Ca dao ái quốc

Chia sẻ: Nguyenthu Ha | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:23

0
53
lượt xem
14
download

Ca dao ái quốc

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ca dao ái quốc Ai đưa tôi đến chốn này Bên kia nhà xác, bên này nhà điên. = Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29537 ) Ai giàu thì mặc ai giàu Tớ về nhà tớ hái dâu chăn tằm Tớ chăn tằm lấy tơ tớ dệt May áo quần khỏi rét ai ơi Tham chi tấm áo của người Họ cho tớ mặc lại đòi tớ ngay = Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Nam, Bạc Liêu (Câu số 25579...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ca dao ái quốc

  1. Ai đưa tôi đến chốn này Bên kia nhà xác, bên này nhà điên. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29537 ) Ai giàu thì mặc ai giàu Tớ về nhà tớ hái dâu chăn tằm Tớ chăn tằm lấy tơ tớ dệt May áo quần khỏi rét ai ơi Tham chi tấm áo của người Họ cho tớ mặc lại đòi tớ ngay => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Nam, Bạc Liêu (Câu số 25579 ) Ai ơi! giữ phép nước ta Ai ơi thương lấy dân nhà một tông, Có hậu dưỡng mới phú phong Kẻ cày người cấy, sống trong thái bình Kẻ, nho lo việc học hành Mai sau chiếm bảng, nức danh trên trời Kẻ buôn thì được lắm lời Tàng vương chi thị tứ thời bán mua Kẻ công ai cũng tranh đua Làm nghề chạm vẽ: phượng rùa, long, ly Tứ dân mỗi nghiệp mỗi nghề Nhờ trời đều được, gặp khi thái hòa Toàn dân vang khúc dao ca => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 103 ) Anh đi lưu thú Bắc thành, Để em khô héo như nhành từ bi (1) => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Từ bi: Loại cây mọc hoang, lá thơm, phụ nữ thường hái về nấu nước gội đầu Xuất xứ: - Miền Trung, Miền Nam, Lục Tỉnh (Câu số 27920 ) Anh mà đi với thằng Tây, Em đành phải dứt hết dây nghĩa tình. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27921 ) Anh ra đi mặt biển chân trời Biết rồi có đặng sống đời cùng nhau ! Làm quan phải xét cho dân, Không tin ngài xuống, ngài mần (1), ngài coi. Làm trai cho đáng nên trai, Thanh gươm, yên ngựa, dặm dài lướt xông. Vẫy vùng nam, bắc, tây, đông, Lấy thân che chở non sông nước nhà. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 26171 ) Bấy lâu ta ở với ta Bây giờ có Phú-lang-sa lọt vào Bây giờ đất thấp trời cao An Nam, Quảng Tống phải vào lụy Tây Bây giờ khố bẹ đi giày Bờ lau nên phố, đĩ nay lên bà Mấy đời con đĩ nên bà Thau rau đắc thế, bà già thất kinh Bấy lâu vua trị một mình 1
  2. Bây giờ Nhà nước đã rành chia đôi Văn nhân khoa mục ở rồi Những phường dốt nát lên ngồi làm quan Những anh phơ phất loàng xoàng Làm bồi làm bếp ra ràng cậu chiêu Các quan trung nghĩa trong triều Về nhà ngồi xó liệu chiều thủ thân Những quân vô nghĩa, nịnh thần Tìm thày, tìm cách lần lần thăng quan Trị dân lắm sự tham tàn Kiếm tiền kiếm bạc mới toan bằng lòng Muốn cho bể lặng, sông trong Cách hết lũ ấy mới mong thái bình. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29545 ) Bể Đông có lúc vơi đầy Mối thù mất nước (đế quốc) có ngày nào vơi! => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 876 ) Ba ông là bậc anh hiền, Gọi "Khánh Hòa Tam kiệt" Người người đều biết, Đều thương, đều tiếc Chưa thỏa nguyền núi sông Tâm thân xem nhẹ như lông hồng Hỏi anh còn nhớ "Quảng Phước tam hùng là ai"? => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung, Khánh Hòa (Câu số 26342 ) Bây giờ xâu nặng thuế cao, Thương nhau thì hãy khoan trao ân tình. Chờ cho đất nước hòa bình, Phụ mẫu nhà trường thọ, hai đứa mình kết duyên => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27929 ) Bên Tây có chiếc tàu sang Sinh ra khố đỏ, quần vàng, áo thâm Cho nên anh chịu âm thầm Vai vác khẩu súng, tay cầm bình toong Ra đi sông cạn đá mòn Ra đi thương nhớ vợ con ở nhà Việc Tây anh phải trẩy xa Khi ở Hà Nội khi ra Hải Phòng Nói ra đau đớn trong lòng Vợ con nào biết Vân Mòng là đâu! => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29546 ) Biển Đông có lúc vơi đầy, Mối thù đế quốc biết ngày nào quên. Cá bống kho với lá gừng, Bà con mình đó, xin đừng quên nhau ! Càng ngày xâu nặng thuế cao, Mất mùa nên phải lao đao, nhọc nhằn. Xóm làng nhẫn chịu cắn răng, 2
  3. Bán đìa nộp thuế cho bằng lòng quan. Quan trên ơi hớt quan trên, Hiếp dân, ăn chặn, chỉ biết tiên mà thôi ! Cây khô xuống nước cũng khô, Phận nghèo đi tới chỗ mô cho giàu. Nhớ chăng tình nghĩa trước sau, Bỏ thây xứ lạ, làm giàu cho ai ? => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung, Miền Nam, Bến Tre (Câu số 27930 ) Cá sống kho với lá gừng, Bà con mình đó, xin đừng quên nhau Càng ngày xâu nặng thuế cao, Mất mùa nên phải lao đao, nhọc nhằn. Xóm làng nhẫn chịu cắn răng, Bán đìa nộp thuế cho bằng lòng quan. Quan trên ơi hõi quan trên, Hiếp dân, ăn chặn, chỉ biết tiền mà thôi ! => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 31519 ) Cầu sắt mà bắc ngang sông (Câu 1) Chàng ơi sang tỉnh mà trông chẳng lầm Hà Nội bắc sang Gia Lâm Tính cây lô mét độ năm cây tròn Họa hình Tây bắc ống nhòm Ngắm đi ngắm lại xem còn cong không Giở về hội nghị cộng đồng Đến năm Mậu Tuất khởi công bắc cầu Mộ phu khắp cả đâu đâu Xây từ ái Mộ bắt đầu xây ra Bắc qua con sông Nhị Hà Chia khoang làm nhịp, mười ba cột vừa Lập mưu xây được bây giờ Chế ra cái chụp để mà bơm lên Bơm hết nước đến bùn đen Người chết như rạ vẫn phải len mình vào Vỡ bơm nước lại chảy vào Chết thì mặc chết ai nào biết không Mỗi giờ thuê có một đồng Xi măng với đá, dây dòng xuống xây Đóng phà, đóng cột, cắm cây Xây trên buông xuống thành ngay chân cầu (Còn Tiếp Câu 2) => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29549 ) Cầu sắt mà bắc ngang sông (Câu 2) Bây giờ đục sắt bắc cầu Cột ngang, cột dọc, đường tàu song song Bắc từ Dốc Gạch bắc sang Chính giữa đường sắt làm đường tàu đi Đôi bên nhịp sắt chữ chi Bên đi, bên lại chớ hề gặp nhau Còn hai bên cạnh rìa cầu Sắt chằng hoa thị đi cầu không kinh 3
  4. Hai vì đèn máy sáng tinh Ai đi đến đấy có xinh chăng là Kẻ đi người lại hằng hà Mưu kia nào kiệt tính đà cũng thông Bề khoát tàu chạy bên trong Khoát vừa ba thước đủ dùng không hơn Đường ô-tô chạy rập rờn Cũng khoát thước rưỡi đường trơn phẳng lì Còn đường của An Nam đi Khoát hơn nửa thước vậy thì tính sao Bây giờ kể đến bề cao Cao hơn mười thước ai nào biết không Làm xong Tây tính tiền công (Còn Tiếp Câu 3) => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29550 ) Cầu sắt mà bắc ngang sông (Câu 3) Lập mưu, lập kế trả công chẳng rành Chế ra giấy bạc dâu xanh Trừ tiền giấy bút hết toanh dăm đồng Tiền công chẳng đáng tiền công Kẻ còn, người mất mà lòng xót thay! Hội cầu năm ấy vui vầy Nhớ ngày hăm mốt tháng hai, công hoàn. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29551 ) Cha đời lính tẩy, lính Tây Hễ trông thấy gái giở ngay xì xồ Một tháng sáu phiên chợ Đơ Kẻ gian cũng lắm, lệ cơ cũng nhiều. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29552 ) Chẳng thơm cũng ngát hoa chanh (Câu 1) Chẳng giỏi cũng gái ngoại thành Thủ đô. Ra tay chẳng phải tay vừa Làm chiêm chiêm vượt, làm mùa mùa hơn. Chăn nuôi vừa khéo vừa khôn Quanh năm gà lợn xuất chuồng quanh năm. Thao trường cũng gắng cũng chăm Veo veo đường đạn thằng băng vòng mười. Việc quân nào chịu thua người Cũng tay súng thép giữ trời quê hương. Điện về điện sáng làng thôn Cũng tay điều khiển máy bơm máy nghiền. Siêng làm thì học cũng siêng Người vào lớp bảy, người lên lớp mười. Mấy kỳ đấu kiếm, thi bơi Chưa tài mà cũng khối người vỗ tay. Đêm chèo giọng hát chưa hay Vẳng qua sông Đuống đã say sông Hồng. Bốn mùa tươi áo nâu sồng Việc nhà việc nước gánh gồng đôi vai. Trai tài gái đã kém ai Chẳng thơm cũng ngát hoa nhài hoa chanh. (Còn tiếp Câu 2) 4
  5. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * (Xem tiếp Câu số 33066) Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 33065 ) Chẳng thơm cũng ngát hoa chanh (Câu 2) Chẳng giỏi cũng gái ngoại thành Gái mà như thế, khối anh giật mình! => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * (Tiếp theo câu số 33065 ) Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 33066 ) Chiều tà bóng ngã nương dâu, Vin cành bẻ lá em sầu duyên tơ. Tiếc công tháng đợi năm chờ, Tưởng chàng có nghĩa, ai ngờ theo Tây. Vùi thân trong đám bùn lầy Nước nào rửa sạch nhục này chàng ơi ! => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27946 ) Chim bay về mỏm Sơn Trà, Chàng đi lính mộ xa đà quá xa ! Sự này bởi tại Lang Sa Cho nên đũa ngọc mới xa mâm vàng.. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung, Quảng Nam, Đà Nẵng (Câu số 27947 ) Chim quyên xuống đất ăn trùn (2) Anh hùng lỡ vận lên rừng đốt than! Đốt than cháy rổ, cháy sàng Chiều về xuống biển đào hang bắt còng => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27952 ) Chờ cho đất nước hòa bình, Phụ mẫu nhà trường thọ, hai đứa mình kết duyên. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27953 ) Cho hay nhất quỷ nhì ma Bây giờ mới biết thứ ba thế nào Căm thù giặc nước từ bao Tấm lòng công phẫn ào ào như sôi Đứng đầu Khóa Ngọc, Tú Nhồi Kế bày tội ác rạch ròi tên Kim. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29184 ) Chuyện đâu có chuyện lạ đời Quan đi theo giặc bắt người lành ngay Nghìn năm nhớ mãi nhục này Theo Tây được thả, đánh Tây bị tù. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29639 ) Có bột mới gột nên hồ, Có gian khổ mới có cơ đồ vẻ vang. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27958 ) Có quan tổng đốc Hà Ninh (Câu 1) Hiệu là Quan Viễn, trung trinh ai bằng Lâm nguy lý hiểm đã từng Vâng ra trọng trấn mới chừng ba năm Thôn Hồ dạ vốn, nhăm nhăm 5
  6. Ngoài tuy giao tiếp trong căm những là Vừa năm Nhâm Ngọ, tháng ba Sáng mai mồng tám, bước qua giờ thìn Biết cơ trước đã giữ gìn Hơn trăm vũ sĩ, vài nghìn tinh binh Tiên nghiêm lên đóng trên thành Thệ sư rót chén rượu quỳnh, đầy vơi Văn quan, vũ tướng nghe lời Hầm hầm xin quyết một bài tận trung Ra oai xuống lệnh vừa xong Bỗng nghe ngoài đã ầm ầm pháo ran Tiêm cừu nổi giận xung quan Quyết rằng chẳng để chi đoàn chó dê Lửa phun, súng phát bốn bề Khiến loài bạch quỷ hồn lìa phách siêu Bắn ra nghe chết cũng nhiều Phố phường trông thấy tiếng reo ầm ầm (Còn tiếp Câu 2) => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * em tiếp câu sau: 29531 Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29529 ) Có quan tổng đốc Hà Ninh (Câu 2) Quan quân đắc chí bình tâm Cửa Đông, cửa Bắc vẫn cầm vững binh Chém cha cái lũ hôi tanh! Phen này quét sạch sành sanh mới là Nào ngờ thấu ý tại ta Vẫn rằng thắng trạng, hóa mà thua cơ Nội công phải những bao giờ Thấy kho thuốc cháy, ngọn cờ ngả theo Quan quân sợ chết thảy đều Thằng Tây, bạch quỷ đánh liều trèo lên Nào ai cơm áo dốc đền? Nào ai cầm vững cho bền ba quân? Nào ai còn chí kinh luân? Nào ai nghĩ đến thánh quân trên đầu? Một cơn gió thảm mưa sầu Nấu nung gan sắt, dãi dầu lòng son Chữ trung còn chút con con Quyết đem gửi cái tàn hồn gốc cây Trời cao, biển rộng, đất dày Núi Nùng, sông Nhị, chốn này làm ghi… => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * (Tiếp theo câu số 29529) Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29531 ) Con chim xanh ăn quanh bãi cát, Thiếp nạp cho chàng mỗi năm ba đồng, sáu giác công ngân (1) Chàng ơi! ngồi lại thiếp phân : Chàng nhịn ăn, thiếp nhịn mặc, đóng công ngân cho chàng. Nạp rồi lòng dạ chưa an, Lại nghe mõ đánh ngoài làng kêu xâu => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Sáu giác: (Tiếng địa phương) sáu cắc, sáu hào. Công ngân là (huế thực dân đánh trực tiếp vào từng người dân mỗi năm. (Trong Nam gọi là Thuế Thân) Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27964 ) 6
  7. Con cò mày đậu cành tre Thằng Tây bắn súng cò què một chân Đến mai ra chợ Đồng Xuân Chú khách mới hỏi sao chân cò què Cò rằng cò đậu cành tre Thằng Tây bắn phải cò què một chân. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29643 ) Con ơi!, con nín mẹ ru Cha con còn ở biên khu chưa về. Con ơi đừng khóc ủ ê Đợi cha con về chung hưởng tự do. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Dị bản: Con ơi!, con mà mẹ ru, Cha con còn ỏ chiến khu chưa về. Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27971 ) Con ơi!, giữ trọn lời thề Tự do, Độc lập, không nề hy sinh ! => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27972 ) Còn trời, còn nước, còn non, Còn người mù chữ, ta còn phải lo. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27973 ) Đã là cây bách, cây tùng, Nắng mưa đâu quản, bão dựng đâu sờn. Đã rằng vì nước vì non, Nước nhà còn giặc, ta còn ra đi. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 8717 ) Dám đâu quên kẻ anh tài Rèn gan sắt đá khôn nài bể dâu Gương phấn dũng làu làu Phạm Chánh, Cùng Phạm Long chung gánh nước non. Cha con trung nghĩa vẹn tròn, Cùng Nguyễn Sung nguyện mất còn có nhau. Bao phen cay đắng hận thù. Tam hùng, Tam kiệt nghìn thu trăng rằm. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 26343 ) Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm Rượu hồng đào chưa nhắm đã say Anh hùng thước lụa trao tay Nước non một gánh vơi đầy ai hay Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm, Rượu hồng đào chưa nhấm đà say. Lòng ta như chén rượu cay Lời thề nhớ chén rượu này bạn ơi Câu hò từ thuở xa xôi Bao năm còn vọng đậm lời nước non. Đá mòn, nhưng dạ chẳng mòn, Tình dân nghĩa nước một lòng sắt non. Đẹp gì súng giặc anh mang, Mà đi đốt phá xóm làng hồi anh ? => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * * Câu hát lưu truyền trong dân gian gan liền với sự kiện tuẫn tiết tại Võ miếu trong thành Hà Nội, khi thành sắp thất thủ của Tổng đốc Hoàng Diệu (1882), 7
  8. người quê làng Xuân Đài, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Câu này thuộc về ca dao lịch sử, nhưng xếp vào đây để cho nên mạch 10 câu ca dao cùng có chung một mô típ cấu trúc Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 9077 ) Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm (10) Rượu hồng đào chưa nhấm đà say. Lòng ta như chén rượu đầy, Lời thề nhớ chén rượu này bạn ơi ! Câu hò từ thuở xa xôi Bao năm còn vọng đậm lời nước non. Đá mòn, nhưng dạ chẳng mòn, Tình dân nghĩa nước một lòng sắt non. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * * Câu hát lưu truyền trong dân gian gan liền với sự kiện tuẫn tiết tại Võ miếu trong thành Hà Nội, khi thành sắp thất thủ của Tổng đốc Hoàng Diệu (1882), người quê làng Xuân Đài, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Câu này thuộc về ca dao lịch sử, nhưng xếp vào đây để cho nên mạch 10 câu ca dao cùng có chung một mô típ cấu trúc Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27977 ) Đầu con, đầu vợ, Đứa lớn, đứa bé, đứa bế, đứa nằm, Đứa lên một, đứa lên ba, đứa lên năm, đứa lên bảy. Tao biểu mày quảy, mày không quảy, Mày để tao quảy về cái đất Phú Ơn, (Phú Yên). Nặng nề gánh vác giang sơn, Đầu con, đầu vợ, cái đất Phú Ơn ta lại về. Nhìn trông đỉnh núi tứ bề . Cành mai chớm nở, ta về xứ ta! => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Hoặc: Đây con, đây vợ, Xuất xứ: - Miền Trung, Phú Yên (Câu số 27978 ) Đầu thì đội nón mõm bò Chân đạp mặt đất, tay gò càng xe. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29647 ) Đèn cầu tàu còn dầu còn cháy Lửa nhà máy hết cháy, còn than Lấy chồng thì chọn chỗ cao sang Lấy chi thằng điếm dọn bàn cho Tây. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Nam, Bến Tre (Câu số 31471 ) Đèn còn dầu còn cháy Lửa nhà máy hết cháy còn than Bảy ơi! Em có lấy chồng lựa chỗ giàu sang Lấy chi thằng điếm dọn bàn Tây ăn. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Nam, Bạc Liêu (Câu số 32623 ) Đốc Hà áo gấm áo hoa Mẹ tôi váy đụp đã ba bốn tầng. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29650 ) Đôi ta ra giữa chiến trường, Chung phần chiến đấu, giữ gìn tự do. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27981 ) Đồn Tây dù chắc, dù dày, Thuế nộp đủ đầy, đồn ắt phải tan. (1) => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Thuế ở đây là thuế "Đảm phụ quốc phòng" thời 8
  9. kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954). Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27982 ) Dù em con bế con bồng, Thi đua yêu nước quyết không lơ là. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27985 ) Đứng ở Hòn Chồng trông sang Hòn Yến, Lên Tháp Bà, về viếng Sinh Trung (2) Giang sơn cẩm tú chập chùng, Đôi ta gắn bó thủy chung một lòng. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung, Nha Trang, Khánh Hòa (Câu số 27986 ) Em đây như chiếc chuông vàng Trên tỉnh Hà Nội ba ngàn quân canh! - Anh đây là lính xứ Thanh Ra tỉnh Hà Nội, lên thành thử chuông! => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29654 ) Em về thưa mẹ cùng cha Anh vào quân đội, mai ra chiến trường. Anh đi bảo vệ biên cương, Mai ngày đất nước huy hoàng có nhau. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27988 ) Em nhìn xuống Đông, Ròng ròng nước mắt, Em trông ra Bắc, Nước mắt đòi cơn. Ông cha mình gầy dựng giang sơn, Biết bao nhiêu xương, Biết bao nhiêu máu, Bao nhiêu tủi, bao nhiêu hờn mới nên ? Ơn nghĩa chất chồng Con cháu sao nở đành quên Để cho quân Hồ lỗ Đặt nền đô hộ Lên đất nước nhà. Giống nòi lắm nỗi xót xa, Tính năm nô lệ nay đà tám mươi. Lên đất nước nhà. Giống nòi lắm nỗi xót xa, Tính năm nô lệ nay đà tám mươi. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Những địa danh trên thuộc tỉnh Khánh Hòa. Xuất xứ: - Miền Trung, Nha Trang (Câu số 27987 ) Gái quốc sắc như con sóng lượn Trai anh hùng như chiếc xuồng be. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Nam, An Giang (Câu số 28439 ) Gái quốc sắc như cơn sóng lượn Trai anh hùng như chiếc thuyền cây => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Nam, Vĩnh Long (Câu số 35319 ) Già thì già tóc, già râu Tinh thần cách mạng thì đâu có già. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27990 ) 9
  10. Giời làm sóng lở cát bay (Câu 1) Cho tớ bỏ thày cho mẹ bỏ con Cửa nhà trôi mất chẳng còn Vợ chồng cõng bế đàn con lên chùa Năm nay nạn nước ơn vua Quan trên phát chẩn ở chùa Tây Phương Giời làm một trận lỡ đường Cho nên mới biết Tây Phương thế này Giời làm sóng lở cát bay Quan trên phát chẩn mỗi ngày hai ca Đàn ông cho chí đàn bà Rạng ngày hăm tám đi ra mà về Quan Tuần, quan án ngồi nghĩ cũng ghê Thuê ngay hai chiếc thuyền về đình chung Giàu cùng, khó lại chẳng cùng Ai ơi còn cậy anh hùng làm chi Sinh ra nước lụt làm gì Giàu thì bán ruộng, khó thì bán con Nghèo thì bán cả nồi cấn lẫn lon đựng cà Có thì bán cửa bán nhà Nghèo bán đứa bé lấy ba bẩy hào (Còn Tiếp câu 2) => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * (Xem tiếp Câu số 29659 ) Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29658 ) Giời làm sóng lở cát bay (Câu 2) Em ngồi em nghĩ xôn xao Kẻ lên Tứ Mỹ, kẻ vào Sơn Đông Kỳ này thì vợ bỏ chồng Chồng lại bỏ vợ kẻ Đông, người Đoài Người thì buôn sắn, người lại buôn khoai Người thì buôn mía dông dài quàng xiên Gạo hơn nhưng chẳng có tiền Cho nên phải xách tổ tiên đi cầm Nghèo thì bán bát, bán mâm Giàu thì đi cố, đi cầm ruộng nương Có thì bán sập, bán giường Đói quá bán cả giá hương, long bài Nhà giàu tích lúa lên hai Để cho nhà khó đến nài chẳng cho Ruộng cạn, má úa có nhờ nhau không! Giời làm một cạm thâm đông Gặp cơn gió bấc sạch không làu bàu Ai ngờ ngã bỡn mà đau Tháng mười nước lại ở đâu mới về. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * (Tiếp theo câu số 29658 ) Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29659 ) Giữ từng tấc đất bãi bồi Khác nào của báu ông trời đền cho => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Nam, Vĩnh Long (Câu số 35537 ) Gò Công anh dũng tuyệt vời 10
  11. Ông Trương "Đám lá tối trời" đánh Tây => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 2963 ) Gớm thay thời buổi Tây, Tầu Bỏ đường trung nghĩa, ham cầu lợi danh. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29660 ) Hai tay cắp gáy lò dò đứng lên Ăn xong thì xếp vào bên Bà đầm vào điểm mới nên cơ hàn Cửa bằng sắt, khóa bằng đồng Ai vào cứu giúp bế bồng tôi ra. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29662 ) Hai vai gánh nặng về hai Nghiêng mình cõng chúa, tay dìu mẫu thân => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 3000 ) Hải Vân cao ngất từng mây, Giặc đi đến đó bỏ thây không về. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27991 ) Hở môi, răng lạnh ai ơi ! Chính quyền có vững ta thời mới yên, Đua nhau kẻ gạo, người tiền, Giúp vùng mới chiếm, giữ miền tự do. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27993 ) Hết Hòn Vay đến Hòn Trả, Hết Hòn Trả, lại đến Hòn Hành. Tấc dạ cam đành, Dắt con cùng vợ. Biết bao giờ trả nợ dương trần ? Nợ dương trần, tay lần tay vác, Tay vịn, chân trèo, Ta về xứ ta! Biết bao giờ trở lại quê nhà ? => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27992 ) Hỡi trời cao đất dày, Thuế sao nặng thế này ! Làng xóm đành bóp bụng, Bán đìa nộp thuế Tây => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27994 ) Hòn Sương (1) không thấp không cao, Đã từng là chốn anh hào lập thân. Kìa ai áo vải cứu dân, Kìa ai ba thước gươm trần chống Tây ? Chuyện đời thành bại, rủi may, Hòn Sương cây trải, đá xây bao sờn => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Hòn sương: Tục danh của núi Trung Sơn, thôn Phú Lạc, huyện lãnh Khê, nay là huyện Tây Sơn, Bình Định, nơi Mai Xuân Thưởng đã lập căn cứ chống Pháp. Xuất xứ: - Miền Trung, Bình Định (Câu số 25944 ) Kèn Tây đã thổi tò le Đốc binh, đốc chiến xuống khe mà ngồi 11
  12. Ông nghè, ông cống nực cười Mới nghe tiếng súng rụng rơi cả mình. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29667 ) Khoan khoan chân bước lên voi, Thương cha nhớ mẹ, quan đòi phải đi. Kể từ ngày mộ lính đi Tây, Tiền Tây em không chuộng, Bạc Tây em không màng. Ở nhà cơm hẩm, muối rang Bữa ăn có thiếp có chàng vẫn vui. Anh đi bỏ mẹ ai nuôi, Con thơ nó khóc ngùi ngùi thảm chưa ? Anh ra đi trống đánh cờ đưa, Con thơ, vợ dại nói chưa hết lời. Anh ra đi mặt biển chân trời Biết rồi có đặng sống đời cùng nhau ! Làm quan phải xét cho dân, Không tin ngài xuống, ngài mần (1), ngài coi. Làm trai cho đáng nên trai, Thanh gươm, yên ngựa, dặm dài lướt xông. Vẫy vùng nam, bắc, tây, đông, Lấy thân che chở non sông nước cần. Lấy chi mà trả ái ân, Lấy chi mà nộp công ngân cho chàng ? Phần thì quan bắt đắp đàngl Đào sông Câu Nhí, bòn vàng Bông Miêu. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Mần = Làm Xuất xứ: - Miền Trung, Khánh Hòa (Câu số 27996 ) Làm trai cho đáng nên trai, Thanh gươm, yên ngựa, dặm dài lướt xông. Vẫy vùng nam, bắc, tây, đông, Lấy thân che chở non sông nước nhà. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27998 ) Khuyển, ưng hai gã Khải, Hoan Theo Tây hại nước giàu sang riêng mình Công lênh với nước mới vinh Công lênh với giặc người khinh đời đời. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29668 ) Làm quan phải xét cho dân, Không tin ngài xuống, ngài mần, ngài coi. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27997 ) Lấy chi mà trả ái ân, Lấy chi mà nộp còng ngân cho chàng ? Phần thì quan bắt đắp đàngl Đào sông Câu Nhí, bòn vàng Bồng Miêu. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 27999 ) Một lòng theo ngọn cờ đào, Thề cùng bạch quỷ (1) có tao không mày: Muốn xây Độc lập, Tự do, Phải góp đảm phụ (2) phải lo quốc phòng. 12
  13. Giàu góp của, khó góp công, Máu xương không tiếc, năm đồng (3) tiếc chi! => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Bạch quỷ: Bọn xâm lược Tây Dương da trắng. Câu ca dao xuất hiện thời kỳ Cần vương. Đảm phụ: "Đảm phụ quốc phòng' trong kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954) mỗi suất năm nông, tiền tin phiếu lúc bấy giờ Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 28001 ) Một yêu em cố tăng gia Hai yêu em có đàn gà đầy sân Ba yêu làm cỏ bỏ phân Bốn yêu sớm tối chuyên cần tưới rau Năm yêu chăm chỉ bắt sâu Sáu yêu nương sắn, gàn bầu chuồng chim Bảy yêu đàn lợn mới thêm Tám yêu dãy chuối lại kèm rặng khoai Chín yêu khóm mía cao cao Mười yêu cần kiệm, dân giàu nước sang => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 6456 ) Năm Quý Dậu, tàu vào vừa tới (Câu 1) Người Bắc Kỳ rằng mới biết Tây Rủ nhau xem sóc thâu ngày Đem quân về đóng ở rày Trường Thi Tờ niêm yết Ngạc-nhe An-nghiệp “Đường giao thông tiến tiếp lại qua Xa nghe đồn tỉnh Bắc Hà Giặc Tàu quấy rối vậy mà đến đây” Các quan tỉnh nghi nghi hoặc hoặc Những bàn riêng rằng “giặc bên chân” Tháng mười, mồng một, giờ dần Ầm ầm hạ tỉnh là lần ngày xưa Khi ấy có Khâm thừa quan Nguyễn Cha con đều ngộ biến thất cơ Phò Lâm mắc cạn bây giờ Cha già tuyệt thực còn chờ quyên sinh Các quan sau quyết tình lên thứ Ông thamTôn tức sự khởi hành Đem quân về đóng Diễn, Canh Nhơn nhơn thu phục tỉnh thành về ta. Chốn Thăng Long thật là thượng đẳng Xui tướng Tây quyết thắng tiến truy (Còn Tiếp câu 2) => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xem tiếp câu số: 29674 (Francis Garnier) Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29673 ) Năm Quý Dậu, tàu vào vừa tới (Câu 2) Thất cơ phải chú Hắc Kỳ Ngoài ô, một trận, Ngạc-nhe qua đời Khách các hiệu rụng rời nhao nhác Dọn vần tay đồ đạt xuống tàu Giữa dòng chiếc trước, chiếc sau Ra ngoài Ninh Hải để hầu về Nam Quan thừa thắng, điên bàn tướng sĩ Bất thình lình có chỉ Kinh ra Chuộc thành mà lại giảng hòa 13
  14. Định, An, Ninh Hải tới Hà Nội đây Quan Hoàng thống nghe rày bứt rứt Lưu Hắc Kỳ kéo phứt lên Ngâu. Phá ngang việc ấy bởi đâu Nhà công xế bóng, cửa chầu lỏng then. Sai quan Nguyễn VănTường chánh sứ Hoắc-đạo-sinh thủ thứ là đây Quan Nam với lại quan Tây Sửa sang khi ấy dân rày được yên Việc thanh khoản chi truyền về bộ Quan Nguyễn Tường thăng Hộ thượng thư Qua năm Giáp Tuất, tháng tư (Còn Tiếp Câu 3) => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xem tiếp câu số: 29675 Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29674 ) Năm Quý Dậu, tàu vào vừa tới (Câu 3) Thấy quan Nguyễn Chánh phụng từ kinh ra Điều niêm yết mới hòa ước đó Gẫm kỹ xem có khó nghe thay! Non sông cao rộng thế này Nào người trí dũng, nào tay anh hùng? Quan Tăng Doãn rằng: - Vâng thánh chỉ Tỉnh Hải Dương lĩnh ý phải ra” Quan tư với lại quan ba Tìm nơi Hà Nội lập tòa Tràng Tây Thấy phố xá người đầy, đất hẹp Nhà thứ dân rộn rịp chỉn khôn Thênh thênh sẵn chốn Thủy Đồn Làm tòa ở cạnh ô môn Trường Tiền Khai Thương chánh, thu biên thuế thủy Cùng quan ta quản lý thâu chung Rồi sau mới lập ngoài sông Nhà cao ngất ngưởng bên sông Nhị Hà… => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Tiếp từ câu số 29674 Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29675 ) Nằm thời lấy đất làm giường, Lấy trời làm chiếu, lấy sương làm màn. Xâu làng bắt xuống, gọi lên, Trầy da, tróc thịt cái tên vẫn hoài. Ăn thì những củ cùng khoai Bửa mô kiếm được thì vài miếng cơm. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 31171 ) Nghèo thì ăn sắn ăn khoai? Ai ơi đừng có theo loài Pháp gian => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 4681 ) Ngày xưa đi lính cho Tây, Ngày nay đi lính phanh thây quân thù. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 28003 ) Nghĩ xem cái nước Nam mình (Câu 1) Tây sang bảo hộ tài tình đến đâu? Nghĩ xem tiền của ở đâu 14
  15. Đưa ra mà bắc được cầu qua sông Chả hay tiền của của chung Đưa ra mà bắc qua sông Bồ Đề Bắc cho thiện hạ đi về Những cột dây thép khác gì nhện chăng Tưởng rằng anh Pháp nghĩa nhân Chả hay lấy của dân Nam làm giàu Tưởng rằng bảo hộ cho nhau Chả hay đánh mắng ra màn coi khinh Cũng giang sơn cũng triều đình Thế mà nước mất dân tình lầm than Lo sưu, lo thuế đã cam Nay kinh, mai lính, gian nan mịt mù Dân thì phải thợ, phải thu Tỉnh thành đặt chốn lao tù cấm ngăn Một năm biết mấy lần liền Nay thuế quốc trái, mai thu quốc phòng Những quân vui thú nức lòng (Còn tiếp câu 2) => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * (Xem tiếp Câu số 2657) Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29656 ) Nghĩ xem cái nước Nam mình (Câu 2) Đua nhau ăn bẩn như muông khác gì… Nước khô rồi nước lại hồi Còn trời, còn đất, còn nòi giống ta. (Hết) => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * (Tiếp theo câu số 2656 ) Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29657 ) Ngó lên ngó xuống thì vui (2) Ngó vùng bị chiếm ngùi ngùi nhớ thương (1) => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Câu ca dao xuất hiện trong kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954) lúc bấy giờ tỉnh Quảng Nam chia làm hai vùng: bị chiếm và tự do. Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 28005 ) Ngó lên trên sở ông Hoàng (2) Ngó xuống Ba Hộ (3) tang hoang cửa nhà. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Lầu ông Hoàng người Pháp có tên là Dễ Monpensier xây cất vào đầu thế kỷ 20. Tương truyền khi xây lầu này thì làng An Hải (tức làng Ba Hộ) bị bệnh dịch, tiếp đó là bão lụt, làm nhiều người chết. Số người mê tín cho là ông Hoàng đã gây ra tai vạ ấy. Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 28004 ) Người đâu mà lại lạ đời Con gái Hà Nội lấy người bên Tây Tây đâu có ở đất này Nó về nước nó khốn thay thân già. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29680 ) Nhâm Ngọ thì có sao đuôi Đến năm Quý Mùi giặc liền phá ra Nhà vua thân với Lang - Sa Để Tây ăn hại trứng gà của dân. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29684 ) Nhiễu điều phủ lấy giá gương, 15
  16. Giúp vùng bị chiếm là thương giống nòi. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 30508 ) Nhớ xưa liệt sĩ bốn người (Câu 1) Ở trong ban lính đóng nơi La Thành Đôi phen trận mạc tập tành Thấy người xe ngựa, tủi mình non sông - Nay tôi có chước lập công Ở trong tôi đã ám thông với bồi Chờ khi nó trúng độc rồi Thẳng lên kho súng giết người lính canh Lấy được súng, kéo vào thành Ba tòa chiếm thủ, chi binh ba đường Đất bằng nổi tiếng sấm vang Ông Đề xuống lấy Bắc Giang tỉnh thành Tuyên Quang, Thái, Lạng, Nghệ, Thanh Bốn phương hưởng ứng dẹp bình như chơi. Ông Bình nói chửa hết lời Hai bên đứng dậy, người người vỗ tay Tức thì ba đạo chia ngay Hữu kia Nguyễn Cốc, tả này Đặng Nhân Ông Bình là chủ trong quân Ông Nga làm phó ba quân cứ lời Cùng nhau bộ thự vừa rồi Mở ra sáp huyết làm lời ước minh (Còn Tiếp Câu 2) => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xem tiếp câu sau: 29533 Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29532 ) Nhớ xưa liệt sĩ bốn người (Câu 2) Ngày hai mươi chín bình minh Nghe nó trúng độc thì mình động ngay Lạ thay không cánh mà bay Cơ mưu nó biết, ngày ngày nó trông Hai mươi chín, bẩy điểm chung Nó ăn phải độc chưa xong nửa phần Vô tình phải đứa bất nhân Đem tin báo với Pháp quân tức thì Thôi thôi còn có kíp gì Hùm kia đến lúc xa ki cũng hèn Pháp doanh nghe động tiếng kèn Trong thành bốn mặt bổ liền quân vây Chẳng qua một rủi, một may Chậm cho mươi phút sự này hẳn xong Thương thay thất bại anh hùng Tấm lòng đối với non sông thẹn gì Gan vàng, dạ đá tri tri Ông Bình đến chết coi thì như không Vừa cười vừa nói ung dung Bên đường trông thấy ai không sụt sùi Ông Nga vừa bắt đến nơi (Còn Tiếp Câu 3) => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * (Tiếp theo câu số 29532) Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29533 ) 16
  17. Nhớ xưa liệt sĩ bốn người (Câu 3) Pháp quân dò hỏi mấy lời thủy chung Rằng: - Anh là kẻ có công Và ơn Nhà nước cũng không bạc gì Cớ sao mưu phản làm chi? Những ai đồng đảng nói thì tha ngay! Nghe lời nghiến lợi cau mày Mắng rằng: - Pháp tặc nói hay làm gì Mấy nghìn vạn ức mày thì nhớ không? Tao ăn một tháng mười đồng Cũng là da thịt của trong toàn kỳ Cơm thừa canh cặn ra chi Hãy còn khéo nói, kể gì làm ơn Dựa Nam nhân, giết Nam nhân Một năm lương thuế toàn kỳ Mấy nghìn vạn ức mày thì nhớ không? Tao ăn một tháng mười đồng Cũng là da thịt của trong toàn kỳ Cơm thừa canh cặn ra chi Hãy còn khéo nói, kể gì làm ơn Dựa Nam nhân, giết Nam nhân Một năm lương thuế toàn kỳ (Còn Tiếp Câu 4) => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * (Tiếp theo câu số 29534) Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29534 ) Nhớ xưa liệt sĩ bốn người (Câu 4) Mấy nghìn vạn ức mày thì nhớ không? Tao ăn một tháng mười đồng Cũng là da thịt của trong toàn kỳ Cơm thừa canh cặn ra chi Hãy còn khéo nói, kể gì làm ơn Dựa Nam nhân, giết Nam nhân Gọi to một tiếng “Đồng bào!” Hồn thiêng theo trận gió ào lên mây Ôi thương thay! Ôi thương thay! Kể sao cho xiết chết lây những người Văn minh thật đã lạ đời Đàn bà giết cả đến người hàng cơm Thôi thôi trâu béo cỏ rơm Trăm nghìn phó một mũi gươm là rồi Khen cho liệt sĩ bốn người Một lòng vì nước muôn đời tiếng thơm… => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29535 ) Những lời ích quốc lợi gia Tiếng tăm lừng lẫy, gần xa nức lời. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 5126 ) Ô Loan nước lặng như tờ, Thương người chiến sĩ dựng cờ Cần vương (1) Trải bao gối đất nằm sương, Một lòng vì nước nêu gương anh hùng. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * (1) Đầm Ô Loan : Một thắng cảnh của Phú Yên. 17
  18. Nơi đây, ông Tú Phương (người Phú Yên) đã lãnh đạo nghĩa quân hướng ứng phong trào Cân vương chống Pháp. Xuất xứ: - Miền Trung, Phú Yên (Câu số 29946 ) Nước sông Hàn đời mô cho hết mặn, Rừng Sơn Trà ai đốn cho hết cây, Lời nguyền anh đó, em đây, Anh đừng đi lính cho Tây em chờ Ô Loan nước lặng như tờ, Thương người chiến sĩ dựng cờ Cần vương (1) Trải bao gối đất nằm sương, Một lòng vì nước nêu gương anh hùng. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 28009 ) Ở nhà cơm hẩm, muối rang, Bữa ăn có thiếp có chàng vẫn vui. Con thơ nó khóc ngùi ngùi thảm chưa ? Anh ra đi trống đánh cờ đưa, Con thơ, vợ dại nói chưa hết lời. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 28012 ) Nuôi quân ta nộp lúa vàng, Quân no đánh thắng, giết ngàn giặc Tây. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 28010 ) Ớ bạn mình ơi ! Á, Âu nay gió bụi tung trời Sổ lồng tháo cũi đến thời rồi đây. Tay bắt tay, chung lòng chung sức Quyết diệt thù cứu quốc bạn ơi ! Lòng em khôn tỏ hết lời Kìa gương phấn dũng rạng ngời nước non. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 28011 ) Phải gấp đảm phụ (2) phải lo quốc phòng. Giàu góp của, khó góp công, . . . Máu xương không tiếc, năm đồng (3) tiếc chi ! => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 9167 ) Quan trên ơi hởi quan trên, Hiếp dân, ăn chặn, chỉ biết tiền mà thôi => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 31183 ) Qui Nhơn eo biển có cầu, Có phố chú Chả, có lầu ông Tây. Thông ngôn, ký lục lắm thầy, Chân thì giày ống, tay thì ba toong, Vợ thì đánh phấn thoa son, Nước non còn mất, mất còn không hay. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 31184 ) Rạ đồng Chiêm có liềm thì cắt Rạ đồng mùa có măt thì coi Được mùa chớ phụ ngô khoai Đến năm Thân Dậu lấy ai bạn cùng => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Năm 1945, người Nhật muốn diệt lòng ái quốc và kháng chiến của dân Việt đã đốt hết lúa gạo làm khỏang 3 triệu người miền Bắc chết đói Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 5591 ) 18
  19. Rau Lĩnh Nam nấu suông mà ngọt Bưng bát cơm đơm một muốn hai Trưa nay vừa bức vừa oi Hái nhanh cho kịp gửi nơi trận tiền Cà muối xổi, rau dền, cải trắng Tuy đơn sơ nhưng thắm tình dân Sớm chiều em tưới em chăm Cho rau mượt lá, anh ăn mát lòng Anh giữ súng phòng không vững chắc Em trồng rau xanh ngắt trên đồng Rau tiếp luống, đạn lên nòng Giặc nào thoát khỏi trong vòng tay ta. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29694 ) Ru hời, ru hỡi là ru Cha con còn ở chiến khu chưa về. Con ơi ! Nhớ trọn lời thề Tự do, Độc lập, không nề hy sinh. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 28015 ) Sông Trà Khúc, ai mà tát cạn, Rừng Trà Bồng, ai đẵn cho hết cây ? => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 28018 ) Thà ăn rau má, rau lang Hơn theo Bá Cừ (l) thác oan uổng đời. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Năm 1925, Lê Bá Cừ từ Huế vào Quảng Nam mộ phu đưa vào Nam Bộ làm đồn điền đồn điên cao su. Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 28024 ) Tai nghe súng nổ cửa Hàn, Giận Tây không giận, giận chàng Lưu Cơ. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Pháp đánh Đà nẵng Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 28020 ) Tai nghe súng nổ đì đùng Tàu Tây đã lại Vũng Thùng (1) hôm qua. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Vũng Thùng: Tức vũng biển Đà Nẵng. Ngày 1-Đ- 1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha gồm 3.000 người cùng 14 chiến thuyền do đô đốc R. Dễ Genouilly chỉ huy đã nổ súng tấn công Đà Nẵng. Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 28021 ) Tấm gương sáng tỏ ngàn thu, Đảm đương nợ nước đền bù cho xong. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Nam (Câu số 27362 ) Tây bang, đi lính mộ khó về, Ngày xưa em có nói, anh chẳng hề chịu nghe. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Đệ nhất Thế chiến Pháp mộ quân thguộc địa đi đánh giặc cho Pháp Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 28023 ) Tay bắt tay, chung lòng chung sức Quyết diệt thù cứu quốc bạn ơi Lòng em khôn tỏ hết lời Kìa gương phấn dũng rạng ngời nước non. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 25954 ) Thà rằng uống nước hố bom, Còn hơn theo giặc, lưng khom, chân quỳ (2). 19
  20. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 28025 ) Tham chi đồng bạc của Tây Mà đi lính mộ bỏ bầy con thơ. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 28026 ) Tháp trải nắng sương, cau nương sắt đá, Dẫu người thiên hạ tiếng ngả lời nghiêng. Cao thâm đã chứng lòng nguyền, Còn cầu, còn tháp, còn duyên đôi đứa mình. Non sông nặng gánh chung tình. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 28028 ) Thấy em cuốc cuốc, cào cào, Dừng chân anh hỏi: Được bao nhiêu hầm ? Mồ hôi vai áo ướt đầm, Thương em sức yếu đào hầm, cắm chông. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 28029 ) Thơm Vạn Giã (1) ngọt đà quá ngọt, Mía Phú Ân cái đọt cũng ngon Hởi người chưa vợ chưa con Vào đây chung gánh nước non với mình. Quản bao lên thác xuống ghềnh, Mía ngon, thơm ngọt đượm tình quê hương. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Vạn Giã, Phú ân: Những địa danh thuộc Khánh Hòa. Xuất xứ: - Miền Trung, Khánh Hòa (Câu số 28030 ) Thuế đò, thuế chợ, thuế xia Bây giờ Tây bắt đóng thì thuế đinh. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Hà Nội (Câu số 29699 ) Thương người bôn tẩu xứ xa Quê hương cũng bỏ, mẹ cha cũng lìa => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 6202 ) Tiếng đồn ông Tú Đỉnh Coi "Tân tỉnh" Sông Côn, Vì nghe vua Đồng Khánh, lên non mất đầu (3). => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Trong phong trào Nghĩa hội chống Pháp (1885- 1887) Nguyễn Duy Hiệu lập "Tân tỉnh" (chiến khu) Ở vùng Trung Lộc (Quế Sơn), còn Tú tài Trần Đỉnh thì lập chiến khu Ở phía Sông Con (mạn tây bắc Đại Lộc). Do nghe lời chiêu hồi của Đồng Khánh, Trần Đỉnh đã đến chiến khu Trung Lộc nhằm thuyết phục Nguyền Duy Hiệu cùng ra đầu hàng. ông Hiệu không những không nghe mà còn ra lệnh quân sĩ bắt chém Trần Đỉnh, đem đầu bêu Ở chợ Trung Lộc, còn thi thể thì bỏ vào quan tài đem gởi lại cho lực lượng Nghĩa hội bên phía Sông Con để cảnh cáo những ai có tư tưởng dao động muốn đầu hàng địch. Xuất xứ: - Miền Trung, Quảng Nam (Câu số 26345 ) Tiếng anh người có học, Sao anh chẳng nghĩ suy. Tây bang, anh đi lính làm chi, Xa cha lìa mẹ, còn gì chữ ân ! Anh ơi ! Nghe lấy lời phân, Đừng đi lính mộ bỏ thân xứ người. => Tương Đương với Anh Ngữ hoặc : Ghi Chú: * Xuất xứ: - Miền Trung (Câu số 28032 ) Tiếng đồn anh hay chữ, 20
Đồng bộ tài khoản