BỆNH SUYỄN LỢN VÀ CÁCH PHÒNG TRỊ

Chia sẻ: nkt_bibo47

Bệnh suyễn lợn ( còn gọi là bệnh viêm phổi địa phương ở lợn) làm cho lợn chậm lớn, tăng trọng kém hoặc không tăng trọng, sinh sản chậm 1- Nguyên nhân bệnh Bệnh do nhiều nguyên nhân tổng hợp gây nên: a- Chủ yếu do vi khuẩn Mycoplasma hyopneumonia. Ngoài ra một số vi khuẩn như Pasteurella, Streptococcus hoặc một số vi rút như Adeno virut. b- Do dinh dưỡng kém ( không đủ khẩu phần ăn, thức ăn thiếu dinh dưỡng). c- Thiếu sót trong chăm sóc, nuôi dưỡng ( chuồng ẩm ướt, quá lạnh, số gia súc...

Nội dung Text: BỆNH SUYỄN LỢN VÀ CÁCH PHÒNG TRỊ

BỆNH SUYỄN LỢN VÀ CÁCH PHÒNG
TR Ị

Bệnh suyễn lợn ( còn gọi là bệnh viêm phổi địa phương ở
lợn) làm cho lợn chậm lớn, tăng trọng kém hoặc không tăng
trọng, sinh sản chậm
1- Nguyên nhân bệnh
Bệnh do nhiều nguyên nhân tổng hợp gây nên:
a- Chủ yếu do vi khuẩn Mycoplasma hyopneumonia. Ngoài
ra một số vi khuẩn như Pasteurella, Streptococcus hoặc một số
vi rút như Adeno virut.
b- Do dinh dưỡng kém ( không đủ khẩu phần ăn, thức ăn
thiếu dinh dưỡng).
c- Thiếu sót trong chăm sóc, nuôi dưỡng ( chuồng ẩm ướt,
quá lạnh, số gia súc quá đông, chật chội, thiếu vận động, vận
chuyển lợn không hợp lý).
2- Tuổi mắc bệnh, mức độ lây lan
- Các lứa tuổi lợn đều dễ mắc, nhất là với lợn 1-3 tháng
tuổi, lợn nái chửa, nái nuôi con. Bệnh lây trực tiếp từ lợn ốm
sang lợn khoẻ qua đường hô hấp, hoặc từ lợn vẫn khoẻ nhưng
mang trùng do thở và hắt hơi. Bệnh lây nhanh, thường kéo dài.
Bệnh có thể xảy ra quanh năm, nhưng nghiêm trọng hơn khi khí
hậu ẩm ướt và rét.
- Bệnh lây nhanh trong những trại lợn mới bị mắc và gây
chết nhiều lợn, sau đó trở thành dịch lẻ tẻ, âm ỉ, lợn chết ít hơn
nhưng nếu đưa lợn mới hoặc lợn bệnh vào đàn thì bệnh sẽ trở lại
trầm trọng.
3- Triệu trứng
Thời gian ủ bệnh khoảng 10-16 ngày. Bệnh tích xuất hiện
sau 11-16 ngày, triệu trứng ho, thở khó xuất hiện sau 25-35 ngày
hoặc 65 ngày. Có 4 thể bệnh:
- Cấp tính: Lợn thường tách đàn, đứng hoặc nằm ở góc
chuồng, ăn kém. Có thể sốt nhẹ ( 39-39,50C). Lợn thường hắt
hơi từng hồi lâu, vài ngày sau thì ho ( lúc vận động mạnh, sau
khi ăn, ho nhiều vào ban đêm, lúc đầu ho từng tiếng, sau ho
thành chuỗi), ho kéo dài 2-3 tuần. Về sau khó thở, khò khè, thở
nhanh ( trên 100 lần/phút), há mồm để thở, có tư thế như chó
ngồi. Lúc thở bụng hóp lại, cơ bụng co giật, chảy nhiều nước
mũi.
- Thứ cấp tính: Thường gặp ở lợn lai, lợn con còn bú và lợn
mẹ. Lợn ốm ho nhiều, thở nhanh, há mồm và thóp bụng để thở.
Thân nhiệt ít tăng ( nếu ghép với tụ huyết trùng, lợn sẽ sốt rất
cao). Bệnh tiến triển trong khoảng 2 tuần.
- Mãn tính: Thường từ thể cấp tính hoặc thứ cấp chuyển
sang, có trường hợp tiếp theo của thể ẩn tính. Lợn con và lợn nái
không có chửa thường bị mắc. Lợn ho khô vào sáng sớm, tối
hoặc sau khi ăn. Ho tiếng một hoặc từng hồi, khó thở, thở nhanh
( khoảng 100 lần/phút), có lúc bí đại tiện, sau bị ỉa chảy. Thân
nhiệt 39-400C, sau hạ xuống. Thể này tiến triển trong vài ba
tháng. Tỷ lệ chết của lợn ốm không cao, nhưng tăng trọng kém,
chậm lớn, còi cọc. Nếu những lợn bị bệnh ở thể này được chăm
sóc, nuôi dưỡng kém thì có thể chuyển thành cấp tính.
- Ẩn tính: Thể này ít gặp, nếu có thì thường xảy ra ở lợn
trưởng thành, lợn thịt vỗ béo. Lợn chỉ thỉnh thoảng ho, khó phát
hiện. Khi con vật bị bệnh nặng hơn thường bị chết
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản