Vui lòng download xuống để xem tài liệu đầy đủ.

BỆNH SUYỄN LỢN VÀ CÁCH PHÒNG TRỊ

Chia sẻ: | Ngày: pdf 2 p | 14

0
70
views

Bệnh suyễn lợn ( còn gọi là bệnh viêm phổi địa phương ở lợn) làm cho lợn chậm lớn, tăng trọng kém hoặc không tăng trọng, sinh sản chậm 1- Nguyên nhân bệnh Bệnh do nhiều nguyên nhân tổng hợp gây nên: a- Chủ yếu do vi khuẩn Mycoplasma hyopneumonia. Ngoài ra một số vi khuẩn như Pasteurella, Streptococcus hoặc một số vi rút như Adeno virut. b- Do dinh dưỡng kém ( không đủ khẩu phần ăn, thức ăn thiếu dinh dưỡng). c- Thiếu sót trong chăm sóc, nuôi dưỡng ( chuồng ẩm ướt, quá lạnh, số gia súc...

BỆNH SUYỄN LỢN VÀ CÁCH PHÒNG TRỊ
Nội dung Text

  1. BỆNH SUYỄN LỢN VÀ CÁCH PHÒNG TR Ị Bệnh suyễn lợn ( còn gọi là bệnh viêm phổi địa phương ở lợn) làm cho lợn chậm lớn, tăng trọng kém hoặc không tăng trọng, sinh sản chậm 1- Nguyên nhân bệnh Bệnh do nhiều nguyên nhân tổng hợp gây nên: a- Chủ yếu do vi khuẩn Mycoplasma hyopneumonia. Ngoài ra một số vi khuẩn như Pasteurella, Streptococcus hoặc một số vi rút như Adeno virut. b- Do dinh dưỡng kém ( không đủ khẩu phần ăn, thức ăn thiếu dinh dưỡng). c- Thiếu sót trong chăm sóc, nuôi dưỡng ( chuồng ẩm ướt, quá lạnh, số gia súc quá đông, chật chội, thiếu vận động, vận chuyển lợn không hợp lý). 2- Tuổi mắc bệnh, mức độ lây lan - Các lứa tuổi lợn đều dễ mắc, nhất là với lợn 1-3 tháng tuổi, lợn nái chửa, nái nuôi con. Bệnh lây trực tiếp từ lợn ốm sang lợn khoẻ qua đường hô hấp, hoặc từ lợn vẫn khoẻ nhưng mang trùng do thở và hắt hơi. Bệnh lây nhanh, thường kéo dài. Bệnh có thể xảy ra quanh năm, nhưng nghiêm trọng hơn khi khí hậu ẩm ướt và rét. - Bệnh lây nhanh trong những trại lợn mới bị mắc và gây chết nhiều lợn, sau đó trở thành dịch lẻ tẻ, âm ỉ, lợn chết ít hơn nhưng nếu đưa lợn mới hoặc lợn bệnh vào đàn thì bệnh sẽ trở lại trầm trọng. 3- Triệu trứng Thời gian ủ bệnh khoảng 10-16 ngày. Bệnh tích xuất hiện
  2. sau 11-16 ngày, triệu trứng ho, thở khó xuất hiện sau 25-35 ngày hoặc 65 ngày. Có 4 thể bệnh: - Cấp tính: Lợn thường tách đàn, đứng hoặc nằm ở góc chuồng, ăn kém. Có thể sốt nhẹ ( 39-39,50C). Lợn thường hắt hơi từng hồi lâu, vài ngày sau thì ho ( lúc vận động mạnh, sau khi ăn, ho nhiều vào ban đêm, lúc đầu ho từng tiếng, sau ho thành chuỗi), ho kéo dài 2-3 tuần. Về sau khó thở, khò khè, thở nhanh ( trên 100 lần/phút), há mồm để thở, có tư thế như chó ngồi. Lúc thở bụng hóp lại, cơ bụng co giật, chảy nhiều nước mũi. - Thứ cấp tính: Thường gặp ở lợn lai, lợn con còn bú và lợn mẹ. Lợn ốm ho nhiều, thở nhanh, há mồm và thóp bụng để thở. Thân nhiệt ít tăng ( nếu ghép với tụ huyết trùng, lợn sẽ sốt rất cao). Bệnh tiến triển trong khoảng 2 tuần. - Mãn tính: Thường từ thể cấp tính hoặc thứ cấp chuyển sang, có trường hợp tiếp theo của thể ẩn tính. Lợn con và lợn nái không có chửa thường bị mắc. Lợn ho khô vào sáng sớm, tối hoặc sau khi ăn. Ho tiếng một hoặc từng hồi, khó thở, thở nhanh ( khoảng 100 lần/phút), có lúc bí đại tiện, sau bị ỉa chảy. Thân nhiệt 39-400C, sau hạ xuống. Thể này tiến triển trong vài ba tháng. Tỷ lệ chết của lợn ốm không cao, nhưng tăng trọng kém, chậm lớn, còi cọc. Nếu những lợn bị bệnh ở thể này được chăm sóc, nuôi dưỡng kém thì có thể chuyển thành cấp tính. - Ẩn tính: Thể này ít gặp, nếu có thì thường xảy ra ở lợn trưởng thành, lợn thịt vỗ béo. Lợn chỉ thỉnh thoảng ho, khó phát hiện. Khi con vật bị bệnh nặng hơn thường bị chết
Đồng bộ tài khoản