại trong tai hoặc là do thần kinh thính giác bị hư, hoặc cả hai; tình trạng có thể hoá tệ hơn nếu tai bị nhiễm trùng thường xuyên. Tất cả trẻ em có MPS I cần khám tai theo định kỳ và có chữa trị sớm, để gia tăng tối đa khả năng học tập cùng liên lạc của em. Nếu điếc là do thần kinh hư hại thì có thể giải quyết bằng cách đeo dụng cụ trợ thính. Chúng giúp nghe thầy cô giảng, truyền hình hay chuyện trò bằng điện thoại rõ hơn. Tại Úc bạn có thể đến Australian Hearing Service để hỏi thêm chi tiết. Ai bị ngưng thở lúc ngủ (sleep apnoea) có thể dùng dụng cụ CPAP (continuous positive airway pressure). Khi trẻ hay người lớn khi ngủ có thể dùng ống dẫn không khí có áp suất cao một chút, trẻ nhỏ dễ dàng chịu đeo ống và ngủ ngon giúp trẻ có sức chú ý lúc ban ngày. b. Bệnh Tim. Rất hay gặp nơi người có MPS I nhưng có thể chỉ gây trục trặc phải lo về sau khi trẻ đã lớn. Tất cả trẻ nên có thử nghiệm về tim gọi là echocardiogram, thử nghiệm không gây đau đớn và giống như rà siêu âm. Bệnh nặng xẩy ra khi cơ tim bị hư hại do MPS tích tụ và tim phải làm việc quá sức vì cơ tim bị cứng, cộng thêm việc phổi hoạt động thiếu hiệu quả (cor pulmonale). c. Bệnh Mắt. Tất cả người có MPS I đều có cương mô bị mờ vì chất MPS tích tụ, nếu tình trạng hoá nặng thì thị giác bị suy yếu nhất là ở chỗ đèn mờ hay thiếu ánh sáng. Có trẻ không chịu được ánh sáng chói vì cương mô mờ làm ánh sáng khúc xạ không đồng đều. Đội nón có vành hay đeo kính mát có thể tránh được phần nào việc này, và một số người có hội chứng Scheie hay hội chứng Hurler/Scheie có thể được ghép cương mô. d. Khớp Cứng và Mất Cảm Giác. Khớp cứng là tật chung cho tất cả các hội chứng MPS. Tất cả các khớp đều cứng và cử động vì vậy có thể bị giới hạn. Cử động ở vai và cánh tay bị hạn chế có thể khiến nhiều việc như chải đầu và tắm rửa, toilet hóa khó khăn. Kế đó người có MPS I đôi khi cảm thấy đau và mất cảm giác ở đầu ngón tay do hội chứng về các đốt ngón tay (Carpal Tunnel Syndrome), chứng này có thể được thử nghiệm bằng điện để chẩn đoán ra và sau đó có giải phẫu để chữa trị. Việc nhận biết và tìm ra tật lúc sớm sủa có thể giúp bảo toàn dây thần kinh và cơ liên hệ, vì giải phẫu tỏ ra an toàn và có hiệu quả. e. Việc gây mê cho người có MPS I. Ai có MPS I mà phải giải phẫu thì cần hết sức cẩn trọng, với việc gây mê phải luôn luôn do chuyên viên gây mê nhiều kinh nghiệm thực hiện, vì đây là việc làm đòi hỏi sự khéo léo thông thạo. Người lớn có bệnh nên đeo một vòng có ghi tên chuyên viên y tế để liên lạc trong trường hợp khẩn cấp. Với trẻ nhỏ thì cha mẹ cần cho trường học và ai chăm sóc trẻ biết trong trường hợp họ không thể liên lạc với cha mẹ khi khẩn cấp. Nếu bạn phải tới bệnh viện lạ thì cần cho chuyên viên gây mê biết là việc đặt ống thở (intubation) có thể gặp khó khăn. Giải Thích. Để hiểu rõ sự nghiêm trọng của vấn đề sau đây là giải thích chi tiết về sự việc. Diễn biến thông thường khi gây mê là như sau: - Khí hay thuốc chích được dùng để làm trẻ ngủ thiếp. - Trẻ được cho thuốc làm dãn cơ, khiến tất cả những cơ bị tê liệt kể luôn cơ về hô hấp. - Dưỡng khí được đưa vào cơ thể bằng một túi gắn liền với mặt nạ, đây là cung cấp tạm thời trước khi đặt ống thở vào miệng.
  5. - Chuyên viên gây mê dùng máy soi thanh quản theo đường miệng để xem đường thông tới thanh quản. - Một ống được cho đi vào thanh quản tới khí quản để thở và máy soi rút ra. - Ống này nối với máy thở cho trẻ trong lúc giải phẫu. - Tới cuối cuộc giải phẫu, chất gây mê được ngưng lại và trẻ tỉnh giấc. Thường thường ống thở được rút ra trước khi người ta tỉnh dậy hoàn toàn. Trục Trặc. Tất cả những gì gây khó khăn cho chuyên viên gây mê trong lúc thực hiện những điều trên để gây mê cho trẻ sẽ làm tăng rủi ro cho việc gây mê. Ngoài ra việc tích tụ chất MPS trong tất cả các mô (thí dụ mũi, thịt dư, cổ họng, thanh quản và tim), và ảnh hưởng của nó đối với trong việc xương thành hình cũng góp phần vào việc tạo ra khó khăn khi gây mê cho trẻ MPS. Nơi người bệnh, chất MPS tích tụ làm thu hẹp đường dẫn khí từ mũi, thịt dư và lưỡi hoá lớn ra, cũng như khiến sinh ra các mô dư thừa bao chung quanh thanh quản. Những điều này làm chuyên viên gây mê bị giới hạn nặng nề trong việc xem xét thanh quản bằng máy soi. Thuốc gây mê còn khiến cơ dãn ra nên tăng thêm việc khí quản bị nghẽn (cơ không căng làm ống mở rộng mà dãn khiến ống dẹp lại). Thêm vào đó xương sống cổ hóa cứng và có khi không vững, ngăn không cho chuyên viên gây mê đặt đầu và cổ ở vị trí tốt nhất để xem xét thanh quản. Hàm chỉ cử động được ít, cổ ngắn và chất dịch tiết ra đặc làm tăng thêm khó khăn trong việc xem xét thanh quản, ngay cả cho chuyên viên có kinh nghiệm. Trẻ có MPS còn bị thêm những tật khác như da dầy, khớp co rút làm việc truyền thuốc vào mạch (IV) bị khó khăn, nhất là khi gặp chuyện khẩn cấp. Chót hết, chất MPS tích tụ trong cơ tim và mạch của tim có thể làm tăng thêm rủi ro, nên người có MPS cần được bác sĩ chuyên khoa về tim chấp thuận cho gây mê trước khi có giải phẫu. Nói chung thì rủi ro khi gây mê sinh ra do tật về đường hô hấp thì nhiều hơn là do tật về tim. Việc hô hấp có thể bị trục trặc tới mức dù chỉ có giải phẫu nhỏ, người ta vẫn phải nằm lâu trong phòng hồi sinh để được theo dõi, và ống thở được giữ trong miệng sau khi đã xong giải phẫu. Trong trường hợp khẩn cấp thì có thể phải giải phẫu khí quản để đặt ống thở trực tiếp vào đó, nếu khí quản không thông lúc đặt ống hay rút ống. Đối Phó. Cách an toàn là cho trẻ có giải phẫu tại bệnh viện lớn có kinh nghiệm trong việc chữa trị trẻ MPS, cho dù bạn phải đi xa. Bệnh viện có khu hồi sinh cho trẻ nhỏ thì càng tốt hơn nữa. Ngay cả khi có giải phẫu thông thường, theo lệ thì giải phẫu ở khu ngoại chẩn có thể không thích hợp. Bạn nên cân nhắc kỹ giữa rủi ro khi giải phẫu và lợi ích có được do giải phẫu mang lại. Hãy xem kỹ là chuyên viên gây mê biết về tình trạng của con bạn và những trục trặc có thể có. Vài điều có thể làm để giải phẫu được an toàn hơn như tránh dùng một số thuốc nào đó, hoặc giữ cho cổ vững nếu bệnh nhân có tật với xương sống cổ. Khi khác thì dùng thuốc tê thay vì thuốc mê, và dùng máy soi loại co dãn thay vì loại bình thường. Nó có nghĩa chuyên viên biết sử dụng thành thạo những phương pháp mới trong việc thông hơi. Những điều này được trình bầy để cha mẹ có hiểu biết mà không nhằm gợi ý rằng trẻ có thể bị rủi ro như thế. Nhiều trẻ MPS đã có giải phẫu thành công, tăng phẩm chất cuộc sống, và nói chung thì trẻ có MPS III gặp ít rủi ro hơn những ai có loại MPS khác, có cơ thể bị tật nặng hơn. 4. Chữa Trị
  6. Lúc này người ta chưa tìm ra cách chữa dứt bệnh MPS I, tuy nhiên có nhiều trung tâm trên thế giới đang nghiên cứu về bệnh. Có nơi dùng cách ghép tủy xương (BMT Bone Marrow Transplantation) để đưa diếu tố (enzyme) bị thiếu vào người có MPS, cách này tỏ ra có hiệu quả đối với trẻ nhỏ trước khi các triệu chứng nặng xẩy ra. Dầu vậy nó ít được thực hiện tại Úc. Cách chữa trị xem ra hứa hẹn nhiều nhất là phương pháp thay diếu tố (ERT Enzyme Replacement Therapy). Theo cách này người ta đưa diếu tố được bào chế vào cơ thể người bệnh, cho phép tiến trình phân giải bị chặn đứng (vì thiếu diếu tố) làm việc bình thường trở lại. Có năm trung tâm trên thế giới đang thử nghiệm cách này nhưng phải chờ một thời gian mới biết kết quả. Người ta hy vọng là trong tương lai các bệnh MPS có thể được chẩn đoán sớm sau khi sinh ra, và như vậy cho phép có chữa trị trước khi triệu chứng lộ rõ. Nếu con bạn được đề nghị ghép tủy xương, bạn nên liên lạc với hội MPS trong vùng, họ có thể giúp bạn tiếp xúc với cha mẹ khác đã có kinh nghiệm về chữa trị này. (Còn tiếp) Ts Võ Nguyễn Tinh Vân Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
Đồng bộ tài khoản