Bị huyết áp cao, nên uống gì?

Chia sẻ: Ka Ka | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
303
lượt xem
23
download

Bị huyết áp cao, nên uống gì?

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Những người có huyết áp cao cần được cung cấp đầy đủ chất khoáng và vitamin từ rau củ, trái cây... đồng thời nên hạn chế lượng muối và chất béo động vật, tránh hoặc hạn chế dùng các chất kích thích như: cà phê, rượu... Sau đây là một số loại thức uống người bệnh huyết áp cao nên dùng. 1. Nước ép từ cần tây, táo, chanh Nguyên liệu: 1 quả táo, nửa trái chanh và một bó cần tây nhỏ vừa đủ, một ít nước đá. Cách làm: Táo gọt bỏ vỏ và lõi bên trong, chanh...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bị huyết áp cao, nên uống gì?

  1. Bị huyết áp cao, nên uống gì? Những người có huyết áp cao cần được cung cấp đầy đủ chất khoáng và vitamin từ rau củ, trái cây... đồng thời nên hạn chế lượng muối và chất béo động vật, tránh hoặc hạn chế dùng các chất kích thích như: cà phê, rượu... Sau đây là một số loại thức uống người bệnh huyết áp cao nên dùng.
  2. 1. Nước ép từ cần tây, táo, chanh Nguyên liệu: 1 quả táo, nửa trái chanh và một bó cần tây nhỏ vừa đủ, một ít nước đá. Cách làm: Táo gọt bỏ vỏ và lõi bên trong, chanh bỏ vỏ. Cần tây rửa sạch, cho tất cả vào máy ép trái cây để ép lấy nước, cho ra ly và thêm nước đá vào để dùng. Lưu ý, nên chọn loại táo xanh, có vị hơi chua sẽ có nhiều chất khoáng và vitamin hơn, hỗ trợ tốt cho tim. 2. Sinh tố lê, bưởi Nguyên liệu: 1/2 quả lê, 1/2 trái bưởi, 2 muỗng nhỏ nước chanh, 50ml nước sôi để nguội, một ít nước đá. Cách làm: Gọt bỏ vỏ và hạt của lê, cắt lê thành từng lát, rồi rưới nước chanh lên, bưởi chỉ lấy phần tép bên trong. Cho bưởi, lê cùng 50ml nước vào máy xay sinh tố xay để dùng, thêm vài viên đá lạnh. 3. Nước ép cà chua, chanh Nguyên liệu: Hai trái cà chua, nửa quả chanh tươi, nước đá và một ít muối. Cách làm: Rửa sạch cà chua, bỏ cuống. Chanh gọt vỏ, cắt lát, cho cả hai loại vào máy ép lấy nước, cho thêm vài viên đá. Có thể thêm một ít muối.
  3. Coi Chừng Ngộ Độc Do Thừa Vitamin Vitamin là những chất dinh dưỡng cần thiết cần được cung cấp hàng ngày để cơ thể phát triển và hoạt động bình thường. Tuy lượng cung cấp nhỏ, thậm chí rất nhỏ nhưng số vitamin cần thiết có đến 13, gồm 4 vitamin tan trong dầu là A, D, E, K và 9 vitamin tan trong nước như vitamin C, các vitamin nhóm B (B1, B2, B5, B6, PP…). Do cơ thể không tự tổng hợp được vitamin (ngoại trừ phơi nắng thích hợp, ta có thể biến tiền vitamin D ở da thành vitamin D) nên phải ăn uống đầy đủ và cân bằng dưỡng chất để được cung cấp đủ vitamin. Nếu được cung cấp qua thức ăn, thức uống, ta không sợ thừa vitamin. Nhưng nếu dùng thuốc bổ sung vì trường hợp bổ sung quá nhiều vitamin, đặc biệt bổ sung quá liều khuyến cáo hàng ngày (như vitamin C hàng ngày chỉ cần bổ sung 60mg) cho người không thiếu vitamin, có thể gây tình trạng thừa vitamin nhiều khi gây nguy hiểm không kém tình trạng thiếu vitamin. Sau đây là một số bệnh lý có thể gọi là ngộ độc, do thừa vitamin. Thừa vitamin A: Do vitamin A tan trong dầu dễ tích lũy lại trong cơ quan có mỡ (như gan) đưa đến quá liều gây ngộ độc. Ở trẻ em, thừa vitamin A gây tăng áp lực nội sọ, gây lồi thóp ở trẻ sơ sinh, gây viêm teo dây thần kinh thị giác. Đối với phụ nữ có thể gây quái thai, đặc biệt dùng quá liều trong 3 tháng đầu thai kỳ. Thừa vitamin D: Ở trẻ em gây chán ăn, mệt mỏi, nôn ói, xương hóa sụn sớm. Người lớn dùng quá liều lâu ngày cũng bị chán ăn, nôn ói, tiêu chảy. Phụ nữ có thai dùng quá thừa vitamin D sẽ bị vôi hóa nhau thai. Nói chung theo một số nhà khoa học, thừa vitamin không còn tạo xương mà là tiêu xương (do tăng canxi
  4. máu). Thừa vitamin K: Thường gặp khi tiêm vitamin K kéo dài có thể gây tán huyết, vàng da. Thừa vitamin E: Quá thừa đưa đến rối loạn tiêu hóa, nhức đầu, rối loạn thị giác. Thừa vitamin B6: Có thể dẫn đến viêm đa dây thần kinh, giảm trí nhớ, giảm tiết prolactin. Thừa vitamin B12: Thường do tiêm liều cao gây hoạt hóa hệ đông máu có thể là tăng sự đông máu tắc mạch. Thừa vitamin C: Do không có hiện tượng tích lũy gây thừa vitamin C trong cơ thể, nhưng nếu dùng liều cao dài ngày (quá 1g/ngày) sẽ bị viêm loét dạ dày, tiêu chảy, sỏi thận (sỏi oxalat). Nếu dùng đường tiêm liều cao có thể gây tán huyết, làm giảm thời gian đông máu. Riêng đối với người cao tuổi, các cơ quan thải trừ thuốc hoạt động kém, dễ đưa đến tích lũy thuốc trong cơ thể, đặc biệt đưa đến thừa vitamin. Cách bổ sung vitamin tốt nhất là qua thức ăn, thức uống. Nếu sợ thiếu vitamin và cả chất khoáng, có thể dùng thuốc bổ sung nhưng nên dùng đúng liều. Cần lưu ý thận trọng với dạng thuốc sủi bọt bổ sung vitamin. Do dạng thuốc sủi bọt luôn chứa tá dược rã sinh khí là Natri bicarbonat và Natri carbonat (khi hòa vào nước sẽ phản ứng với acid citric cũng là tá dược phóng thích khí CO2 gây sủi bọt). Vì vậy, trong thuốc sủi bọt luôn chứa natri (mỗi viên thuốc sủi bọt có chứa từ 274 đến 460mg natri), có thể gây tăng huyết áp đối với người bị sẵn bệnh lý này và
  5. đang kiêng muối. Người cao tuổi đang điều trị bệnh tăng huyết áp tuyệt đối không dùng thuốc bổ sung vitamin dạng sủi bọt.
Đồng bộ tài khoản