Bộ Dơi

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
138
lượt xem
17
download

Bộ Dơi

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bộ Dơi (danh pháp khoa học: Chiroptera) là bộ có số lượng loài nhiều thứ 2 trong lớp Thú với khoảng 1.100 loài, chiếm 20% động vật có vú (đứng đầu là bộ Gặm nhấm chiếm 70% số loài). Từ Chiroptera trong tiếng Hy Lạp là ghép bởi 2 từ: cheir (χειρ) "bàn tay" và pteron (πτερον) “cánh”. Đúng như tên gọi, cấu tạo 2 chi trước của chúng giống như bàn tay con người với các ngón tay được nối liền bởi màng da và tạo thành đôi cánh. (chính xác thì ở dơi cánh được tạo bởi màng...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bộ Dơi

  1. Bộ Dơi . Bộ Dơi Dơi tai to Townsend, Corynorhinus townsendii Phân loại khoa học Giới (regnum): Animalia Ngành (phylum): Chordata Lớp (class): Mammalia Cận lớp (infraclass): Eutheria Siêu bộ (superordo): Laurasiatheria[1] Bộ (ordo): Chiroptera Blumenbach, 1779 Bộ Dơi (danh pháp khoa học: Chiroptera) là bộ có số lượng loài nhiều thứ 2 trong lớp Thú với khoảng 1.100 loài, chiếm 20% động vật có vú (đứng đầu là bộ Gặm nhấm chiếm 70% số loài). Từ Chiroptera trong tiếng Hy Lạp là ghép bởi 2 từ: cheir (χειρ) "bàn tay" và pteron (πτερον) “cánh”. Đúng như tên gọi, cấu tạo 2 chi trước của chúng giống như bàn tay con người với các ngón tay được nối liền bởi màng da và tạo thành đôi cánh. (chính xác thì ở dơi cánh được tạo bởi màng da nối liền xương cánh tay và các ngón tay)
  2. Dơi là loài thú duy nhất có thể bay được. Một số loài thú khác như chồn bay, sóc bay... trông có vẻ như cũng biết bay nhưng thực ra chúng chỉ có thể lượn - trong một khoảng cách có giới hạn. Khoảng 70% số loài dơi ăn sâu bọ, số còn lại chủ yếu ăn hoa quả và chỉ có vài loài ăn thịt. Dơi cần thiết cho sinh thái bởi chúng đóng vai trò thụ phấn hoa hay phát tán hạt cây, sự phân tán của nhiều loài cây lệ thuộc hoàn toàn vào dơi. Loài dơi nhỏ nhất là dơi mũi lợn Kitti chỉ dài 29–33 mm, nặng khoảng 2 gam. Loài lớn nhất là dơi quả đầu vàng lớn với sải cánh dài 1,5 m và cân nặng khoảng 1,2 kg. Hóa thạch dơi Hóa thạch loài Onychonycteris finneyi vào khoảng 52 triệu năm tuổi, thuộc thế Eocen của kỷ Paleogen trong đại Tân Sinh, được tìm thấy ở Wyoming (Mỹ) năm 2003. Loài dơi cổ này có cách bay và ngoại hình khác với loài những loài dơi ngày nay. Onychonycteris có móng trên cả 5 đầu ngón mỗi chi trước, trong khi các loài dơi hiện đại có nhiều nhất hai móng. Chúng cũng có chi sau dài hơn và cẳng tay ngán hơn dơi ngày nay, thuận tiện cho việc bám lên cành cây. Đôi cánh ngắn, rộng không làm chúng bay nhanh và xa như dơi hiện đại.Mặc dù đập cánh nhưng Onychonycteris cũng chỉ lượn từ cây này sang cây khác, phần lớn thời gian chúng chỉ leo và bám trên cây. Đặc điểm Bộ xương của dơi
  3. Các loài trong bộ này có nhiều nét chung với thú ăn sâu bọ và có thể coi như một nhánh Thú ăn sâu bọ thích nghi với vận chuyển bay. Chi trước biến đổi thành cánh. Ngón tay, trừ ngón một rất dài và căng màng da mỏng không lông. Màng da nối không chỉ chi trước với chi sau và cả chi sau với đuôi. Cơ ngực lớn. Dơi phát siêu âm với tần số 30.000-70.000 Hz. Nhờ tiếp nhận siêu âm vào tai, dơi có thể ước lượng khoảng xa của chướng ngại vật. Phân loại "Bộ Dơi" trong Kunstformen der Natur của Ernst Haeckel, 1904 Theo phân loại truyền thống có 2 phân bộ dơi là: • Phân bộ Megachiroptera dơi lớn • Phân bộ Microchiroptera dơi nhỏ. Cho dù được đặt tên như vậy nhưng không phải bất cứ loài dơi lớn nào cũng có kích thước lớn hơn các loài dơi nhỏ. Một số sự khác biệt chính giữa 2 phân bộ là: 1. Những loài dơi nhỏ định vị bằng sóng âm, còn loài dơi lớn thì không.
  4. 2. Loài dơi nhỏ không có móng ở ngón thứ 2 của chi trước (cánh). 3. Tai của dơi nhỏ không phải là một vòng khép kín. 4. Dơi nhỏ không có lông dưới bụng. • Bộ Chiroptera (Bộ Dơi) o Phân bộ Megachiroptera (dơi lớn) Pteropodidae (dơi quạ) o Phân bộ Microchiroptera (dơi nhỏ) Siêu họ Emballonuroidea Emballonuridae (Sac-winged or Sheath-tailed bats) Siêu họ Molossoidea Antrozoidae (Pallid bats) Molossidae (Free-tailed bats) Siêu họ Nataloidea Furipteridae (Smoky bats) Myzopodidae (Sucker-footed bats) Natalidae (Funnel-eared bats) Thyropteridae (Disk-winged bats) Siêu họ Noctilionoidea Mormoopidae (Ghost-faced or Moustached bats)
  5. Mystacinidae (New Zealand short-tailed bats) Noctilionidae (Bulldog bats or Fisherman bats) Phyllostomidae (Leaf-nosed bats) Siêu họ Rhinolophoidea Megadermatidae (dơi ma) Nycteridae (Hollow-faced or Slit-faced bats) Rhinolophidae (Horseshoe bats) Siêu họ Rhinopomatoidea Craseonycteridae (Bumblebee Bat or Kitti's Hog-nosed Bat) Rhinopomatidae (Mouse-tailed bats) Siêu họ Vespertilionoidea Vespertilionidae (Vesper bats or Evening bats) Sinh sản Dơi con thường bị rơi xuống đất khi không được chăm sóc. Tuy nhiên dơi con có thể bám vào mẹ và cùng di chuyển, dơi con phát triển nhanh nên sẽ rất khó khăn nếu dơi mẹ phải mang một lúc nhiều con. Đó là lí do tại sao 1 năm dơi mẹ chỉ sinh 1 lần. Khả năng bay là bẩm sinh, tuy nhiên khi mới sinh đôi cánh của dơi quá nhỏ để bay, các loài dơi nhỏ (thuộc phân bộ Microchiroptera) bay được khi chúng được 6 đến 8 tuần tuổi trong khi các loài dơi lớn (thuộc phân bộ Megachiroptera) phải mất 4 tháng mới biết bay. Dơi trưởng thành khi được 2 năm tuổi. Tuổi thọ trung bình của dơi là 20 năm, tuy vậy số lượng dơi không được nhiều do tỉ lệ sinh thấp.
  6. Hình ảnh Nơi cư ngụ của dơi nhỏ.Loại dơi nhỏ. Loại dơi lớn. Nơi cư ngụ của dơi lớn.
Đồng bộ tài khoản