Bướu tuyến giáp đơn thuần (Simple goiter) (Kỳ 7)

Chia sẻ: Barbie Barbie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
57
lượt xem
11
download

Bướu tuyến giáp đơn thuần (Simple goiter) (Kỳ 7)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

6. Dự phòng bướu cổ địa phương. Bướu cổ địa phương không chỉ là một bệnh lý của từng cá thể mà là một vấn đề sức khoẻ của cả xã hội trong đó nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh liên quan đến sự thiếu hụt iod. Chính vì vậy cần phải triển khai công tác dự phòng. Dự phòng thiếu hụt iod đã được bắt đầu ở Hoa Kỳ từ năm 1917, ở Thụy Sĩ từ năm 1920 và đã thu được kết quả tốt. 6.1. Phương pháp dự phòng: Có 3 phương pháp tiến hành dự phòng bệnh...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bướu tuyến giáp đơn thuần (Simple goiter) (Kỳ 7)

  1. Bướu tuyến giáp đơn thuần (Simple goiter) (Kỳ 7) TS. Hoàng Trung Vinh (Bệnh học nội khoa HVQY) 6. Dự phòng bướu cổ địa phương. Bướu cổ địa phương không chỉ là một bệnh lý của từng cá thể mà là một vấn đề sức khoẻ của cả xã hội trong đó nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh liên quan đến sự thiếu hụt iod. Chính vì vậy cần phải triển khai công tác dự phòng. Dự phòng thiếu hụt iod đã được bắt đầu ở Hoa Kỳ từ năm 1917, ở Thụy Sĩ từ năm 1920 và đã thu được kết quả tốt. 6.1. Phương pháp dự phòng: Có 3 phương pháp tiến hành dự phòng bệnh bướu cổ: - Hoà iod vào nước uống. - Trộn iod vào muối ăn.
  2. - Dùng dầu có iod. Nếu dùng 1 trong 3 biện pháp trên thì tỷ lệ những người bị bướu cổ địa phương sẽ giảm đi ít nhất sau 3- 6 tháng. Bảng 4.7. Phương pháp bổ sung iod tùy thuộc vào mức độ thiếu hụt. Mứ Nồng độ P c độ thiếu iod niệu hư iod ơng (µg phá /24h) p N > - Trộn iod vào muối: 10-25 mg/kg hẹ 50 - Hoà iod vào nước: 50 µg/l Trung 2 - Trộn iod vào muối: 25- 50 mg/kg bình 5- 50 - Uống dầu iod (480mg); nếu < 1 tuổi 240 mg.
  3. N < - Uống dầu iod (480 mg); nếu < 1 ặng 25 tuổi 240 mg. 6.2. Muối trộn iod: Đây là biện pháp dễ thực hiện, rẻ tiền, áp dụng rộng rãi. ở Mỹ, trung bình mỗi người dân dùng 5g muối/ ngày, vì vậy trộn iod vào muối với tỉ lệ 1:10.000 tương đương với 500 µg iod/ ngày. ở các nước châu Âu dùng với liều lượng thấp hơn, tỷ lệ 1:100.000 tương đương với 50µg iod/ ngày. Nhìn chung liều lượng iod dùng cho mỗi người lớn phải > 120- 150µg/ngày. Đối với phụ nữ có thai, cho con bú, trẻ em thì liều phải cao hơn nhiều. Tuy vậy cần nhớ rằng: sự tích tụ muối trong cơ thể có thể rất khác nhau giữa các cá thể, do đó cần theo dõi ảnh hưởng của muối lên huyết áp. Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới thì cung cấp iod với liều 150- 300µg/ngày là có hiệu quả nhất. ở Việt Nam theo chương trình phòng chống thiếu hụt iod thường trộn iodur kali vào muối với tỉ lệ 2,5 g iodur kali vào 50 kg muối ăn. 6.3. Dầu iod: Dầu iod được dùng với số đông những người trong vùng bướu cổ địa phương, thường dùng dầu lipiodol; 1 ml chứa 480mg iod. Nếu dùng dầu iod tiêm
  4. bắp, iod sẽ thải ra hết theo nước tiểu sau 7 năm ở người lớn, sau 2-3 năm ở trẻ em. Nếu uống 1ml dầu iod (480 mg) sẽ cung cấp đủ iod từ 1-2 năm. Thời gian duy trì nồng độ iod có thể ngắn hơn khi có sự bất thường về hấp thu ở những người béo hoặc do nguồn cung cấp iod ở mức thấp. Nếu dùng dầu iod đường uống thì sẽ tránh được các biến chứng có thể xảy ra như kích thích tại chỗ do tiêm.
  5. Sơ đồ 4.2. Hướng dẫn điều trị bướu cổ địa phương tùy trường hợp cụ thể (Trimarchi F và cs - 1997)
Đồng bộ tài khoản