Bệnh Tự Kỷ

Chia sẻ: Nguyễn Thị Tú Uyên | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:3

0
529
lượt xem
135
download

Bệnh Tự Kỷ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

1) Bệnh Tự Kỷ Và Môi Trường Ô Nhiễm Thủy Ngân Gs Claudia Miller thuộc Đại Học Y Khoa Texas, Antonio, vừa tường trình trong báo Health @ Place nghiên cứu dịch tễ ô nhiễm thủy ngân liên hệ bệnh tự kỷ (Autism). Cuộc nghiên cứu bệnh tự kỷ này nhắm vào các học sinh trong 1200 trường học tại tiểu bang Texas, Hoa Kỳ. Kết quả cho thấy trung bình cứ vài ngàn cân mercury phế thải ô nhiễm lại tăng cao 17% nguy cơ bệnh tự kỷ. Hay nói cách khác có sự liên hệ trực tiếp...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bệnh Tự Kỷ

  1. Bệnh Tự Kỷ Bác sĩ Trần Mạnh Ngô 1) Bệnh Tự Kỷ Và Môi Trường Ô Nhiễm Thủy Ngân Gs Claudia Miller thuộc Đại Học Y Khoa Texas, Antonio, vừa tường trình trong báo Health @ Place nghiên cứu dịch tễ ô nhiễm thủy ngân liên hệ bệnh tự kỷ (Autism). Cuộc nghiên cứu bệnh tự kỷ này nhắm vào các học sinh trong 1200 trường học tại tiểu bang Texas, Hoa Kỳ. Kết quả cho thấy trung bình cứ vài ngàn cân mercury phế thải ô nhiễm lại tăng cao 17% nguy cơ bệnh tự kỷ. Hay nói cách khác có sự liên hệ trực tiếp giữa ô nhiễm thủy ngân và bành trướng số bệnh tự kỷ ở vùng Texas. Thủy ngân ô nhiễm ở vùng này có thể do những nhà máy than đá phế thải. (Mỗi năm khoảng 48 tấn thủy ngân phế thải trong không khí từ những nhà máy đốt than ở Mỹ). Health and Place, March 2005 (Bàn thêm: Bệnh tự kỷ trẻ em là do phát triển não khuyết tật. Bệnh nhân tự kỷ mất khả năng giao tế trong xã hội. Nhiều bệnh nhân tự kỷ có những cử chỉ bất thường khi học tâp, chú ý hay có những phản ứng cảm giác khác thường. Bệnh nhân thường lơ đãng, không muốn gần những người xung quanh. Bệnh nhân khó hoà nhập vơí xã hội như không thể nói hay diễn tả, không thể chơi vơí những trẻ lành mạnh, hay khó khăn trong những liên hệ đối vơí những người xung quanh. 40% trẻ tự kỷ không muốn nói năng gì. Nhiều khi không bắt kịp hay hiểu được những người xung quanh muốn nói gì. Trẻ tự kỷ làm việc gì hầu như cứ nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Trẻ chỉ muốn làm một việc có thứ tự hàng ngày thường làm. Nếu bố mẹ muốn thay đổi thứ tự khi làm một việc gì thì trẻ thấy khó chịu. Chẳng hạn hàng ngày rửa mặt rồi mơí mặc quần áo, nhưng nêu bố mẹ muốn trẻ mặc quần áo trước rồi lau mặt sau, thì bệnh nhân tỏ vẻ bất mãn ra mặt. Bệnh tử kỷ bắt đầu từ lúc còn nhỏ tuổi rồi lần lần giảm đi khi lớn tuổi. Hay nói chung trẻ em bị bệnh tự kỷ nhiều hơn người lớn. Bệnh cũng nặng nhẹ tùy theo từng người. Nghiên cứu tại Âu Châu và Á Châu cho biết cứ 1000 trẻ lại có 6 em bị bệnh tự kỷ. Nghiên cứu năm 1996 tại Atlanta cho thấy cứ 1000 trẻ em ở Mỹ lại 3 tới 4 em bị tự kỷ. Nghiên cứu năm 1998 ở New Jersey cho biết 6.7 trong số 1000 trẻ em tuổi từ 3 tới 10 lại có ít nhất một trẻ bị tự kỷ. Trong năm học 2000-2001 tại Hoa Kỳ 150,000 trẻ em từ 3 tới 5 tuổi bị tự kỷ và 78,000 trẻ em và người lớn từ 6 tới 21 tuổi bị bệnh tự kỷ. Chính phủ Mỹ phải mở ra những chương trình học tập hay huấn nghệ đặc biệt cho những trẻ em hay thanh niên bị tự kỷ. Nói chung thì trẻ em bị bệnh tự kỷ ở Hoa Kỳ càng ngày càng tăng cao. Vài chuyên gia cho rằng ít nhất bây giờ có 1 triệu rưỡi trẻ em ở Mỹ bị tự kỷ. Khoảng 1-2 tuần trước đây, chính phủ Mỹ muốn cắt giảm môi trường ô nhiễm do thủy ngân gây ra, 50% trong vòng 15 năm. Nhưng các chuyên viên cho rằng không đủ và muốn muốn cắt giảm thêm, tới 90%. Nghiên cứu môi trường ô nhiễm thủy ngân và bệnh tự kỷ có lẽ bắt nguồn từ những nghiên cứu bàn cãi rầm rộ trước đây không lâu về chất gốc thủy ngân thimerosal trong thuốc chủng ngừa bệnh Ban Ðỏ Measles, Quai Bị Mumps và Ban Ðỏ Rubella gọi tắt là MMR. Bàn cãi liên hệ bệnh tự kỷ và thuốc chủng ngừa MMR bắt đầu từ năm 1998. Một số bác sĩ và bệnh nhân khuyến cáo liên hệ bệnh tự kỷ và thuốc chủng MMR trong số 12 trẻ em. Triệu chứng bệnh tự kỷ xuất hiện ở trẻ em một tuổi sau khi chích ngừa mũi thuốc MMR
  2. lần đầu tiên. Viện Y Khoa Hoa Kỳ có đưa ra 2 kết quả nghiên cứu cho rằng có thể có liên hệ giữa bệnh tự kỷ và chất gốc thủy ngân thimerosal trong thuốc chủng ngừa MMR. (Ðể chất gốc thủy ngân trong những thuốc chủng ngừa là để giữ cho thuốc chủng không bị nhiễm trùng). Tuy nhiên, kết quả cho rằng chưa đủ dữ kiện kết luận liên hệ giữa chất thimerosal gốc thủy ngân và bệnh tự kỷ. Trong 5 nghiên cứu (phần 1) khác tìm hiểu liên hệ giữa thủy ngân thimerosal và tự kỷ và 14 nghiên cứu (phần 2) tìm hiểu liên hệ giữa thuốc chủng MMR và bệnh tự kỷ. Kết quả cho thấy xác suất trong những nghiên cứu hầu như không thể kết luận liên hệ chắc chắn giữa chất thimerosal và bệnh tự kỷ, mặc dầu 5 nghiên cứu thấy có sự liên hệ giữa bệnh tự kỷ với chất thimerosal và 2 nghiên cứu khác thấy có sự liên hệ giữa bệnh tự kỷ và thuốc chủng MMR. Kết quả nghiên cứu năm 1998 thấy có những triệu chứng bộ máy tiêu hóa của trẻ em dường như do liên hệ giữa bệnh tự kỷ và thuốc chủng MMR. Trong một nghiên cứu khác tại Ðại Học Y Khoa Harvard khám phá siêu vi trùng bệnh sởi ban đỏ trong đại tràng trẻ em bị bệnh tự kỷ, nhưng không thể đưa tới kết luận rõ ràng. Nói tóm lại, theo Viện Y Khoa Hoa Kỳ năm 2004 cho biết thì chưa thể chắc chắn để kết luận có liên hệ giữa chất gốc thủy ngân thimerosal và bệnh tự kỷ hay không? Dù sao, trong những năm gần đây, hầu hết các thuốc chủng ngừa không còn chứa chất thimerosal nữa. CDC khuyến cáo nên khám phá bệnh tự kỷ trẻ em sớm, 18 tháng sau khi mới sinh. Bởi vì hiện giờ phần lớn bệnh tự kỷ trẻ em chỉ khám phá ra lúc đã 4-6 tuổi. Chẳng hạn trẻ mới 2 tuổi bình thường có thể đọc tên được vật gì hay súc vật gì khi bố mẹ chỉ và hỏi. Mặc dầu trẻ mới nói được 2-4 chữ. Khi trẻ lớn 3 tuổi thì có thể bắt chước được động tác của bố mẹ hay nói được nhiều hơn). 2) Di Thể Bệnh Tự Kỷ (Autism) Khoa học gia D.Q. Ma cùng những cộng sự viên thuộc Ðại Học Y Khoa Duke nghiên cứu từng phần gene mã hóa thụ thể GABA trong 470 gia đình người da trắng. Trọng tâm của cuộc nghiên cứu là muốn tìm hiểu 14 di thể (genes) phản ứng tương tác liên hệ bệnh tự kỷ Autism. Các chuyên gia đã khám phá một trong những di thể (genes) quan trọng và căn bản nhất của bệnh tự kỷ đặt tên là GABRA4. Dường như nguy cơ bệnh tự kỷ tăng cao hơn khi GABRA4 phản ứng tương tác vơí một di thể khác GABRB1. GABRB1 là di thể thứ 2 của GABA. Khám phá kể trên mở đầu cho một loạt nghiên cứu tìm hiểu tương tác nhiều di thể khác nhau liên hệ bệnh tự kỷ. Lần đầu tiên, các khoa học gia đã liên hệ một phần nhiễm sắc thể (chromosome) số 15 với nguy cơ bệnh tự kỷ. Không phải chỉ có một di thể gây nguy cơ bệnh tự kỷ mà có thể ít ra 10 di thể hay 100 di thể liên hệ bệnh tự kỷ. The American Journal of Human Genetics, September 2005. (Bàn thêm: Tự kỷ là bệnh não bộ mất khả năng liên hệ giữa người nọ với người kia. Triệu chứng tự kỷ phát hiện nơi trẻ em trước 3 tuổi, đôi khi trễ hơn. Triệu chứng thường thấy đầu tiên khi trẻ có vấn đề tập nói hay tâm trí nảy nở khác thường, so với những trẻ em cùng tuổi. Trẻ không nói được dễ dàng như bị điếc mặc dầu thử nghiệm thính giác vẫn bình thường Ðộ thông minh trẻ bị tự kỷ kém hơn bình thường, 70%. Trẻ bị tự kỷ thường bị ưu trầm, buồn rầu. Khi lớn lên, đi học khó khăn hơn.
  3. Cơ nguyên bệnh tự kỷ do di truyền. Chất serotonin dẫn truyền trong tăng cao. Rất nhiều nghiên cứu khác hiện đang diễn tiến, tìm hiểu nguyên nhân bệnh tự kỷ). Trần Mạnh Ngô, M.D., Ph.D.
Đồng bộ tài khoản