Bí quyết để nuôi tôm thẻ chân trắng(P.vannamei)

Chia sẻ: Phan The Nghia Nghia | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:11

1
994
lượt xem
373
download

Bí quyết để nuôi tôm thẻ chân trắng(P.vannamei)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ba nguyên tắc đó được thể hiện trong quá trình nuôi là : giai đoạn mới thả phải cho con giống ăn đầy đủ kể cả thức ăn công nghiệp, giai đoạn nuôi tôm trưởng thành phải cho ăn nhiều hơn vì tôm chân trắng là loại tôm chân khỏe, giai đoạn cuối phải vỗ tích cực, cho ăn đầy đủ các loại thức ăn tổng hợp có bổ sung thêm chế phẩm sinh học.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bí quyết để nuôi tôm thẻ chân trắng(P.vannamei)

  1. Bí quyết để nuôi tôm thẻ chân trắng(P.vannamei) theo phương pháp sạch bệnh năng suất cao  gồm 3 yếu tố : 1. Nuôi vỗ tích cực;  2. Nâng cao khả năng miễn dịch của tôm;  3. Rút ngắn thời gian nuôi.  Ba nguyên tắc đó được thể hiện trong quá trình nuôi là : 1. Giai đoạn mới thả phải cho con giống ăn đầy đủ kể cả thức ăn công nghiệp và thức ăn  cao đạm tươi sống như hầu, hà, cá tươi xay nhuyễn để có giống khoẻ , giống chóng lớn.  2. Giai đoạn nuôi tôm trưởng thành phải cho ăn nhiều hơn vì tôm chân trắng là loại tôm ăn  khoẻ nên phải baỏ đảm đủ thức ăn cho tôm. Tỉ lệ cho ăn hằng ngày nên chú ý nhiều về  buổi tối chiếm 70% ban ngày 30%. Thức ăn phải cho thêm thuốc kháng sinh phòng  bệnh cho tôm để nâng cao khả năng phòng bệnh và khả năng miễn dịch của tôm.  3. Giai đoạn cuối phải vỗ tích cực, cho ăn đầy đủ các loại thức ăn tổng hợp có bổ sung  thêm các loại chế phẩm sinh học kích thích tôm lột xác chóng lớn rút ngắn thời gian  nuôi.  Với các biện pháp trên, thời gian nuôi ở các ao thông thường là 60 ngày, ở ao nuôi công nghiệp  mật độ cao khoảng 80 ngày có thể thu hoạch, cỡ tôm 50 con/kg. 1. Mật độ con giống  Ao nuôi tôm thịt phải tẩy dọn sạch sẽ, sát trùng kỹ; bón phân gây màu nước. Khi độ pH > 7­ 8  mới được thả tôm giống. Chọn ngày có nhiệt độ nước trên 22oC; độ mặn giống như độ mặn ao  ương trung gian; nước sâu trên 80 cm mới thả tôm giống. Trước hết thả một số tôm giống vào giai đặt trong ao nuôi một ngày để thử nước trước. Mật độ thả : Tôm P.vannamei có tỷ lệ sống cao nên mật độ phụ thuộc vào độ sâu của nước ao  và thiết bị nuôi. Ao sâu trên dưới 1m, mật độ thường là 12 con/m2; ao sâu trên 1,2m mật độ từ 12 con ­ 18 con/ m2; ao cao sản khép kín mật độ là 50 ­ 65 con/m2. Tôm giống tốt nhất là tôm cho đẻ cùng một đợt và thả một lần đủ số lượng nuôi. Nơi thả giống thường là nơi sâu nhất của ao và đầu ngọn gió. Khi tôm giống được vận chuyển đến ao nuôi để nguyên cả túi nilông đựng tôm thả xuống ao một  thời gian để cho nhiệt độ trong túi và nhiệt độ nước ao cân bằng mới nhẹ nhàng mở túi để tôm tự  bơi lội ra ao. 2. Quản lý chăm sóc  2.1 Những yêu cầu về chất lượng nước ao nuôi tôm P.vanamei :  ­ Nhiệt độ nước từ 20 ­ 30oC; ­ Ðộ mặn từ 5 ­ 30 tốt nhất là 10 ­ 25 ; ­ pH 8,0 0,3, dưới 7 không thích hợp với tôm P.vannamei; ­ Ôxy hoà tan 4 mg/l, không dưới 2 mg/l; ­ BoD 5 30 mg/l;
  2. ­ CoD 
  3. Biện pháp khống chế H2S và NH3 như sau : + Mật độ tôm giống phải hợp lý, thức ăn cho tôm ăn hằng ngày phải hợp lý; sử dụng vi khuẩn  quang hợp bón xuống ao để giảm thiểu ô nhiễm đáy ao; + Chú ý cải tạo đáy ao bằng cách giữa vụ nuôi bón thêm vôi CaCo3 hoặc bột đá để ôxy hoá các  chất lắng đọng ở đáy ao; lượng vôi dùng cho mỗi m3 là 30 ­ 40g; + Dùng thức ăn nuôi tôm chất lượng cao, giảm thiểu ô nhiễm chất nước, ô nhiễm đáy ao. 3. Quản lý thức ăn  Một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại của việc nuôi tôm là thức ăn. Thức  ăn tốt chất lượng cao là thức ăn chế biến đúng thành phần, đủ chất, đủ lượng, quá trình phối chế  khoa học, vệ sinh, hệ số thức ăn thấp. Thức ăn chất lượng tốt nhưng phải có cách cho ăn khoa học, hợp lý, phù hợp với giai đoạn phát  triển của tôm, phù hợp với trạng thái sinh hoạt của tôm, không thiếu, không thừa vừa thúc đẩy  tôm lớn nhanh vừa bảo vệ được môi trường ao nuôi, không gây ô nhiễm, không gây lãng phí để  đội giá thành của tôm lên cao là không kinh tế. Tính toán thức ăn cho tôm hợp lý cần phải nắm  vững 5 điểm sau : ­ Số lượng tôm có trong ao; ­ Kích cỡ của tôm lớn/bé; ­ Tình trạng sức khoẻ của tôm và tình hình lột xác của tôm; ­ Chất lượng nước ao nuôi; ­ Tình hình dùng thuốc cho tôm trong thời gian qua. Số lượng thức ăn có quan hệ đến chiều dài tôm như sau : + Tôm có chiều dài 1 ­ 2cm, lượng thức ăn cho ăn hằng ngày bằng 150 ­ 200% trọng lượng tôm; + Tôm có chiều dài 3cm, lượng thức ăn cho ăn hằng ngày bằng 100% trọng lượng tôm; + Tôm có chiều dài 4cm, lượng thức ăn cho ăn hằng ngày bằng 50% trọng lượng tôm; + Tôm có chiều dài 5cm, lượng thức ăn cho ăn hằng ngày bằng 32% trọng lượng tôm. 4. Những điều cần chú ý khi cho tôm ăn  Từ nguyên tắc lượng ít, lần nhiều cần phải chú ý không cho tôm ăn khi :  Thức ăn kém phẩm chất, bị mốc hoặc bị thối ;   Nước ao bị ô nhiễm nặng;   Trời đang mưa to, gió lớn;   Tôm đang nổi đầu;   Tôm đang lột xác.  Cho tôm ăn ít khi : Giai đoạn tôm còn nhỏ. Cho tôm ăn nhiều khi : ­ Giai đoạn tôm bắt đầu trưởng thành đến cuối kỳ nuôi : ­ Trời nắng ấm, gió nhẹ; ­ Tôm khoẻ chất nước tốt. Thời gian cho ăn 5 đến 6 lần trong ngày, tỉ lệ thức ăn trong ngày phân bổ như sau :
  4. + Từ 18h00 đến 19h00 cho ăn 35%; + Từ 23h00 đến 00h00 cho ăn 15%; + Từ 4h00 đến 5h00 cho ăn 25%; + Từ 10h00 đến 11h00 cho ăn 15%; + Từ 14h00 đến 15h00 cho ăn 10%. Nhìn chung, số lượng thức ăn chủ yếu bón về ban đêm chiếm 70 ­ 80% ban ngày chỉ chiếm 20 ­  30%. 5. Cách xác định thức ăn thừa thiếu  Mỗi ao có diện tích 1.500m2, dùng một vó kiểm tra thức ăn để kiểm tra. Vó đặt cách bờ ao 3 ­  4m nơi gần máy quạt nước là nơi có nhiều tôm đến ăn. Thức ăn cho vào vó khoảng 1­ 2% mỗi  lần cho ăn. Thời gian kiểm tra thức ăn trong vó phụ thuộc vào cỡ tôm. Tôm nuôi trong tháng đầu, có chiều dài khoảng 5cm. Thời gian kiểm tra 3 giờ một lần. Tôm nuôi  trong khoảng 40­ 50 ngày có chiều dài trên 8cm. Thời gian kiểm tra 2­ 2,5 giờ một lần. Tôm nuôi  trong khoảng 60 ngày, có chiều dài trên 9cm. Thời gian kiểm tra 1,5 giờ một lần, đến hết thời  gian kiểm tra nói trên, thức ăn trong vó vừa hết là đủ. 6. Cách xác định tỷ lệ sống của tôm  ­ Thả tôm giống vào giai đặt trong ao nuôi có mật độ giống như tôm nuôi trong ao, sau mười  ngày xác định một lần; tỷ lệ sống trong gia nói chung kém ngoài ao 5­ 10%; ­ Dùng chài quăng nhiều lần ở nhiều điểm khác nhau trong ao để tính ra tỷ lệ sống của tôm  trong ao theo công thức : Số tôm đánh được bình quân trong một chài (con) Tỉ lệ sống = ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­ ­  ­­ ­ ­ ­   x Diện tích Diện tích chài (m2) ao (m2)K   K là hệ số kinh nghiệm nếu :  Nước sâu 1m, chiều dài của tôm 6­ 7cm, hệ số K=1,4;   Nước sâu 1m, chiều dài của tôm 8­ 9cm, hệ số K=1,2;   Nước sâu 1,2m, chiều dài của tôm 6­ 7cm, hệ số K=1,5;   Nước sâu 1,2m, chiền dài của tôm 8­ 9cm, hệ số K=1,3.  V.Q.N (Thông tin KHCN thuỷ sản số 4/2002 )  Cẩn thận khi nuôi tôm thẻ chân trắng Chủ Nhật, 27/7/2008, 10:18 (GMT+7)
  5. (TBKTSG) - Sau một thời gian “e dè” với tôm thẻ chân trắng, mới đây Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN & PTNT) đã cho phép vùng ĐBSCL được thả nuôi loại tôm này. Nhiều nông dân đang háo hức trước thông tin này, nhưng cũng không ít ý kiến lo ngại... Lợi thế của tôm thẻ chân trắng Thực ra từ khoảng năm 2001, tôm thẻ chân trắng đã xuất hiện tại tỉnh Bạc Liêu, do Công ty Nuôi trồng thủy sản Duyên Hải nhập về nuôi thử nghiệm. Tiếp theo, một số vùng ở Tiền Giang cũng thả nuôi. Tuy nhiên, ngay sau đó, trước nhiều ý kiến lo ngại về ảnh hưởng môi trường của loại thủy sản này, nhất là nguy cơ Thu hoạch tôm thẻ chân trắng ở Sóc Trăng. Ảnh: Lê Hoàng lan truyền hội chứng Taura không có thuốc đặc trị, Bộ Vũ. Thủy sản (cũ) đã thắt chặt quản lý, chỉ cho phép nuôi thử nghiệm tại một số tỉnh miền Trung. Tại ĐBSCL, một số nông dân lén thả nuôi tôm thẻ chân trắng đã bị cơ quan chức năng xử phạt rất nghiêm... Nhưng từ khoảng năm 2007, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) đã bắt đầu lên tiếng về chuyện con tôm sú đang bị cạnh tranh ráo riết và nguy cơ thua thiệt ngày càng tăng khi Việt Nam vẫn quay lưng với tôm thẻ chân trắng. Thái Lan, Trung Quốc đã phát triển rất nhanh diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng và chiếm lĩnh dần thị phần xuất khẩu bởi giá rẻ hơn từ 10-15% so với tôm sú Việt Nam. Trong khi đó, một số mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thử nghiệm ở miền Trung lại đem về thu nhập hấp dẫn cho nông dân... Cuối cùng, tháng 1-2008 Bộ NN & PTNT đã ban hành Chỉ thị số 228, cho phép nuôi tôm thẻ chân trắng nhằm đa dạng hóa sản phẩm thủy sản xuất khẩu. Tại cuộc họp trực tuyến với một số tỉnh, thành vùng ĐBSCL vào tháng 7 này, ông Cao Đức Phát, Bộ trưởng Bộ NN & PTNT, thừa nhận rằng thị trường thế giới đang thiên về hướng tiêu thụ tôm thẻ chân trắng. Do đó, nếu Việt Nam không phát triển nhanh sẽ bỏ lỡ thời cơ, giảm thu nhập của nông dân. Hiện tại, chủ trương của bộ là đẩy mạnh phát triển tôm thẻ chân trắng nhưng kiểm soát chặt chẽ về con giống, môi trường, quy hoạch... Tính đến thời điểm này, một số mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng tại ĐBSCL đã đem lại hiệu quả. “Chúng tôi nuôi khoảng 100 héc ta và năng suất vụ vừa qua đạt bình quân 10 tấn/héc ta”, ông Lê Văn Quang, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Thủy hải sản Minh Phú (Cà Mau), cho biết. Theo đánh giá ban đầu của ông Quang, đây là loại tôm dễ nuôi, ít rủi ro hơn so với nuôi tôm sú. Theo thạc sĩ Hồ Mỹ Hạnh, cán bộ Trung tâm Dạy nghề và Chuyển giao công nghệ nuôi thủy sản ĐBSCL, một số mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở Kiên Giang như của Công ty Trung Sơn, khoảng 140 héc ta, cũng đem lại hiệu quả cao, năng suất đạt khoảng 10 tấn/héc ta chỉ sau ba tháng... Theo ước tính sơ bộ, mỗi héc ta nuôi tôm thẻ chân trắng đạt lợi nhuận khoảng 150 triệu đồng. Tính đến hết tháng 6-2008, “Lợi thế của tôm thẻ chân trắng so với tôm sú là chịu được biên độ mặn rộng hơn diện tích nuôi tôm thẻ chân nên có thể nuôi cả ở vùng nước ngọt, mật độ nuôi cao hơn (từ 100-200 con/mét trắng của Việt Nam đã đạt vuông), thức ăn không cần có hàm lượng đạm cao (chỉ cần 30-35% đạm), chịu hơn 12.400 héc ta và đã thu được biến động nhiệt độ tốt hơn”, Tiến sĩ Trần Ngọc Hải, Trưởng bộ môn Kỹ thuật hoạch hơn 12.300 tấn. Giá nuôi hải sản (khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ) cho biết. bán tôm thẻ chân trắng nguyên liệu loại 40 con/ki lô gam khoảng 80.000-85.000 Ông dẫn chứng, nếu nhiệt độ xuống 20 độ C thì con tôm sú đã bỏ ăn trong khi tôm đồng. thẻ chân trắng vẫn phát triển bình thường. Trong ba tháng đầu, tôm thẻ chân trắng cũng lớn rất nhanh và người nuôi có thể thu hoạch sau 3-3,5 tháng. Ông Trần Thiện Hải, Chủ tịch VASEP, cho biết các doanh nghiệp cũng đã sẵn sàng trong việc thu mua và xuấ t khẩu tôm thẻ chân trắng. “Giá thành bước đầu có thể khó cạnh tranh với Thái Lan... nhưng cái được trước mắt là chúng ta có thêm mặt hàng xuất khẩu mới”, ông nói. Theo Cục Nuôi trồng thủy sản, tính đến hết tháng 6-2008, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng của Việt Nam đã đạt hơn 12.400 héc ta và đã thu hoạch hơn 12.300 tấn. Dù giá bán tôm thẻ chân trắng nguyên liệu loại 40 con/ki lô gam chỉ khoảng 80.000-85.000 đồng, thấp hơn tôm sú, nhưng do thời gian nuôi ngắn hơn nên người nuôi vẫn hăm hở.
  6. Ảnh hưởng của mật độ đến sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu  trùng tôm chân trắng  Litopenaeus vannamei (Boone, 1931)    I. Mở đầu Trong sản xuất giống tôm chân trắng, để tạo ra con giống tốt, đạt tỷ lệ sống cao, hạn chế xảy ra  dịch bệnh thì việc nghiên cứu tìm ra mật độ ương ấu trùng thích hợp là một trong những khâu  quan trọng quyết định sự thành bại của sản xuất và góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật sản  xuất giống nhân tạo tôm chân trắng ở nước ta. II. Phương pháp nghiên cứu 1. Ðịa điểm nghiên cứu Ðịa điểm nghiên cứu: Trại sản xuất giống Viện nghiên cứu NTTS III. 2.Bố trí thí nghiệm Thí nghiệm được bố trí trong bể composit có thể tích (V) = 300 lít với các lô có mật độ ương  khác nhau và bể ximăng có V=5 m3 cho ương ấu trùng ở mật độ thích hợp. Lô thí  A B C D E nghiệm Mật độ thí  nghiệm  100 125 150 175 200 (N/lít) Nguồn ấu trùng nauplius (N) tôm chân trắng được thu từ trại sản xuất giống của Viện nghiên cứu  NTTS III. Bố trí thí nghiệm từ N4­5 với các tiêu chuẩn: ấu trùng tôm khỏe mạnh, đều cỡ và cùng  từ một nguồn.  ­ Thí nghiệm ương nuôi ở các mật độ khác nhau: Ðiều kiện môi trường nước: nhiệt độ nước 26  ­30oC, độ mặn 28 ­35, pH 7,5­ 8,2  Thí nghiệm được tiến hành trên 5 bể composite có V = 300 l/bể và được lặp lại 3 lần.  Tiến hành thu mẫu ở các giai đoạn ấu trùng để đánh giá tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu  trùng.  ­ Thí nghiệm ương ở mật độ thích hợp:  Ðánh giá mật độ thích hợp từ thí nghiệm ương ở các mật độ khác nhau, bố trí thử nghiệm sản  xuất trên 4 bể ximăng có V = 5 m3.    
  7. Tảo tươi Nauplius của Thức ăn tổng hợp (mg/l) (104 tb/ml/ Artermia Giai đoạn llần) (cá   Tảo khô Lansy Frippak thể/ml/lần) Zoea 3 ­5 0,1 0,2 0,1 0 Mysis 1 ­4 0,15 0,2 0,15 0 Thức ăn có kích cỡ No (0,3 ­ 0,6 mg/ PL 0 2­3 l)    Ðiều kiện môi trường nước: nhiệt độ 27 ­30oC, độ mặn 28 ­ 35, pH 7,5 ­8,2.  ­ Chế độ chăm sóc và quản lý trong quá trình ương ấu trùng là như nhau.  Cho ăn: 3 giờ 1 lần cho ăn như sau:  Xiphon và thay nước:  Lượng nước xiphon và   Giai đoạn Ghi chú thay (%) Zoea 3 30 không cấp nước Mysis 30­ 50 PL1 cấp nước mặn PL3­4 30 ­ 60 PL8 cấp nước ngọt PL11     Tùy thuộc vào sức khỏe của ấu trùng tôm và chất lượng nước mà có chế độ xiphon và thay  nước cho phù hợp.     Bảng 1. Chiều dài trung bình (mm) của ấu trùng tôm chân trắng  (n=30, có so sánh với tôm sú và tôm bạc)     của Viện Hải  So sánh Kết quả của  của Viện  của Châu  Giai đoạn dương  tác giả NCNTTS III Giang tôm sú tôm bạc Hawaii N1 0,3120,001 0,4    0,33­0,43  0,335  0.33 Z1 0,8880,001 1 0,86 0,78­0,94  1,089 
  8. khác và lớn hơn so với kết quả trong báo cáo của Châu Giang (Trung Quốc), chứng tỏ chất  Z2 1,3610,022 1,9       2,087  0.94 lượng ấu trùng thu tại trại đảm bảo cho việc ương nuôi, sinh trưởng và phát triển ở các giai đoạn  Z3 tiếp sau.  2,8740,034 2,7    1,88­2,06  2,907  M1 3,4800,069 3,4 3,08    3,610  Tuy nhiên, so với tôm sú (Penaeus monodon) và tôm bạc (P. merguiensis), ấu trùng tôm chân  M2 3,8700,098 4 trắng có kích thước tương đối nhỏ hơn.     2,65­2,93  4,276  M3 4,0140,102 4,4       2. Ảnh hưởng của mật độ ương khác nhau đến sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng   4,435 (Bảng 2,3).  4,8130,139 PL1 5,4 4,68  4­1,25  5,287  Qua bảng 2 và 3 cho thấy: trong cùng điều kiện độ mặn 28­35, nhiệt độ nước 27­30oC và pH     7,5­8,2 thì sự tăng trưởng của ấu trùng tôm ương ở các mật độ khác nhau có khác nhau. Mật độ  càng cao tốc độ tăng trưởng của ấu trùng càng thấp.     Bảng 2. ảnh hưởng của mật độ ương khác nhau đến tăng trưởng chiều dài của ấu trùng tôm  chân trắng (giá trị trung bình của 4 đợt thí nghiệm sai số chuẩn S.E)  Mật độ  Chiều dài (mm)  (N/l)  Z1 Z3 M1 M3 P1 P8 P11 2,911   3,544   4,118   4,932   0,904   6,768   8,166   100 0,034  0,057  0,054  0,064  0,006 a 0,175 a 0,165 a ab ab ab ac 3,512 4,877  6,998  0,895 2,891 4,083 8,222 125 0,045  0,061   0,164  0,006 b 0,031 a 0,055 a 0,181 ab ac a  a  0,887   2,877   3,492   4,02   4,815   6,871   8,054   150 0,006  0,032  0,047  0,057  0,062  0,163 a 0,177 a cd a a ac ad 2,857   3,446   3,915   4,733   7,925   0,877   6,686   175 0,036  0,044  0,061  0,059  0,189  0,008 c 0,159 a a a d ab ac 0,876  2,835   3,408   3,932   4,708   6,761   7,974   200  0,008  0,033  0,046  0,059  0,076 b 0,169 a 0,168 a ce ac ad d    Các số liệu cùng cột có các chữ cái viết kèm bên trên minh họa cho sự khác biệt có ý nghĩa  thống kê (P
  9. Bảng 3. ảnh hưởng của mật độ ương khác nhau đến tăng trưởng khối lượng (n=180) và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm chân trắng giá trị trung bình của 4 đợt thí nghiệm sai số chuẩn S.E) Khối lượng (mg) Thời gian biến  Mật độ  thái từ Z1­PL1  (N/L)  P1 P8 P11 giờ 1,0040.087 0,2940.017 a a 100  0,2810.025 1,0830.058 1,8820.218 a 231  a a 125  1,6650.097 a 236  0,2790.028 1,0690.148 150  1,6420.149 a 238  a a 175  1,6990.177 a 245  0,2740.027 0,9710.093 200  a a 1,6030.222 a 253  0,2690.035 a 1,0470.143 a Hình 1: Tỷ lệ sống của ấu trùng ở các mật độ ương khác nhau       Tuy nhiên, kết quả cho thấy với P
  10. Kết quả hình 1 cho thấy, mật độ càng cao tỷ lệ sống của ấu trùng về sau càng thấp. Mật độ 100  N/l cho tỷ lệ sống cao nhất (65,35 %), tiếp đến mật độ 125 N/l (61,42 %); 150 N/l (55,43 %) và  thấp nhất là mật độ 200 N/l (39,68 %).  Kết quả đạt được đã khẳng định, với mật độ ương từ 100 150 N/l, ấu trùng tôm chân trắng đạt  tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống cao nhất.  3.Thử nghiệm ở mật độ ương thích hợp (Bảng 4,5)  Từ bảng 4 và 5 có thể nhận thấy: trong cùng điều kiện nhiệt độ 27 – 300C, độ mặn 28 ­ 35, pH  7,5 ­8,2, cùng chế độ chăm sóc và quản lý thì tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ít  khác nhau trong khoảng mật độ ương từ 100 ­155 N/l. Sự sai khác chủ yếu ở giai đoạn từ Z1 ­  M3 và ở mật độ 175 ­ 200 N/l. Tuy nhiên sự sai khác này không có ý nghĩa khi ấu trùng chuyển  sang giai đoạn từ PL8 ­ PL1 với (P 
  11. (%)  giờ  100  0,372  1,069  1,523  58,35  219  125  0,376  1,053  1,583  78,84  232  130  0,342  1,039  1,522  69,33  237  155  0,314  0,983  1,321  64,86 258     IV. Kết luận  ­ Mật độ ương từ 100 150 N/l cho tốc độ tăng trưởng, phát triển và tỷ lệ sống của ấu trùng tốt  hơn mật độ 150 N/l.  Khoảng mật độ ương áp dụng vào sản xuất nên từ 100­150 N/l.     (Tạp chí Thủy sản, số 12/2005)  Ðào Văn Trí ­ Nguyễn Thành Vũ  Viện nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản III   

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản