BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP (VKDT) (Kỳ 4)

Chia sẻ: Barbie Barbie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
39
lượt xem
2
download

BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP (VKDT) (Kỳ 4)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

3. Hướng vào các Cytokine và Yếu tố hoại tử u (Tumor Necrosis Factor α) - Ức chế Interleukine 1 (IL-1) nhằm mục đích trung hòa và làm bất hoạt các IL1. + Chất ức chế thụ thể Interukin 1 người tái tổ hợp (Recombinant human IL1 Receptor Antagonist – IL-1 Ra). Sản phẩm: Anakinra (Kineret) 2001. + Ức chế các thụ thể Interleukin 1 hòa tan của người tái tổ hợp (Recombinant human IL-1 R1 – 1L-1 R1). - Ức chế Yếu tố hoại tử μ α (TNFα) bằng: + Các kháng thể đơn dòng kháng TNFα (Anti TNFα Monoclonal Antibodies-Mab). +...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP (VKDT) (Kỳ 4)

  1. BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP (VKDT) (Kỳ 4) 3. Hướng vào các Cytokine và Yếu tố hoại tử u (Tumor Necrosis Factor α) - Ức chế Interleukine 1 (IL-1) nhằm mục đích trung hòa và làm bất hoạt các IL1. + Chất ức chế thụ thể Interukin 1 người tái tổ hợp (Recombinant human IL- 1 Receptor Antagonist – IL-1 Ra). Sản phẩm: Anakinra (Kineret) 2001. + Ức chế các thụ thể Interleukin 1 hòa tan của người tái tổ hợp (Recombinant human IL-1 R1 – 1L-1 R1). - Ức chế Yếu tố hoại tử μ α (TNFα) bằng: + Các kháng thể đơn dòng kháng TNFα (Anti TNFα Monoclonal Antibodies-Mab). + Hỗn hợp giữa protein và thụ thể của TNF (TNF receptor fusion protein). + Hỗn hợp giữa thụ thể TNF R55 với Globulin miễn dịch G1 (TNF R55 – IgG1),
  2. + Kháng thụ thể TNF hòa tan của người tái tổ hợp. Các sản phẩm đã có mặt trên thị trường Etanercept (Enbret-Wyeth) 1998 Infliximab (Remicade) 1999 Abatacept (BMS) 2000. Adalimummab (Humira – Abbott) 2000. - Ribozome phản ứng với mRNA của TNFα để phá hủy tế bào TNFα trong tế bào. - Sử dụng các Cytokines và các chất kháng Cytokines. + Interleukin 10 (IL-10) hạn chế tác dụng gây thoái biến chứng sụn của các tế bào đơn nhân (được gọi Interleukin kháng viêm), trong khi IL-4 lại làm tăng tác dụng này. + Interleukin 4(IL-4) có thể ức chế men COX 2mRNA, ức chế sự sản xuất các Cytokine viêm IL-1β, IL-6, IL-8 và Prostaglandin E2 từ các tế bào hoạt dịch. + Interleukin 13 để ức chế sản xuất các Cytokines tiền viêm. - Interferon với các tác dụng chống virus, chống tăng sinh, chống viêm.
  3. 4. Hướng vào các phân tử kết dính (Adhesion molecules) Dùng kháng thể đơn dòng chống phân tử kết dính 1 giữa các tế bào (Anti Intercellular Adhesion molecele 1 Monoclonal Antibodies-ICAM Mab) để ngăn chặn sự tràn các tế bào viêm vào tổ chức khớp và làm giảm các đáp ứng viêm. 5. Cấy ghép các tế bào gốc máu tự thân (Autologous hematopoietic stem cell transplantation – ASCT) nhằm thay đổi các yếu tố di truyền của bệnh. 6. Các liệu pháp điều trị Gen với mục đích tăng sản xuất các phân tử kháng viêm ngay tại chỗ có phản ứng viêm như màng hoạt dịch. Các phân tử này cũng là các phân tử ức chế miễn dịch như IL-1Ra, sTNFR, sIL-1R, IL-10, IL-4, IL-13. 7. Phong bế chức năng tác động 8. Ức chế các men tiêu metalloprotein cơ bản (Matrix Metalloproteinases – MMPs) bằng Retinods và các dẫn xuất của Tetracycline (Doxycycline, Minocycline) 9. Các nguyên lý điều trị mới nhằm cải thiện hoạt động của tế bào - Cản trở hoạt động của tế bào T thông qua tương tác giữa phân tử B7 và phân tử CD28 (B7/CD28 interaction).
  4. - Ức chế chức năng của tế bào T bằng cách ngăn cản sự kết hợp giữa phân tử CD28 và phân tử B7 trong các tế bào hiển thị kháng nguyên (antigen-presenting cells-APC) bởi cấu trúc MuCTLA-4Ig (MuCTLA-4Ig construct). - Dùng kháng gp-39 MAb (Anti gp-39 MAb) để ức chế miễn dịch bằng cách chống sự tương tác giữa gp-39 với CD40. - Giảm quá trình chết tự nhiên của tế bào (Programmed cell death/apoptosis) trong các khớp viêm. 10. Các biện pháp không sinh học mới có nhiều triển vọng: - Cyclosporine: ức chế chức năng của Lympho T. - Rapamycin: ức chế chức năng của Lympho T và Lympho B. - Leflunomide: ức chế chức năng của nhiều loại tế bào do ức chế tổng hợp pyrimidine. Các thuốc này đều ảnh hưởng mạnh đến các đáp ứng miễn dịch nên sẽ có hiệu quả tốt nhất khi sử dụng sớm, có thể kết hợp với các thuốc DMARD để tăng hiệu lực điều trị bệnh VKDT trong tương lai. - Mycophenolate Mofetil ức chế chức năng của Lympho T và B do ức chế men Inosine monophosphate dehydrogenase, có vị trí trung tâm trong tổng hợp purines.
  5. - Thailidomide ức chế mRNA của TNFα vì thế có thể có tác dụng trong các bệnh tự miễn như VKDT. - Reumacon (CPH-82) là một glycoside bán tổng hợp và dẫn chất của podophyllum, đang được đánh giá lâm sàng trong các thử nghiệm so sánh với Placebo và Auranofin trong điều trị VKDT. - Các thuốc kháng viêm mới: ức chế chọn lọc men COX2, các thuốc kháng viêm mới (các thuốc kháng viêm cổ điển được thay đổi cách bào chế, kết hợp thay đổi cách hấp thu… để giảm bớt các tác dụng phụ). KẾT LUẬN Dự đoán các phương thức điều trị tương lai cho một bệnh còn chưa hoàn toàn biết rõ nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh như bệnh VKDT không phải là một việc dễ dàng. Tuy nhiên việc sử dụng thuốc chống thấp khớp cải thiện bệnh (DMARD) cổ điển (đơn độc hoặc phối hợp với nhau) hoặc phối hợp với các thuốc mới như Cyclosporine, Mycophenolate Mofetil, Leflunomide… đã trở thành những điều trị chủ yếu cho bệnh VKDT. Những năm gần đây, những biện pháp điều trị sinh học kháng lại yếu tố hoại tử u α (TNFα), kháng IL 1… đã được đưa vào điều trị với kết quả đáng khích lệ. Các thuốc này, hoặc dùng đơn độc hoặc kết hợp với Methotrexate sẽ rất hiệu quả với bệnh VKDT, tuy nhiên việc kết hợp này
  6. làm tăng chi phí điều trị rất nhiều và có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng nặng nên cần rất thận trọng khi chỉ định và người bệnh càng cần được theo dõi sát… TS.BS. Lê Anh Thư Trưởng khoa Nội cơ Xương Khớp BV. Chợ Rẫy TP.Hồ Chí Minh
Đồng bộ tài khoản