Các bệnh di truyền do rối loạn chuyển hoá và các bệnh nhiễm sắc thể

Chia sẻ: Nguyen Phuonganh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
134
lượt xem
35
download

Các bệnh di truyền do rối loạn chuyển hoá và các bệnh nhiễm sắc thể

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

1. Các bệnh di truyền do rối loạn chuyển hoá 1.1. Phenylketonuria (PKU) PKU là một dị tật bẩm sinh, được di truyền do gene lặn Mendel. PKU được Phelling phát hiện lần đầu tiên vào vào năm 1934.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Các bệnh di truyền do rối loạn chuyển hoá và các bệnh nhiễm sắc thể

  1. Các bệnh di truyền do rối loạn chuyển hoá và các bệnh nhiễm sắc thể 1. Các bệnh di truyền do rối loạn chuyển hoá 1.1. Phenylketonuria (PKU) PKU là một dị tật bẩm sinh, được di truyền do gene lặn Mendel. PKU được Phelling phát hiện lần đầu tiên vào vào năm 1934. Trẻ sơ sinh bị bệnh này là do đột biến gene, gan không có khả năng tổng hợp phenylalanine hydroxylase nên dẫn đến
  2. tình trạng không chỉ kìm hãm sự chuyển hoá phenylalanine thành tyrozine mà còn gây ra ứ đọng phenylalanine trong máu, làm tăng sự phân giải phenyalanine thành axit phenylpyruvic, cũng bị tích tụ trong máu. Cả phenylalanine và phenylpyruvic khi lên não nhiều sẽ đầu độc tế bào thần kinh. Bản thân nước tiểu thải ra cũng có phenylalanine. Nếu đột biến gene lặn xảy ra ở một khâu khác làm kìm hãm hoạt động của enzyme tyrozinase, là enzyme xúc tác phản ứng chuyển hoá tyrozine thành melanine dẫn tới bạch tạng. Nhiều nước ngày nay đã đặt ra thủ tục để chẩn đoán cho mọi trẻ sơ sinh, phát hiện sớm dạng đồng hợp PKU để cho ăn khẩu phần kiêng đặc biệt nghèo phenylalanine (cháo sữa ngựa) hoặc khẩu phần ăn
  3. không có phenylalanine (rau, mật ong, bơ,...) 1.2. Alcaptonuria Bateson,1902 và Garrod, 1907 đã chứng minh rằng bệnh này do một gene lặn, thường xảy ra ở các gia đình có người cùng dòng máu lấy nhau. Biểu hiện của bệnh này rất dễ nhận biết: nước tiểu của bệnh nhân có màu đen do trong nước tiểu chứa một lượng lớn axit homogenetizic. Ở người bình thường, axit homogenetizic sẽ được enzyme oxydase phân giải thành axit axetoaxetic. Khi thiếu enzyme oxydase thì axit homogenetizic không được phân giải và thải ra theo nước tiểu, bị oxy hoá trong không khí tạo thành một hợp chất có màu đen. Khi còn bé tật bẩm sinh này chưa gây hậu quả nghiêm trọng
  4. nhưng khi đứng tuổi bị viêm khớp nặng, sụn tích luỹ nhiều sắc tố. 2. Các bệnh nhiễm sắc thể Nhờ sự phát triển của các phương pháp nghiên cứu di truyền học người, đặc biệt là phương pháp di truyền tế bào đã làm rõ cơ chế phát sinh nhiều loại bệnh nhiễm sắc thể, do sự phân ly không bình thường của nhiễm sắc thể trong quá trình phân bào hoặc do dị dạng, sai hình nhiễm sắc thể từ các rối loạn trong cấu trúc, hình thái. 2.1. Hội chứng Down Hội chứng này được Langdom Down phát hiện lần đầu tiên vào năm 1866. Tần số bắt gặp khoảng 1/700 trẻ sơ sinh và là bệnh nhiễm sắc thể bắt gặp cao nhất. Thường thì bộ nhiễm sắc thể của bệnh nhân có 47 chiếc, thừa một nhiễm sắc thể
  5. 21. Trong một số trường hợp hội chứng này còn là kết quả của chuyển đoạn giữa nhiễm sắc thể 21 với nhiễm sắc thể của nhóm D hoặc nhóm G. Biểu hiện bệnh lý là ngu đần bẩm sinh, giảm trí lực, nhiều dị tật ở các cơ quan nội tạng, không có khả năng sinh dục, vóc dáng bé, lùn, cổ rụt, đầu bé, chẩm dẹt, mắt tròn, khe mắt xếch, môi dày, lưỡi dày có xu thế thè ra thường xuyên...Số liệu về hội chứng Down ở trẻ em Việt Nam đã được trình bày trong chương 3. 2.2. Hội chứng Klinefelter H. F.Klinefelter đã mô tả hội chứng này lần đầu tiên vào năm 1942. Tần số bắt gặp là khoảng 1/1000 bé trai sinh ra. Kiểu nhân của bệnh nhân là 47, XXY. Nguyên nhân có thể là do thụ thai từ một tế bào trứng XX với tinh trùng Y hoặc từ
  6. một trứng X với tinh trùng XY. Bệnh nhân là nam không bình thường về tuyến sinh dục, có một số nét giống nữ , có vú như nữ, đặc biệt là các tính trạng giới tính thứ cấp, trí tuệ kém phát triển, không có con, khổ người cao, chân tay dài 2.3. Hội chứng Turner Hội chứng này được H.H.Turner phát hiện lần đầu tiên vào năm 1938. Tần số bắt gặp khoảng 1/3000 trẻ em gái sơ sinh. Kiểu nhân của bệnh nhân là 45, X. Nguyên nhân là do một tế bào trứng hoặc một tinh trùng không có nhiễm sắc thể giới tính, hoặc do mất đi một nhiễm sắc thể giới tính trong nguyên phân ở những lần phân cắt đầu tiên sau khi hình thành hợp tử XX hoặc XY. Bệnh nhân có tầm vóc bé, thường bị các dị hình như không có buồng trứng, thiếu các tính trạng giới
  7. tính thứ cấp do đó không có con và nhiều dị dạng bề ngoài khác Cần nói thêm là, ở Việt Nam, đã có các số liệu nghiên cứu được công bố về các bất thường nhiễm sắc thể trong các thể bệnh Leukemia cấp, một dạng bệnh tăng bạch cầu, hoại huyết (Phạm Quang Vinh, 2003).
Đồng bộ tài khoản