BỆNH LỴ TRỰC KHUẨN (Kỳ 2

Chia sẻ: Barbie Barbie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
85
lượt xem
20
download

BỆNH LỴ TRỰC KHUẨN (Kỳ 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Biến chứng của lỵ trực khuẩn có thể xảy ra từ 0,1 - 10% tổng số trường hợp (khi chưa có kháng sinh): sa hậu môn ở trẻ em, viêm đa dây thần kinh, ít gặp, tự khỏi, không để lại di chứng. Hội chứng viêm niệu đạo - khớp và kết mạc (hội chứng Fiessenger - Leroy - Reiter) xuất hiện sau ỉa chảy 2 tuần. Viêm niệu đạo và kết mạc giảm nhanh, còn viêm khớp khỏi chậm, có thể để lại các di chứng cứng khớp, teo cơ. Thủng ruột, viêm màng bụng cũng rất hiếm, chỉ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: BỆNH LỴ TRỰC KHUẨN (Kỳ 2

  1. BỆNH LỴ TRỰC KHUẨN (Kỳ 2) Biến chứng của lỵ trực khuẩn có thể xảy ra từ 0,1 - 10% tổng số trường hợp (khi chưa có kháng sinh): sa hậu môn ở trẻ em, viêm đa dây thần kinh, ít gặp, tự khỏi, không để lại di chứng. Hội chứng viêm niệu đạo - khớp và kết mạc (hội chứng Fiessenger - Leroy - Reiter) xuất hiện sau ỉa chảy 2 tuần. Viêm niệu đạo và kết mạc giảm nhanh, còn viêm khớp khỏi chậm, có thể để lại các di chứng cứng khớp, teo cơ. Thủng ruột, viêm màng bụng cũng rất hiếm, chỉ thấy ở trẻ con. Ngày nay, tiên lượng trong bệnh lỵ trực khuẩn là tốt, tùy thể bệnh, thể địa, tuổi bệnh nhân. Bệnh chỉ nặng với trẻ nhỏ (mắc thể tối độc) hoặc người già cao tuổi, mắc nhiều bệnh cùng 1 lúc. Tử vong không quá 1%. Chẩn đoán xác định: căn cứ vào 3 yếu tố: - Dịch tễ: Bệnh xảy ra đồng loạt, nhiều người mắc bệnh trên một địa bàn hẹp, trong một thời gian ngắn.
  2. - Lâm sàng: Hội chứng lỵ đi đôi với hội chứng nhiễm khuẩn. - Phát hiện căn nguyên gây lỵ: Phân lập vi khuẩn qua cấy phân, có thể đạt tỷ lệ dương tính > 20%, thậm chí > 70% nếu bệnh nhân lấy bệnh phẩm tốt (nhầy, máu), cấy tại giường bệnh, khi chưa dùng kháng sinh, nhắc lại 3 lần trong 3 ngày đầu (cấy vào môi trường thạch hoặc Leifson, Mac Conkey). Ngày nay, với kỹ thuật mới bằng phương pháp khuếch đại chuỗi gen PCR đã phát hiện được Shigella gấp 2 lần so với nuôi cấy. Phương pháp miễn dịch huỳnh quang phát hiện vi khuẩn trong phân (chẩn đoán khẩn cấp). Phương pháp chẩn đoán huyết thanh: ngưng kết hồng cầu thụ động rất nhạy mang tính đặc hiệu cao, có thể chẩn đoán tới 65 - 80% lỵ cấp (chẩn đoán hồi cứu), 40% lỵ kéo dài, mạn tính. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT: Cần phân biệt lỵ trực khuẩn với các bệnh sau: 1. Lỵ amíp: Khởi phát từ từ, bệnh tăng dần.
  3. Hội chứng nhiễm khuẩn không rõ hoặc nhẹ. Toàn thân tương đối tốt, ít bị ảnh hưởng. Hội chứng lỵ điển hình: đau quặn bụng theo đại tràng xuống, sigma, mót rặn, rát hậu môn. Bệnh nhân muốn đi ngoài luôn nhưng chỉ 5 - 10 lần/ngày, không còn phân sau một số lần đi ngoài, chỉ còn ít nhầy như nhựa chuối với máu đỏ thành tia, khối lượng nhỏ như đồng tiền có độ bám dính. Soi trực tràng thấy trên nền niêm mạc hồng gần như bình thường, có một số thương tổn thưa, rải rác như vết xước, to bằng đầu kim, hạt đậu, bờ nham nhở. Soi phân tươi nhầy máu thấy amíp hút hồng cầu gây bệnh. 2. Ỉa chảy do vi khuẩn đường ruột khác, hoặc nấm: Lỵ do E.Coli ở trẻ em. Lâm sàng như lỵ trực khuẩn. Chỉ phân biệt được bằng chẩn đoán vi sinh học. 3. Nhiễm khuẩn, nhiễm độc thức ăn do Salmonella: Giống thể dạ dày và ruột của lỵ trực khuẩn cấp, nhưng khác với lỵ ở chỗ bắt đầu bằng đau dữ dội vùng thượng vị, nôn thốc nôn tháo. Đại tiện nhiều lần, phân lỏng, thối, lổn nhổn, màu xanh xám; sốt cao, rét run. Trong vài giờ, có thể gây mất nước, rối loạn điện giải nặng, dẫn tới trụy tim mạch, thậm chí tử vong nếu không kịp cấp cứu.
  4. 4. Tả và lỵ: Là 2 bệnh thường gặp trong dịch ỉa chảy mùa nóng ở các nước nhiệt đới. Thể nhẹ của bệnh tả có thể lầm với lỵ nhưng cũng có những nét đặc trưng: sôi bụng, không đau bụng, phân như nước cháo, màu đục, đi ngoài dễ dàng, không sốt, thân nhiệt hạ, triệu chứng nhiễm độc rõ rệt, dấu hiệu nổi bật nhất là mất nước và mất điện giải. 5. Loạn khuẩn ruột: Có thể gây hội chứng đại tràng, phân lỏng, nhiều nhầy, đôi khi có máu. Từ phân, cấy được Proteus, tụ cầu, nấm Candida gây bệnh. Ngoài ra cần phân biệt lỵ trực khuẩn với các trạng thái bệnh lý của đại tràng, trực tràng. 6. Ung thư đại tràng, trực tràng: Giống lỵ khuẩn mãn tính. Lúc đầu, phân thành khuôn, sau lỏng lẫn với máu hoặc dịch nhầy, mủ. Khi bệnh tiến triển, đau bụng dữ dội, đi ngoài mót rặn. Cuối cùng hình thành hội chứng bán tắc ruột. Chẩn đoán bằng thăm dò hậu môn, soi trực tràng và sinh thiết, X quang. 7. Các viêm đại tràng thứ phát: Gặp trong nhiễm độc các chất kim loại nặng: thủy ngân, chì, crom, asen … Chẩn đoán dựa vào tính chất nghề nghiệp (tiếp xúc với chất độc và ngộ độc cấp
  5. hoặc mãn tính). Viêm đại tràng do tăng urê máu là biểu hiện của suy thận ở giai đoạn cuối.
Đồng bộ tài khoản