Bướu tuyến giáp đơn thuần (Simple goiter) (Kỳ 2)

Chia sẻ: Barbie Barbie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
69
lượt xem
11
download

Bướu tuyến giáp đơn thuần (Simple goiter) (Kỳ 2)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

1.5. Mô bệnh học: Ban đầu tuyến giáp phì đại, cường sản và tăng sinh mạch máu đều nhau giữa các chiều, sau đó tuyến giáp sẽ bị biến dạng. Bệnh tồn tại lâu dài làm cho tuyến giáp to thay đổi về hình dáng, cấu trúc. Tuyến giáp có thể dính với các tổ chức xung quanh hoặc bên trong có chứa các keo colloid. Tổ chức xơ hoá có thể phân chia tuyến thành nhiều nhân trông giống các u thực sự (adenoma). Có thể xuất hiện những vùng chảy máu hoặc canxi hoá không đều. 2. Lâm...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bướu tuyến giáp đơn thuần (Simple goiter) (Kỳ 2)

  1. Bướu tuyến giáp đơn thuần (Simple goiter) (Kỳ 2) TS. Hoàng Trung Vinh (Bệnh học nội khoa HVQY) 1.5. Mô bệnh học: Ban đầu tuyến giáp phì đại, cường sản và tăng sinh mạch máu đều nhau giữa các chiều, sau đó tuyến giáp sẽ bị biến dạng. Bệnh tồn tại lâu dài làm cho tuyến giáp to thay đổi về hình dáng, cấu trúc. Tuyến giáp có thể dính với các tổ chức xung quanh hoặc bên trong có chứa các keo colloid. Tổ chức xơ hoá có thể phân chia tuyến thành nhiều nhân trông giống các u thực sự (adenoma). Có thể xuất hiện những vùng chảy máu hoặc canxi hoá không đều. 2. Lâm sàng. + Bướu tuyến giáp đơn thuần hay xảy ra hơn ở phụ nữ do chịu ảnh hưởng của các giai đoạn thay đổi sinh lý (dậy thì, thai sản, mạn kinh).
  2. + Dấu hiệu lâm sàng chủ yếu của bệnh là bướu tuyến giáp to dần. Tuyến giáp to có thể được bệnh nhân phát hiện tình cờ, hoặc do người xung quanh, hoặc khi khám sức khoẻ nói chung. Bình thường trọng lượng tuyến giáp ước chừng 25-30gr, khi trọng lượng >35 gr thì gọi là bướu tuyến giáp, hay nói cách khác tuyến giáp thường to vượt ≥ 20% so với khối lượng bình thường của nó. Tùy độ lớn của bướu tuyến giáp mà xác định độ to theo cách phân loại. Có nhiều cách phân loại, song phân loại đơn giản, dễ áp dụng là phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới. Bảng 4.1. Phân loại độ lớn của tuyến giáp theo Tổ chức Y tế Thế giới. Đ Đ ộ ặ c đ i ể
  3. m 0 Không có bướu tuyến giáp IA Mỗi thùy tuyến giáp to hơn đốt 1 ngón cái của người bệnh nhân Sờ nắn được. I B II Khi ngửa đầu ra sau nhìn thấy tuyến giáp to. Bướu sờ nắn được. Tuyến giáp to, nhìn thấy ở tư thế bình thường và ở gần. III Bướu nhìn thấy được. Bướu tuyến giáp rất lớn, nhìn thấy dù ở xa. Bướu lớn làm biến dạng cổ. Bảng 4.2. Phân loại độ lớn của tuyến giáp theo Viện hàn lâm Y học Liên Xô (cũ)
  4. Độ Đ ặc điểm 0 Tuyến giáp không sờ thấy được I Tuyến giáp to sờ được khi nuốt đặc biệt II III IV vùng eo tuyến. Tuyến giáp to sờ được, nhìn thấy V được khi nuốt. Tuyến giáp to nhìn thấy được. Tuyến giáp to vượt qua cơ ức - đòn - chũm. Tuyến giáp rất to chèn ép vào các tổ chức xung quanh. + Bướu to có thể gây chèn ép vào khí quản, thực quản. Nếu tuyến giáp to nằm ở sau xương ức có thể chèn ép trung thất trên với dấu hiệu phù áo khoác ở mặt, chóng mặt, ngất (dấu hiệu Pemberton). thư.
  5. Tuyến giáp rất ít khi chèn vào dây thần kinh thanh quản, nếu có cần phải nghĩ đến ung Chảy máu cấp tính vào các nang tuyến giáp gây đau, sưng nề vùng cổ và xuất hiện các dấu hiệu do chèn ép. + Da trên bề mặt bướu bình thường, sờ không đau, mặt có thể nhẵn (nếu là bướu lan toả) hoặc gồ (nếu là đơn nhân hoặc đa nhân). Mật độ tuyến có thể mềm, chắc, đàn hồi. Không có dấu hiệu của bướu mạch (sờ không có rung miu, nghe không có tiếng thổi tại tuyến). Đa số các trường hợp không có các triệu chứng cơ năng. ở những bệnh nhân có bướu đa nhân tồn tại lâu có thể xuất hiện cường giáp kể cả bướu đa nhân địa phương và tản phát (hiện tượng iod-Basedow-iodbasedow phenomenon). Đối với những vùng thiếu iod nặng, bướu tuyến giáp có thể kết hợp với suy chức năng tuyến giáp ở các mức độ khác nhau. Chứng đần độn (cretinism) trên cả người có bướu hoặc không có bướu tuyến giáp to, xuất hiện ngày càng nhiều trong trẻ em ở những nước có bướu cổ địa phương.
Đồng bộ tài khoản