BiẾN DỊ VÀ ĐỘT BiẾN

Chia sẻ: Phạm Ngọc Vui | Ngày: | Loại File: PPT | Số trang:33

0
658
lượt xem
232
download

BiẾN DỊ VÀ ĐỘT BiẾN

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Biến dị là những biến đổi xảy ra trên cơ thể sinh vật làm cho nó khác với bố mẹ, tổ tiên và khác với những cá thể khác chung quanh nó. Biến dị phản ánh mối tương quan sinh vật và môi trường. Biến dị cón là sự cải tổ, đổi mới, phá vỡ ổn định của di truyền. Khi điều kiện sống thay đổi, nhờ có biến dị mà sinh vật có những tính trạng thích nghi hơn để có thể tồn tại, trở nên đa dạng và hoàn hảo hơn...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: BiẾN DỊ VÀ ĐỘT BiẾN

  1. DI TRUYỀN HỌC BiẾN DỊ VÀ ĐỘT BiẾN Chương VIII: 1
  2. I.Khái niệm biến dị đột biến: Biến dị là những biến đổi xảy ra trên cơ thể sinh vật làm cho nó khác với bố mẹ, tổ tiên và khác với những cá thể khác chung quanh nó. Biến dị phản ánh mối tương quang giữa sinh vật và môi trường. Biến dị còn là sự cải tổ, đổi mới, phá vở sự ổn định của di truyền. Khi điều kiện sống thay đổi, nhờ có biến dị mà sinh vật có những tính trạng thích nghi hơn để có thể tồn tại, trở nên đa dạng và hoàn hảo hơn. Biến dị là một hiện tựng biến đổi tượng hình hoặc biến đổi cả dị hình. Biến dị là một trong ba nhân tố tiến hoá chủ yếu, nó là nguồn nguyên liệu cho chọn lọc tự nhiên và nhân tạo. 2
  3. 3
  4. I.Lịch sử nghiên cứu: A. Lamark cho rằng nguyên nhân biến dị đối với thực vật là do sự thay đổi của điều kiện ngoại cảnh còn đối với động vật là do sự vận động và các biến dị di truyền thì di truyền được. B. Darwin, ông còn phân biệt biến dị xác định và biến dị không xác định và ông nhấn mạnh biến dị không xác định đối với tiến hoá và chọn giống dù bản chất và nguyên nhân Darwin chưa nắm rõ. C. Mitchurin cũng cho rằng nguyên nhân biến dị là do sự thay đổi của điều kiện sống. Ông nhấn mạnh ý nghĩa của biến dị xác định đối với tiến hoá và chọn giống. Ông ích chú ý đến biến dị không xác định. Ngày nay, nhờ những công trình ghiên cứu tìm ra được bản chất di truyền là gen và DNA, do đó nhiều vấn đề chưa được sáng tỏ nay đã được giải thích rõ ràng như nguyên nhân của biến dị, những điều kiện gây ra biến dị. Như vậy, quan niệm hiện đại phân chia biên dị làm hai loại: Biến dị di truyền và biến dị không di truyền. 4
  5. A.Thuyết đột biến của De Vries (nhà di truyền Hà Lan): Đây là một trong những thuyết cơ bản của di truyền ra đời ngay sau khi các quy luật Mendel được tái phát hiện (1901 – 1903) chủ yếu dựa trên những hình thái các biến dị được phát hiện mà không để ý cơ chế và quá trình phát hiện chúng. Sau thời gian dài nghiên cứu ông đã đưa ra thuyết đột biến với các nội dung: - Đột biến xuất hiện đột ngột. - Những dạng mới suất hiện sau đột biến di truyền bền vững. - Đột biến không tạo thành dãy liên tục, không tạo thành dạng trung gian chúng là những biến đổi về chất. - Đột biến xuất hiện theo nhiều hướng khác nhau. - Khả năng phát hiện đột biến phụ thuộc vào số lượng cá thể nghiên cứu. - Đột biến có thể lặp đi lặp lại nhiều lần. Dù còn nhiều thiếu xót nhưng thuyết đột biến đã đặt nền móng cho những nghiên cứu về đột biến sau này. 5
  6. Biến dị không di truyền: Thường biến (modification) I. Là những biến dị chỉ biểu hiện ở kiểu hình mà không kèm theo những biến đổi trong vật chất di truyền của cơ thể thì sẽ không di truyền được cho đời sau còn được gọi là thường biến. Kiểu gen quyết định hình thành tính trạng, nhưng tính trạng đó được biểu hiện hay không biểu hiện là do môi trường chi phối. Kiểu hình là kết quả của sự tác động của một môi trườg nhất định lên một kiểu gen nhất định. Do đó, kiểu hình có thể biến đổi lúc kiểu gen thay đổi hoặc do điều kiện môi trường thay đổi. 6
  7. 7
  8. • Ở cây hoa anh thảo (Primula sinensis) có gen trội P cho màu hoa đỏ ở 15 – 20oC, ở nhiệt độ 30 – 35oC hoa có màu trắng. Như vậy, màu hoa thay đổi theo nhiệt độ. 8
  9. Những thí dụ cho thấy môi trường và đời sống sinh vật có mối quan hệ mật thiết. Phản ứng của kiểu gen theo sự thay đổi của môi trường rất khác nhau, mang nhiều tính chất thích ứng, có kiểu gen rất nhạy cảm với điều kiện môi trường, tương đối ổn định. Trong công tác giống, nếu tạo được giống vật nuôi hoặc cây trồng có mức phản ứng rộng thì rất quan trọng vì nó có thể thích nghi với nhiều điều kiện môi trường khác nhau. Tuy nhiên, việc chọn giống có mức phản ứng hẹp nhưng đặc hiệu cho các vùng sinh thái riêng cũng rất cần thiết. 9
  10. Biến dị di truyền: I. Biến dị di truyền có thể xảy ra do sự thay đổi của sự thay đổi của tổ hợp gen hoặc tổ hợp nhiễm thể của con cái so với bố mẹ có thể xảy ra do kết quả của đột biến. Vì vậy biến dị di truyền được chia thành hai nhóm chính: Biến dị tổ hợp và đột biến. A. Biến dị tổ hợp: Là kết quả tái tổ hợp gen tạo nên. Các nhiễm thể mang những allen khác nhau từ cơ thể bố mẹ thông qua quá trình lai hữu tính đã sắp xếp lại theo những tổ hợp khác vào bộ nhiễm sắc thể của tế bào, nhờ phân ly độc lập và tổ hợp tự do trong quá trình phân chia giảm nhiễm và từ sự thụ tinh giữa các giao tử. không thay đổi số lượng vật chất di truyền nhưng thay đổi tổ chức các nhóm gen. Trong công tác giống biến dị tổ hợp là biện pháp hữu hiệu, một phương pháp đầu tay đã và đang được các nhà chọn giống sử dụng rộng rãi. 10
  11. PTC:  X F1: F2:  11
  12. Pt/c : X Đen, cụt Xám, dài F1 : (100% xám, dài ) Lai phân X tích F1 : Xám, dài Đen, cụt FB : Xám, Đen, Xám, Đen, cụt cụt dài dài (0,41) ( 0,41) (0,09) 0,09) 12
  13. A. Đột biến: Đột biến xảy ra trên cơ sở thay đổi cấu trúc hoặc số lượng nhiễm thể thì gọi là đột biến nhiễm sắc thể. Còn thay đổi xảy ra do thay đổi trong cấu trúc phân tử DNA thì gọi là đột biến gen. 1. Đột biến nhiễm sắc thể: a) Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể: Là sự thay đổi vật chất di truyền ở cấp độ nhiễm sắc thể. Do các tác nhân lý, hoá, sinh học trong môi trường hoặc nội bào làm đứt gãy nhiễm sắc thể hoặc làm ảnh hưởng đến sự nhân đôi DNA, tiếp hợp, trao đổi chéo các cromatid. 13
  14. Tăng đoạn Deletion Inversion Translocation 14
  15. 15
  16. b) Đột biến số lượng nhiễm sắc thể: + Đa bội thể nguyên (polyploidy hay euploidy): Là sự tăng nguyên lần bộ nhiễm sắc thể đơn bội. Nếu có 2n bộ nhiễm sắc thể thì dạng 3n, 4n, 5n, … là các dạng đa bội thể. - Đa bội cân: Phát sinh do sự tăng bội một bội số nhiễm thể. Thí dụ: 2n – 4n – 6n – 8n hoặc 3n – 6n – 12n. Trong tự nhiên, đặc biệt trong giới thực vật, người ta cho rằng sự hình thành loài mới bằng con đường đa bội hoá những loài có số nhiễm sắc thể thấp hơn. Hiện tượng lặp lại trong quá trình tiến hoá và hình thành một dãy đa bội tự nhiên với số nhiễm sắc thể bắt đầu từ 2n, 3n, 4n, 5n, …, 10n và nhiều hơn nữa. 16
  17. Triticum durum 2n=28 Triticum monococcum 2n=14 Triticum vulgare 2n=42 17
  18. - Đa bội cùng nguồn (Autopolyploid): Loại đa bội thể này hình thành do sự tăng bội nhiễm sắc thể của cùng một loài. - Đa bội khác nguồn (Allopophoid): Phát sinh do sự tăng bội số nhiễm sắc thể khác nguồn (các loài khác nhau), Thông thường con lai xa bất dục do 2 bộ nhiễm sắc thể đơn bội của 2 loài không tiếp hợp được với nhau, quá trình giảm nhiễm sinh ra những giao tử không có sức sống. Việc tạo ra dạng đa bội khác nguồn là một biện pháp để khắc phục hiện tượng bất dục ở con lai xa, mở ra khả năng tạo ra các biến dị tổ hợp có nguồn gốc di truyền xa nhau, tăng khả năng tìm kiếm các ưu thế lai rộng rãi hơn. 18
  19. + Đa bội lệch (Aneuploid): phát sinh do sự gia tăng hoặc giảm từng chiếc nhiễm sắc thể trong bộ nhiễm sắc thể của cá thể hoặc do sự tăng bội 1 tổ nhiễm sắc thể và thêm bớt 1, 2 nhiễm sắc thể. Thí dụ: 2n – 4n + (-)1 4n + (-)2 2n – 2n + (-)1 2n + (-)2 - Đơn nhiễm: Một cặp nhiễm sắc thể trong bộ mất đi 1 chiếc (2n – 1). - Đa nhiễm: Trong bộ nhiễm sắc thể thừa ra một chiếc hoặc nhiều hơn. Thí dụ: (2n + 1) (2n + 2). - Vô nhiễm: Ở bộ nhiễm sắc thể tương đồng nào đó mất cả một cặp nhiễm sắc thể. Thí dụ: (2n – 2). 19
  20. ** Nguyên nhân gây đa bội: Do các nhiễm sắc thể không phân ly về được 2 cực do đó số nhiễm sắc thể tăng đôi trong một tế bào tạo nên đa bội thể. Hoặc nhiễm sắc thể nhân đôi và phân ly về hai cực nhưng tế bào không phân chia tạo vách ngăn nên tạo thể đa bội. Trong nhân tạo, người ta dùng nhiều phương pháp để tạo nên sự phá hoại sự phân chia bình thường của nhiễm sắc thể, phá thoi vô nhiễm, sự thành lập vách tế bào, tạo nên những tế bào có số lượng nhiễm sắc thể tăng gấp đôi. ** Đặc điểm: Người ta thấy rằng các biến đổi thứ cấp như các cá thể đa bội thường có tính thích nghi cao hơn, chống chịu bệnh tốt hơn, đặc biệt là luôn có tính dị hợp cao, bất dục lớn. Về hình thái, cây đa bội thường to hơn cây lưỡng bội về kích thước lá, hoa, quả lớn hơn bình thường.Tuy nhiên, thực vật luôn có mức đa bội hợp lý, nếu vượt quá cây sẽ trở nên xấu phẩm chất. Nhìn chung, cây đa bội có nhịp độ phát triển chậm lại và thời gian sinh trưởng kéo dài. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản