Bệnh sởi (Phần 1)

Chia sẻ: Traitim Muathu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
148
lượt xem
47
download

Bệnh sởi (Phần 1)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bệnh sởi (Phần 1) Những điều cần biết về bệnh sởi Bệnh sởi là nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất so với các bệnh khác trong chương trình TCMR. Sởi có thể gặp ở mọi lứa tuổi, ở trẻ nhỏ bệnh nặng hơn. Lan truyền Sởi lan truyền do dịch tiết mũi họng của người nhiễm bệnh theo không khí thoát ra khi người bệnh ho hoặc hắt hơi. Sự lan truyền từ người bệnh đến người lành có thể xảy ra khi người lành hít phải những giọt không khí có vi rút sởi sau khi người bệnh xả...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bệnh sởi (Phần 1)

  1. Bệnh sởi (Phần 1)
  2. Những điều cần biết về bệnh sởi Bệnh sởi là nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất so với các bệnh khác trong chương trình TCMR. Sởi có thể gặp ở mọi lứa tuổi, ở trẻ nhỏ bệnh nặng hơn. Lan truyền Sởi lan truyền do dịch tiết mũi họng của người nhiễm bệnh theo không khí thoát ra khi người bệnh ho hoặc hắt hơi. Sự lan truyền từ người bệnh đến người lành có thể xảy ra khi người lành hít phải những giọt không khí có vi rút sởi sau khi người bệnh xả ra 2 tiếng đồng hồ. Người bệnh có thể lây nhiễm cho người khác trước và sau vài ngày xuất hiện triệu chứng của bệnh. Triệu chứng Giai đoạn ủ bệnh từ 7 - 18 ngày. Biểu hiện nhiễm trùng đầu tiên là sốt cao kéo dài 1 - 7 ngày. Giai đoạn này thường chảy nước mũi, ho, mắt đỏ, chảy nước mắt và xuất hiện nốt trắng nhỏ bên trong má. Sau vài ngày xuất hiện ban, bắt đầu từ mặt, lan xuống tay và chân trong khoảng 3 ngày. Ban kéo dài 5 - 6 ngày rồi biến mất. Ngoài ra người bệnh có thể chán ăn và tiêu chảy, đặc biệt là trẻ nhỏ. Thể bệnh nặng hay xảy ra ở trẻ dưới 5 tuổi và người lớn trên 20 tuổi. Người lớn có thể bị tiêu chảy nặng. Trẻ em có thể bị mất nước do tiêu chảy, có thể bị viêm tai giữa, nhiễm trùng đường hô hấp và thanh quản do vi rút sởi làm giảm hệ miễn dịch. Trẻ dưới 12 tháng tuổi nếu không tiêm phòng sởi thì rất dễ mắc. Trẻ được nuôi dưỡng kém, đặc biệt trẻ không được uống vitamin A, sống trong điều kiện đông đúc, và trẻ có hệ miễn dịch giảm do AIDS hoặc các bệnh khác thường mắc sởi nặng. Những người khỏi bệnh có miễn dịch trong suốt quãng đời còn lại. Trẻ nhỏ có mẹ đã mắc sởi thường có miễn dịch trong 6 - 8 tháng đầu sau khi sinh. Ðiều trị sởi
  3. Những trẻ thể bệnh nặng có thể qua khỏi nếu được điều trị thích hợp. Uống vitamin A có thể giúp trẻ tránh được mù lòa. Tất cả những trẻ bị sởi nặng cần được uống vitamin A càng sớm càng tốt và uống liều thứ 2 ngay ngày hôm sau. Tăng cường dinh dưỡng và điều trị mất nước bằng đường uống là cần thiết. Phòng bệnh Phải tiêm vắc xin sởi. Trẻ em cần tiêm một mũi vắc xin sởi trước khi 1 tuổi. Trẻ mắc sởi nằm viện cần được cách ly ít nhất 4 ngày sau khi ban ở da xuất hiện. Trẻ bị suy dinh dưỡng cần cách ly trong thời gian bị bệnh.
  4. Mức độ nghiêm trọng của bệnh sởi Sởi là một trong những bệnh nguy hiểm với khoảng 30% trường hợp gặp một hoặc nhiều biến chứng. Theo báo cáo tại Mỹ, tỉ lệ tử vong do sởi xấp xỉ 1 - 2/1.000 trường hợp. Các biến chứng từ sởi phổ biến ở nhóm trẻ dưới 5 tuổi và người trưởng thành trên 20 tuổi. Tiêu chảy là một trong những biến chứng phổ biến nhất của người mắc bệnh sởi, đặc biệt là ở trẻ nhỏ. Khoảng 7% trường hợp bị nhiễm trùng tai; 6% bị viêm phổi. Khoảng 1/1.000 trường hợp sẽ bị viêm não. Đây là biến chứng nguy hiểm co thể dẫn tới tổn thương não vĩnh viễn. Bị mắc sởi trong giai đoạn mang thai có thể làm tăng nguy cơ sinh non, sẩy thai và sinh trẻ nhẹ cân. Sởi đặc biệt khốc liệt đối với những người có hệ miễn dịch yếu. Những lưu ý về bệnh sởi Những vết đỏ khắp cơ thể làm người ta chú ý tới bệnh sởi. Nhưng thực ra đây chỉ là một trong những triệu chứng bên ngoài, những thay đổi bên trong mới nguy hiểm, có thể gây chết người. Sởi là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp do siêu vi gây ra. Từ vài chục năm nay, với thuốc chích ngừa, bệnh sởi ít xẩy ra ở những quốc gia phát triển, nhưng vẫn còn là một ám ảnh kinh hoàng cho những người dân các nước đang phát triển. Bệnh rất dễ lây và dễ dàng lan ra từ những người đi du lịch. 1. Triệu chứng:
  5. Khoảng 10 tới 12 ngày sau khi tiếp xúc với siêu vi sởi, những triệu chứng sau đây có thể xẩy ra: 1. Sốt 2. Ho khan 3. Chảy nước mũi 4. Mắt đỏ 5. Không chịu được ánh sáng 6. Những nốt nhỏ xíu với trung tâm mầu xanh trắng xuất hiện bên trong miệng nơi gò má. Những nốt này có tên là đốm Koplik. 7. Người mọc ra những đốm đỏ lớn, phẳng, chập vào nhau 2. Diễn biến bệnh Bệnh sởi thường bắt đầu với một cơn sốt khá nhẹ, kèm theo những triệu chứng như ho, chảy mũi, mắt đỏ và đau cổ họng. Khoảng 2, 3 ngày sau, đốm Koplik nổi lên, đốm này là dấu hiệu đặc biệt của bệnh. Sau đó, bệnh nhân có thể bị sốt cao lên tới 40 hay 40,5 độ C. Cùng lúc đó, những mảng đỏ nổi lên, thường là ở trên mặt, theo đường tóc và sau tai. Những vết đỏ hơi ngứa này có thể dấn lan xuống ngực, lưng và cuối cùng xuống tới đùi và bàn chân. Khoảng một tuần sau, những vết nhỏ này sẽ nhạt dần, vết nào xuất hiện trước sẽ hết trước. 3. Nguyên nhân Bệnh sởi gây ra do siêu vi sởi. Bệnh này hay lây đến nỗi 90% những người tiếp xúc với bệnh nhân sẽ bị lây nếu chưa chích ngừa. Siêu vi sởi có ở mũi và cổ họng của bệnh nhân. Họ thường đã có thể lây bệnh cho người khác 4 ngày trước khi vết đỏ xuất hiện. Khi bệnh nhân ho, hắt xì, hay nói chuyện, những giọt nước nhỏ xíu chứa siêu vi sẽ bắn ra không khí và người khác có thể hít vào hoặc những giọt này có thể rơi xuống
  6. một nơi nào đó như mặt bàn, điện thoại…Khi ta sờ vào những nơi này và đưa tay lên mũi hay miệng, ta sẽ bị lây bệnh. Khi vào cơ thể, siêu vi sởi thường mọc vào trong những tế bào đằng sau cổ họng và phổi. Sau đó bệnh sẽ lan khắp cơ thể kể cả hệ hô hấp và da. Bệnh rất nặng nếu bệnh nhân bị thiếu vitamin A, một điều dễ thấy ở những nước kém phát triển, do người dân thiếu ăn. Sau khi khỏi bệnh, cơ thể chúng ta sẽ có kháng thể chống bệnh nên ta sẽ không mắc lại nữa. Nếu bạn sinh trước năm 1957, bạn thường đã có kháng thể chống bệnh dù chưa hề chủng ngừa. Đó là vì bạn đã sống qua nhiều thời kỳ mà bệnh sởi hoành hành rất nhiều và nhiều phần bạn đã có nhiễm siêu vi dù có thể không lộ ra. Do đó bạn đã có miễn nhiễm. 4. Biến chứng Bệnh sởi thường kéo dài từ 10 tới 14 ngày. Ở vài nơi trên thế giới, nó là một bệnh nặng có thể gây ra chết người. Tuy nhiên thường thì bệnh nhân có thể qua khỏi. Những biến chứng có thể xảy ra: 1 - Nhiễm trùng tai xảy ra ở 1 trong 10 trẻ bị sởi 2 - Viêm não: xảy ra ở khoảng 1 trong 1.000 người mắc Não bị nhiễm siêu vi trùng gây ra ói mửa, kinh giật, có khi hôn mê. Viêm não có thể xảy ra sau khi phát bệnh sởi hoặc có thể xảy ra rất nhiều năm sau, vào tuổi vị thành niên, do một loại siêu vi mọc chậm, nhưng trường hợp này rất hiếm. 3 - Sưng phổi: khoảng 1 trong 20 trường hợp. Có thể nguy hiểm chết người. 4 - Tiêu chảy và ói mửa: thường xẩy ra cho trẻ nhỏ. 5 - Sưng cuống phổi, sưng thanh quản. 6 - Phụ nữ có thai mắc bệnh sởi có thể hư thai, sinh sớm hay sinh trẻ nặng cân. 7 - Thiếu tiểu cầu khiến máu khó đông.
  7. 5. Ngăn ngừa sởi Văcxin ngừa sởi rất công hiệu. Trước khi có văcxin ngừa, mỗi năm riêng ở Mỹ có chừng 450.000 ca bệnh, gây ra khoảng 450 cái chết. Việc chủng ngừa rộng rãi đã giảm con số này 99%. Văcxin ngừa sởi được dùng riêng, hoặc gộp chung với văcxin ngừa quai bị và rubella (bệnh sởi Đức). Thuốc dùng cho trẻ em từ 12 tới 15 tháng và thêm liều thứ hai lúc 4, 5 tuổi. Bác sĩ Viện Các bệnh nhiệt đới và truyền nhiễm quốc gia khuyến cáo các gia đình nên tiêm nhắc lại văcxin sởi cho con em và ngay cả người lớn (dưới 30 tuổi) nếu chưa tiêm hoặc đã tiêm lâu thì nên đi tiêm. Phân biệt sởi với rubella (bệnh sởi Đức hay ban Đức) Có hai dạng bệnh sởi, gây ra bởi hai loại virus khác nhau. Mặc dù cùng gây phát ban và sốt, song chúng thực sự là hai loại bệnh khác nhau. - Virus rubeola gây ra bệnh sởi. Mặc dù hầu bết người mắc đều qua khỏi, nhưng bệnh có thể gây biến chứng nặng là viêm phổi hoặc viêm não. - Virus rubella gây ra bệnh sởi Đức, hay bệnh rubella. Bệnh cảnh nhẹ hơn so với bệnh sởi. Tuy nhiên nó lại đặc biệt nguy hiểm với phụ nữ có thai bởi có thể khiến thai bị khuyết tật. Rubella rất dễ lây lan, chủ yếu là qua đường hô hấp. Triệu chứng của bệnh rất nhẹ nên rất khó được phát hiện, đặc biệt ở trẻ em. Bệnh khởi phát sau 10 ngày đến 15 ngày kể từ lúc tiếp xúc với người bệnh. Triệu chứng thông thường là mệt mỏi, sốt nhẹ, nhức đầu, sưng hạch kéo dài 1-7 ngày. Những nốt ban màu hồng mịn, bắt đầu từ mặt và nhanh chóng lan xuống thân, sau đó xuống cánh tay và chân trước trước khi biến mất. Ban tồn tại từ 1 đến 5 ngày, nhưng thường gặp nhất là 3 ngày. Trong khoảng thời gian từ 7 ngày trước phát ban và trong lúc phát ban là thời gian mà người bệnh có khả năng lây bệnh cao nhất. Biện pháp phòng bệnh duy nhất là tiêm chủng. Loại vắc xin đang sử dụng hiện nay là văcxin phối hợp ngừa 3 bệnh: sởi, quai bị, Rubella.
Đồng bộ tài khoản