Bệnh viêm tuyến giáp (Thyroiditis) (Kỳ 3)

Chia sẻ: Barbie Barbie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
50
lượt xem
6
download

Bệnh viêm tuyến giáp (Thyroiditis) (Kỳ 3)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

2.1.4. Cận lâm sàng: + Nồng độ T3, T4 và thyroglobulin huyết thanh có thể tăng. Nồng độ iod trong huyết thanh và trong nước tiểu, nồng độ TSH huyết thanh giảm. Sau giai đoạn cấp tính, nồng độ T3, T4 trở về bình thường đôi khi thấp hơn mức bình thường, còn nồng độ TSH tăng lên sau 2- 4 tuần. + Chỉ số hấp thu 131I của tuyến giáp ở các thời điểm thấp hơn so với bình thường. + Chọc hút tuyến giáp thấy thâm nhiễm nhiều tế bào lympho và đa nhân trung tính. Có sự hiện...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bệnh viêm tuyến giáp (Thyroiditis) (Kỳ 3)

  1. Bệnh viêm tuyến giáp (Thyroiditis) (Kỳ 3) TS. Hoàng Trung Vinh (Bệnh học nội khoa HVQY) 2.1.4. Cận lâm sàng: + Nồng độ T3, T4 và thyroglobulin huyết thanh có thể tăng. Nồng độ iod trong huyết thanh và trong nước tiểu, nồng độ TSH huyết thanh giảm. Sau giai đoạn cấp tính, nồng độ T3, T4 trở về bình thường đôi khi thấp hơn mức bình thường, còn nồng độ TSH tăng lên sau 2- 4 tuần. + Chỉ số hấp thu 131I của tuyến giáp ở các thời điểm thấp hơn so với bình thường. + Chọc hút tuyến giáp thấy thâm nhiễm nhiều tế bào lympho và đa nhân trung tính. Có sự hiện diện của các u hạt và tế bào khổng lồ nhiều nhân.
  2. + Kháng thể kháng tuyến giáp dương tính ở 10-20% số bệnh nhân viêm tuyến giáp. Kháng thể kháng microsom của tuyến giáp và thyroglobulin không có hoặc tăng với hiệu giá thấp. + Đa số bạch cầu bình thường, cá biệt có trường hợp tăng tới 18.109/l; tốc độ lắng máu tăng. + Rối loạn chức năng của gan thường hết đi nhanh ngay trong những giai đoạn đầu của bệnh. 2.1.5. Tiến triển: Đa số các trường hợp viêm tuyến giáp bán cấp kéo dài 2-4 tháng, cá biệt có trường hợp kéo dài tới một năm, 50% các trường hợp có nhiễm độc giáp với các triệu chứng chỉ kéo dài 4-10 tuần. Từ 10-20% các trường hợp bệnh ổn định sau dùng corticoid lại bị tái phát. Một số ca nặng có thể xuất hiện suy chức năng tuyến giáp kéo dài 1-2 tháng. 5-10% các trường hợp có thể suy giáp vĩnh viễn. 2.1.6. Chẩn đoán: Các trường hợp điển hình, việc chẩn đoán không khó khăn, chủ yếu dựa vào: đau vùng cổ lan ra góc hàm và tai, tuyến giáp sưng to, mật độ chắc. Xét
  3. nghiệm có máu lắng tăng, tăng nồng độ T3, T4, giảm độ hấp thu I131 của tuyến giáp. Trong trường hợp cần thiết có thể chẩn đoán bằng tế bào học tuyến giáp. 2.1.7. Điều trị: + Với mục đích giảm đau, chống viêm: dùng salicylate hoặc nonsteroid. Thường dùng aspirin liều lượng 2- 4 gam/ ngày. + Prednisolon hoặc các loại cortico-steroid tổng hợp khác: liều bắt đầu của prednisolon 40-60 mg/ngày trong một tuần, sau đó giảm liều, dùng trong 4 tuần, uống một lần/ngày. Có khoảng 10% số bệnh nhân bệnh sẽ nặng hơn khi prednisolon giảm tới liều 10-20mg/ngày hoặc là ngay sau khi ngừng thuốc điều trị, nghĩa là bệnh lại tái phát. Trong trường hợp này cần phải tăng liều prednisolon và tiến hành điều trị lại trong một số tháng, kết quả thường sẽ hồi phục tốt. + Nếu có biểu hiện cường chức năng tuyến giáp phải dùng thêm thuốc blốc thụ thể bêta: propranolol liều 40-160 mg/ngày kết hợp với thuốc kháng giáp tổng hợp thời gian 1-2 tuần. + Nếu có suy giáp cần dùng hormon: L-T3 liều 50-75 mcg/ ngày hoặc L-T4 liều 100- 200mcg/ ngày. Thời gian dùng phụ thuộc vào sự tồn tại của tình trạng suy giảm chức năng tuyến giáp.
  4. 2.2. Viêm tuyến giáp thầm lặng (silent thyroiditis): + Định nghĩa: viêm tuyến giáp thầm lặng là tình trạng viêm bán cấp tuyến giáp không đau với biểu hiện hội chứng cường giáp thoáng qua. Các danh pháp tương tự: viêm tuyến giáp thầm lặng không đau, viêm tuyến giáp bán cấp không điển hình, viêm tuyến giáp thâm nhiễm lympho bào. Nếu xảy ra ở phụ nữ sau đẻ còn gọi là viêm tuyến giáp sau đẻ. + Tỷ lệ: ở Mỹ bệnh viêm tuyến giáp thầm lặng chiếm 20% trong số bệnh nhân viêm tuyến giáp nói chung. Cứ 100 bệnh nhân nhiễm độc giáp thì có 2-3 ca do viêm tuyến giáp thầm lặng. Trong những năm từ 1970-1980 tại bệnh viện Marshfield đã thống kê được 9 bệnh nhân viêm tuyến giáp thầm lặng sau đẻ có nhiễm độc giáp thoáng qua. Cứ 5-10 ca viêm tuyến giáp bán cấp thì có một ca viêm tuyến giáp thầm lặng. Năm 1976 tại Mỹ, bệnh chiếm 14-15% các trường hợp nhiễm độc giáp nói chung, năm 1984 còn 2,4%, tại Nhật Bản con số đó là 10,7%. Tỷ lệ mắc bệnh giữa nữ và nam là 1,5- 2/1. Đa số bị bệnh ở tuổi 30-60; tuy vậy đã có thông báo bệnh nhân trẻ nhất là 5 tuổi, già nhất là 93 tuổi.
Đồng bộ tài khoản