BỆNH THAN VÀ VI KHUẨN BACILLUS ANTHRACIS

Chia sẻ: Tran Tu | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:9

0
371
lượt xem
114
download

BỆNH THAN VÀ VI KHUẨN BACILLUS ANTHRACIS

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bệnh than là bệnh của các loài động vật ăn cỏ như bò, dê, cừu… Đây là một trong những bệnh lâu nhất trên thế giới. Bệnh lây nhiễm sang người khi tiếp xúc với động vật bị nhiễm bệnh, lông, da hay đất bị ô nhiễm. Đây không phải là bệnh truyền nhiễm và không lây từ người sang người. Nguyên nhân là do vi khuẩn Bacillus anthracis.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: BỆNH THAN VÀ VI KHUẨN BACILLUS ANTHRACIS

  1. BỆNH THAN VÀ VI KHUẨN BACILLUS ANTHRACIS I Định Nghĩa Bệnh than là bệnh của các loài động vật ăn cỏ như bò, dê, cừu… Đây là một trong những bệnh lâu nhất trên thế giới. Bệnh lây nhiễm sang người khi tiếp xúc với động vật bị nhiễm bệnh, lông, da hay đất bị ô nhiễm. Đây không phải là bệnh truyền nhiễm và không lây từ người sang người. Nguyên nhân là do vi khuẩn Bacillus anthracis. II Lịch sử bệnh Bệnh than phát hiện đầu tiên là ở Ai Cập, chúng gây chết hàng loạt gia súc. Đến thế kỷ 17, xảy ra một đại dịch lớn ở Châu Âu gây chết rất nhiều người và động vật. Vào thời điểm đó thì chưa ai tìm ra được nguyên nhân gây ra bệnh và cách phòng trị, vì thế mọi người đặt cho căn bệnh này với nhiều cái tên khác nhau như : "tai ương đen", "bệnh Bradford", "mụn mủ ác tính", "bệnh của người nhặt giẻ", "bệnh của người xếp len"... Vào thế kỷ 19, Phát hiện bệnh than là do một loại vi khuẩn gây nên. Năm 1850 người ta nhìn thấy nó trong máu một con cừu mắc bệnh sắp chết. Năm 1876 Robert Koch là người đã tìm ra vi khuẩn bệnh than đó chính là Bacillus anthracis, chúng đã tạo ra bào tử (là một tế bào mất nước với lớp vỏ dày và các lớp bổ sung khác ) bên trong nó để chống lại điều kiện bất lợi đặc biệt là thiếu ôxy, và khi điều kiện thuận lợi trở lại, bào tử có thể trở lại thành trực khuẩn. Năm 1881, trong cuộc thử nghiệm trên cánh đồng ở Pouilly-le-Fort, Pasteur đã tìm ra được vacxin ngừa bệnh than đó là dung dịch cấy Bacillus anthracis nhưng chúng đã bị làm giảm độc lực bằng cách ủ ở nhiệt độ 42-52oC. Và sau đó, vi khuẩn bệnh than được sử dụng làm vũ khí sinh học ở các nước phát triển như Nhật, Anh, Mỹ, Iraq và Liên Xô. Chỉ 1 phần triệu gram bào tử vi khuẩn than đủ gây chết người khi hít phải. 1kg bào tử có thể giết chết hàng trăm ngàn người tại vùng trung tâm. Tác động này càng tăng thêm khi vừa mới đây các nhà khoa học Nga tuyên bố có khả năng chèn tất cả các gen gây bệnh của Bacillus anthracis vào trực khuẩn khác như là Bacillus cereus đề kháng lại với tất cả các vacxin hiện có làm chúng trở nên vô tác dụng. Hơn nữa, vacxin có thể không bảo vệ đối với 1 số chủng B. anthracis hiếm. Và cũng có khả năng người ta sản xuất ra những chủng B. anthracis đề kháng kháng sinh. III Mầm bệnh Bệnh than khởi phát do nhiễm bào tử của B. anthracis, một trực khuẩn Gram dương. Chúng thường đứng với nhau thành chuỗi, chung một vỏ bọc, như hình "đoạn tre".
  2. B. anthracis rất khó nhận biết trong điều kiện bình thường, tiềm lực mạnh, phát tán và lây lan nhanh, không chỉ được sử dụng trong chiến tranh mà còn trong các hoạt động khủng bố. Chính vì thế bào tử vi khuẩn bệnh than được một số nước dùng làm vũ khí sinh học. Tất cả những gen độc lực của B. anthracis đều xuất phát từ sự nảy mầm của bào tử trong cơ thể. 1. Cấu tạo của B. anthracis a. Thành tế bào (cell wall ) Là thành phần quan trọng của vi khuẩn. Nó giữ cho tế bào có hình dạng nhất định, bảo vệ tế bào chống lại các tác nhân lý, hóa. Giúp duy trì áp suất thẩm thấu bên trong tế bào và là chổ bám của các thực khuẩn thể. Ngoài ra thành tế bào còn chứa các thành phần tham gia vào quá trình gây bệnh của chúng. Thành tế bảo được cấu tạo chủ yếu bởi peptidoglycan và acid techoic : * Peptidoglycan : Peptidoglycan là hợp chất cao phân tử cấu tạo bởi nhiều tiểu đơn vị nối lại với nhau. Chất này có chứa 4 acid amin và 2 dẫn xuất glucose đó là : − N – acetylglucosamin ( kí hiệu G ). − Acid N – acetylmuramic ( kí hiệu M ). Bộ khung được hình thành từ sự liên kết luôn phiên giữa các phân tử G và phân tử M. Một nhánh tetrapeptid gồm các acid amin dạng L liên hợp luân phiên với dạng D. Nhánh tetrapeptid được nối với nhóm cacboxyl của Acid N – acetylmuramic trong chuổi. Cấu trúc chuổi peptodoglycan
  3. Các chuổi peptydoglycan được nối với nhau nhờ cầu nối interpeptidic. Lưới peptydoglycan khá cứng giúp cho tế bào giữ được hình dạng ổn định, nó cũng có tính đàn hồi và co dãn được, ngoài ra còn có những lổ nhỏ để các phân tử có thể đi qua. * Acid techoic : Là hợp chất cao phân tử của glycerol rititol nối với nhóm phosphate. Những acid amin hay đường được gắn vào glycerol hay ribitol. Acid techoic vừa được nối với peptidoglycan, vừa được nối với lipid nên nó đươc gọi là acid lipotechoic, rất quan trọng trong việc duy trì cấu trúc của tế bào. Thành tế bào của vi khuẩn b. Nhân ( nucleotid) Nhân của vi khuẩn B. anthracis mang đặc tính của tế bào thuộc nhóm Procaryote, nhân không phân hóa rõ rệt, không có màng nhân bao bọc và không có tiểu mạch. Dưới kính hiển vi điện tử, nhân chỉ là một nhiễm sắc thể vòng gồm 2 mạch ADN xoắn lại với nhau. Sợi ADN này rất dài , hai đầu mút khép kính, cuộn thành nhiều búi và nằm trong vùng đặc biệt của tế bào chất, và nó được gọi là thể nhân. Thể nhân không nằm lơ lửng trong tế bào chất mà xuất phát từ chổ lõm của màng tế bào chất là mesosome. Nhân vi khuẩn là một phức thể, chứa khoảng 60% ADN, một ít ARN và một lượng nhỏ protein. Nhiễm sắc thể ( NST ) của vi khuẩn đảm nhiệm mọi chức năng di truyền những đặc tính của tế bào cho thế hệ sau. * Plasmid: Là phần tử ADN xoắn kép, dạng vòng khép kính, nằm trong tế bào chất, và có kích thước nhỏ hơn nhiều so với NST. Plasmid không cần thiết cho sự sống còn của vi khuẩn, tuy nhiên nó làm cho vi khuẩn có thêm một vài đặc tính mà plasdmis quy định. Plasmid tự nhân đôi độc lập và di truyền cho các thế hệ sau c. Màng tế bào chất ( Cytoplasmic membrane ) Được cấu tạo bởi 2 lớp phospholipid chiếm (30-40% khối lượng của màng). Phần lớn phân tử phospholipid có cấu tạo không đối xứng : một đầu tích điện, phân cực, ưa nước và hướng ra 2 phía của màng ; một đầu thì không tích điện, không phân cực, kỵ nước và quay đầu vào nhau. Ngoài ra màng tế bào còn được cấu tạo bởi các protein (chiếm 60-70% khối lượng của màng). Có 2 loại protein màng : Protein ngoại vi (20 – 30 % tổng số protein màng) hòa tan trong nước, kết hợp với màng lipid và có thể tách ra dể dàng ; Protein nội tại có cấu trúc lưỡng cực,
  4. gồm 2 phần, phần kị nước nằm sâu bên trong lớp lipid , phần ưu nước tạo thành các khối u nhô ra bề mặt ngoài. Nhiệm vụ của màng tế bào : − Khống chế sự qua lại của các chất dinh dưỡng, các sản phẩm trao đổi chất − Bao bọc và phân chia tế bào chất với môi trường ben ngoài, duy trì áp suất thẩm thấu trong tế bào. − Là nơi sinh tổng hợp các thành phần của thành tế bào và các polyme của bao nhày. − Là nơi tổng hợp nhiều enzym, các protein của chuỗi hô hấp. d. Tế bào chất (TBC-Cytoplasme) Tế bào chất là phần vật chất dạng keo chứa tới 80 – 90 % là nước, còn có protein, acid nucleic, hydrat carbon, lipid, các ion vô cơ…Ở vi khuẩn trưởng thành, tế bào chất gồm các thành phần : Mesosome, ribosome, không bào, không bào khí, sắc tố và các thể hạt Mesosome : hình cầu, xuất hiện khi tế bào phân chia. Mesosome liên kết chặt chẽ với thể nhân, giữ vai trò quan trọng trong hình thành vách ngăn khi tế bào phân chia. Ribosom nằm tự do trong tế bào chất và gồm 2 tiểu thể lớn và nhỏ với hằng số lắng lần lượt là 50S và 30S, hai tiểu thể này kết hợp với nhau tạo thành ribosom với hằng số lắng 70S. S là đơn vị Svedberg- đại lượng đo tốc độ lắng khi ly tâm cao tốc. Thành phần hóa học của ribosome gồm ARN, protein, ngoài ra còn có một ít lipid, enzime, chất khoáng… Không bào (vacoule) : có vai trò điều hòa áp suất thẩm thấu trong tế bào, được bao bọc bởi lớp màng lipoprotein có tên tonoplasm, ben trong là chất thải và các chất độc hại. e. Tiên mao (flagella) Ở vi khuẩn B. anthracis có tiên mao phân bố khắp cơ thể nên được gọi là chu mao (peritrichia). Tiên mao có nguồn gốc từ chất nguyên sinh, bản chất là một loại protein có tên là flagellin Tiên mao là những sợi nguyên sinh chất rất mảnh xoắn lại với nhau, xuất phát từ lớp ngoại nguyên sinh chất (excytoplasm) rồi xuyên qua màng nguyên sinh chất và vách tế bào để ra ngoài. Ở gốc tiên mao có 1 hạt nhỏ gọi là hạt gốc có chức năng điều chỉnh hoạt động của tiên mao. Tiên mao cố định vào vách tế bào nhờ cái móc có đường kính lớn hơn đường kính ủa sợi tiên mao. Trên móc có 4 vòng nhẩn khác nhau (L, P, S, M), xuyên qua 4 vòng nhẩn là thanh lõi, đoạn dài mang 4 vòng nhẩn này được gọi là thể gốc. Sự di chuyển của vi khuẩn theo một trong hai cơ chế : do sự co duỗi của nguyên sinh chất qua các lỗ của thành tế bào hoặc do sự xoáy của tiên mao vào nước. Tốc độ xoáy của tiên mao là 3000 vòng/phút. f. Bào tử của B. anthracis (spores) :
  5. Bào tử là trạng thái tiềm sinh của vi khuẩn, phát triển trong tế bào dinh dưỡng, trong cơ thể động vật vi khuẩn không tạo bào tử. Khi vi khuẩn ra ngoài không khí thì sự sinh bào tử bắt đầu xảy ra, tốc độ tùy thuộc vào nhiệt độ và điều kiện khác của môi trường. * Cấu tạo Bào tử được bao bọc bằng nhiều lớp màng. Ngoài là lớp áo bào tử mỏng tương đương với lớp màng tế bào chất. Kế tiếp là lớp vỏ bào tử rất dày, gồm nhiều lớp, có tác dụng ngăn chặn sụ thẩm thấu, có khả năng đề kháng với sức nóng và các tác nhân gây chết khác. Dưới lớp vỏ là lớp màng trong. Trong cùng là khối tế bào chất có cấu tạo đồng nhất. Bào tử chứa nhiều Ca, Mg chứ ít K, P. Enzyme và các chất * Khả năng đề kháng của bào tử Bào tử có sức đề kháng cao với các tác nhân vật lý, hóa học như tia cực tím, bức xạ gamma, chất sát khuẩn và đề kháng mạnh với nhiệt, khô hạn…Bào tử có thể sống trong một thời gian rất dài khoảng 20 năm trong trãng thái tiềm sinh. Các yếu tố giúp bào tử chống chịu tốt với ngoại cảnh bất lợi :  Phức hợp acid dipicolinic – calcium có thể ổn định thành phần acid nucleic của bào tử.  Nước trong bào tử ở trạng thái liên kết nên không có khả năng làm biến tính của protein khi nhiệt độ môi trường tăng.  Các enzime và các chất hoạt động sinh học trong bào tử đều tồn tại ở trạng thái không hoạt động, do đó hạn chế sự trao đổi chất của bảo tử với môi trường ngoài.  Được cấu tạo bằng nhiều lớp màng và tính ít thấm của các lớp màng, là cho các chất độc, chất sát trùng khó có thể xâm nhập và gây tác động đến bào tử * Sự hình thành bào tử Sự hình thành bào tử bắt đầu khi sự tăng trưởng của tế bào bị dừng lại do thiếu chất dinh dưỡng. Đây là quá trình phức tạp gồm nhiều giai đoạn. Đầu tiên nguyên sinh chất và chất nhận được tập trung lại trong 1 vị trí nhất định. Tiếp theo là sự hình thành một màng bắt đầu từ nguyên sinh chất, màng này phân cách khối nhân và phần còn lại của vi khuẩn. Nguyên sinh chất tiếp tục cô đặc, đó là giai đoạn tiền bảo tử, sau đó tiền bào tử được bao bọc dần bởi các lớp màng có tính chiết quang lớn hơn và trở thành bào tử. Sau khi hình thành, bào tử phân bố khắp nơi trong không khí, nước, đất… Khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ nảy mầm, bào tử hút nước và trương lên, các enzime bắt đầu hoạt động, màng vỡ ra, bào tử nảy mầm thành tế bào dinh dưỡng mới. Nhiệt độ tối ưu cho việc nảy mầm là 22 oC pH > 6, đất giàu chất hữu cơ nhưng chúng không thể nảy mầm ở pH < 5, nhiệt độ < 8 oC, độ ẩm < 96%, hoặc Eh < 0,3V. 2. Cơ chế gây bệnh Năm 1954, Keppie và Smith chứng minh được bệnh than gây ra chủ yếu bởi sự nhiễm độc tố của vi khuẩn B. anthracis. Có 3 loại độc tố được tiết ra khi vi khuẩn Bacillus anthracis xâm nhập cơ thể  Kháng nguyên bảo vệ (PA) protective antigen.
  6.  Yếu tố gây phù (EF) edema factor.  Yếu tố gây chết (LF) lethal factor. B. anthracis sau khi xâm nhập vào cơ thể, Độc tố PA gắn vào màng tế bào và hoạt hóa ly giải protein tạo thành phần tiếp nhận (receptor) cho độc tố EF và LF chui vào bên trong làm tiêu hủy tế bào EF cùng với PA tạo thành độc tố gây phù (edema toxin) làm sưng phù và ngăn cản không cho các bạch cầu của cơ thể tới để diệt vi trùng. LF và PA tạo thành độc tố gây chết (lethal toxin). Ðộc tố gây chết là yếu tố độc lực và là nguyên nhân chủ yếu gây chết động vật bị nhiễm. Sự sản xuất các độc tố được điều hòa bởi 1 plasmid và sự tạo nang bởi plasmid thứ 2 (pXO1 và pXO2) Sau đó, Chúng đến cư trú, nhân lên và gây tổn thương (phù nề, hoại tử...) các hạch lympho trong khu vực. Các vi khuẩn thoát khỏi sự chống đỡ của cơ thể, từ hạch lympho theo đường bạch huyết và máu đến các cơ quan của cơ thể và gây bệnh. IV. Triệu chứng 1. Bệnh than ngoài da Chiếm 95% các trường hợp nhiễm bệnh than, thường do tiếp xúc với động vật mắc bệnh. Vị trí tổn thương thường ở đầu cổ, các chi. Tổn thương ban đầu trên da có dạng sẩn ngứa, không đau, xuất hiện sau khi nhiễm bào tử 3-5 ngày. Trong vòng 24-36 giờ, sẽ trở thành dạng bọng nước, bị hoại tử ở giữa, rồi khô đi để lại một vảy mục màu đen đặc trưng kèm phù chung quanh với những bọng nước đỏ tím. Nếu loét hoại tử có mủ, đau và bệnh nhân bị sốt chứng tỏ có bội nhiễm, thường là do tụ cầu hoặc liên cầu khuẩn (Edwards MS, 1992). Phù ở mặt, cổ thường lan rộng hơn so với phù ở thân hoặc các chi. Phù ác tính là biến chứng hiếm xảy ra, nhưng có thể gặp ở vùng cổ hoặc ngực kèm triệu chứng sốc và gây khó thở. Nhuộm Gram phát hiện được trực khuẩn ở mô dưới da.
  7. 2. Bệnh than đường tiêu hóa và họng-thanh quản Bệnh than đường tiêu hóa một thể bệnh nặng. Sau khi ăn thịt động vật mắc bệnh có chứa bào tử, có thể xảy ra các triệu chứng sốt, đau bụng lan tỏa kèm hồi ứng (rebound tenderness), táo bón hoặc tiêu chảy. Phân có màu bã cà phê hoặc lẫn máu. Sau khi khởi phát 2-4 ngày, có thể xuất hiện cổ trướng kèm với giảm đau bụng. Dịch cổ trướng có thể trong hoặc có mủ và khi cấy hoặc nhuộm Gram có thể phát hiện được B. anthracis. Khảo sát mô học có thể thấy trực khuẩn ở mô bạch huyết trong niêm mạc hoặc dưới niêm mạc ở vùng tổn thương; niêm mạc bị phù, hoại tử và thâm nhiễm tế bào viêm. Bệnh nhân chết do thủng ruột hoặc nhiễm độc ngoại độc tố. Nếu vẫn sống sót, triệu chứng thường lui dần trong vòng 10-14 ngày (Alizad A et al., 1995). Thể họng-thanh quản ít gặp hơn thể tiêu hóa, nhưng cũng do nuốt phải bào tử bệnh than. Những triệu chứng ban đầu gồm phù nề và sưng hạch bạch huyết vùng cổ, nuốt đau và khó thở. Có thể nhìn thấy tổn thương ở họng dưới dạng vết loét có màng giả. Thể bệnh này nhẹ hơn thể tiêu hóa. 3. Bệnh than đường hô hấp Thể bệnh này hiếm gặp trong tự nhiên nhưng có thể có tần suất cao trong trường hợp bào tử bệnh than được dùng làm vũ khi sinh học. Khi bào tử bệnh than được dùng dưới dạng khí dung, nó có thể lan xa trong khí quyển và thâm nhập vào đường hô hấp và gây bệnh với tỉ lệ tử vong cao. Trong vụ dịch do tai nạn tại Sverdlovsk (Liên Xô cũ) năm 1979, chỉ có 1/5 số bệnh nhân sống sót (Meselson et al., 1994). Mặc dù phổi là nơi nhiễm bào tử, nhưng bệnh than đường hô hấp không phải là viêm phổi thực thụ. Ða số trường hợp không có dấu hiệu viêm ở phổi (Abramova FA et al., 1993; Albrink WS, 1961). Trái lại, bào tử được đại thực bào phế nang bắt giữ và được đưa đến hạch bạch huyết quanh phế quản và hạch trung thất. Tại đây, chúng sẽ nảy mầm và trực khuẩn B. anthracis tăng sinh trong hạch bạch huyết, gây viêm bạch hạch xuất huyết, và lan đi khắp cơ thể bằng đường máu. Thời gian ủ bệnh ghi nhận được trong vụ dịch Sverdlovsk khoảng 10 ngày, nhưng triệu chứng có thể khởi phát muộn sau khi tiếp xúc đến 6 tuần. Thời gian ủ bệnh càng dài khi số lượng bào tử bị nhiễm càng ít. Triệu chứng lâm sàng ban đầu gần giống nhiễm siêu vi đường hô hấp trên với sốt, ho khan, đau cơ, mệt mỏi. X-quang lồng ngực từ đầu có thể thấy rộng trung thất (do viêm bạch hạch xuất huyết) và tràn dịch màng phổi. Sau 1-3 ngày, bệnh trở nặng với khó thở, ho the thé, rét run dẫn đến tử vong. 4. Thể viêm màng não
  8. Ðây là một biến chứng hiếm gặp. Ðường xâm nhập của trực khuẩn thường thấy nhất là qua da, nhưng cũng có thể xảy ra với thể bệnh ở đường tiêu hóa và ở phổi. Bệnh nhân hấu như sẽ tử vong trong vòng 1-6 ngày sau khi khởi phát, tuy được điều trị kháng sinh tích cực. Một số ít trường hợp sống sót được báo cáo khi điều trị phối hợp kháng độc tố, pednisone hoặc với cả hai. Ngoài các triệu chứng điển hình như viêm màng não mủ, còn có triệu chứng đau cơ, kích động, co giật hoặc mê sảng. Tình trạng thần kinh suy sụp nhanh và sau đó là tử vong. Tổn thương bệnh học là viêm màng não xuất huyết với phù lan rộng, thâm nhiễm tế bào viêm và có trực khuẩn Gram dương ở màng não. Dịch não tủy thường có máu và vi khuẩn. V. Phòng và trị bệnh 1. Phòng bệnh − Đảm bảo đúng chế độ kiểm dịch động vật. Các động vật bị bệnh không được giết mổ thịt. Động vật ốm chết vì bệnh than phải được chôn sâu, khử trùng tẩy uế đúng quy định.. − Công nhân các lò sát sinh, xưởng chế biến sản phẩm từ động vật (thịt, xương, da, lông...) cần thực hiện đúng các quy định bảo vệ, định kỳ kiểm tra sức khoẻ, các tổn thương da nhiễm khuẩn cần được điều trị tốt... − Khử trùng, tẩy uế các chất thải của người và động vật bị bệnh. − Phòng bệnh cho người và động vật có nguy cơ cao bằng vacxin. − Phòng bệnh khẩn cấp cho người tiếp xúc bằng Tetracyclin hoặc Penicilin. 2. Điều trị Penicillin là kháng sinh chọn lọc đối với tác nhân gây bệnh, và trực khuẩn bệnh than trong thiên nhiên rất hiếm khi đề kháng với penicillin. Ngoài ra, B. anthracis cũng nhạy cảm với đa số kháng sinh thường dùng, ngoại trừ một số thuốc đã có bằng chứng kháng thuốc in vitro như cefuroxime, cefotaxime, ceftazidime, aztreonam, trimetroprim + sulfamethoxazole. Cần dùng thuốc đường tĩnh mạch đối với thể tiêu hóa, thể hô hấp, thể màng não, hoặc thể ngoài da nhưng có biểu hiện toàn thân, phù lan rộng hoặc tổn thương ở vùng dầu, cổ. Kháng sinh cần được dùng liên tục ít nhất là 14 ngày sau khi không còn triệu chứng. Những thuốc khác có thể dùng là doxycycline, uống 100 mg ngày 2 lần, cũng trong 60 ngày. Loại thuốc penicillin như Amoxicillin 500 mg ngày 3 lần uống trong 60 ngày cũng có công hiệu. Tuy nhiên điều đáng chú ý là 2 loại thuốc sau chỉ có hiệu quả đối với vi trùng Bacillus anthracis gây ra anthrax ở dưới dạng tự nhiên. Nếu nghi ngờ kháng penicillin hoặc doxycylin, hoặc không thử được độ nhạy cảm, thì nên dùng ciprofloxacin. Theo khuyến nghị mới của Trung tâm Kiểm soát và Phòng Chống Bệnh (CDC) Hoa Kỳ, trong điều trị bệnh than thể hô hấp, ngay từ đầu nên dùng ciprofloxacin hoặc doxycyclin cộng với một hoặc hai kháng sinh khác có hoạt tính in vitro với B. anthracis. Ciprofloxacin tên thương mại là Cipro, uống ngày 2 lần, mỗi lần 500 mg. Thuốc này thường được dùng để chữa các bệnh nhiễm trùng đường tiểu, bệnh tiêu chảy do các vi trùng tiêu hoá Salmonella, Shigella..., bệnh lậu gonorrhea. Đối với vi trùng Bacillus anthracis gây ra anthrax, Cipro là thuốc công hiệu nhất. Tuy nhiên, thuốc này cũng có nhiều phản ứng phụ như một số người uống vào bị dễ bị ói mửa. Trẻ con uống có thể ảnh hưởng trên xương. Đàn bà có bầu cấm dùng thuốc này vì ảnh
  9. hưởng trên thai. Thời gian dùng thuốc là 60 ngày, tương đối khá dài vì để chặn những nhân tròn spores của vi trùng có thể đến gần 2 tháng sau mới sinh sôi nảy nở. Vì bệnh than là bệnh do nhiễm độc nên hiện nay có đề nghị dùng liệu pháp kháng độc tố. Các thử nghiệm dùng kháng sinh trên động vật ở các giai đoạn bệnh khác nhau đã phát hiện được nguyên tắc "không quay lại" của bệnh này, nghĩa là một khi tình trạng nhiễm bệnh phát triển đến một mức nào đó, thì con vật sẽ chết cho dù có diệt sạch vi khuẩn, và những con vật được tiêm toxin gây chết tinh khiết sẽ chết y hệt như những con vật nhiễm bệnh tự nhiên (Hanna PC et al, 1993; Hanna PC et al, 1994). Mặc dù vậy. hiện vẫn chưa có chế phẩm kháng độc tố nào được sản xuất.
Đồng bộ tài khoản