Các biện pháp giảm thâm hụt ngân sách của Chính phủ

Chia sẻ: Hai Yen | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:16

4
2.406
lượt xem
748
download

Các biện pháp giảm thâm hụt ngân sách của Chính phủ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Các biện pháp giảm thâm hụt ngân sách của Chính phủ Vì được đặt trong bối cảnh chống lạm phát nên chính sách ngân sách (hay chính sách tài khóa) của Chính phủ trong thời gian qua chỉ hướng đến mục đích giảm chi tiêu công (gồm đầu tư công và chi thường xuyên) và qua đó giảm tổng cầu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Các biện pháp giảm thâm hụt ngân sách của Chính phủ

  1. Các biện pháp giảm thâm hụt ngân sách của Chính phủ Vì được đặt trong bối cảnh chống lạm phát nên chính sách ngân sách (hay chính sách tài khóa) của Chính phủ trong thời gian qua chỉ hướng đến mục đích giảm chi tiêu công (gồm đầu tư công và chi thường xuyên) và qua đó giảm tổng cầu. Cụ thể là Chính phủ chỉ thị: (i) Cắt giảm nguồn đầu tư từ ngân sách và tín dụng nhà nước; (ii) Rà soát và cắt bỏ các hạng mục đầu tư kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước (DNNN); (iii) Cắt giảm chi thường xuyên của bộ máy nhà nước các cấp. Tổng đầu tư của Nhà nước (từ ngân sách, tín dụng nhà nước và thông qua DNNN) luôn chiếm trên dưới 50% tổng đầu tư của toàn xã hội (Hình 2). Vì vậy, không nghi ngờ gì, nếu Nhà nước có thể cắt giảm một số khoản đầu tư kém hiệu quả và có thứ tự ưu tiên thấp thì sức ép gia tăng lạm phát chắc chắn sẽ nhẹ đi. Cũng tương tự như vậy, lạm phát cũng sẽ được kiềm chế bớt nếu các cơ quan nhà nước có thể cắt giảm chi thường xuyên (chiếm 56% tổng chi ngân sách năm 2007). Mặc dù chính sách cắt giảm chi tiêu công là hoàn toàn đúng đắn, song hiệu lực của những biện pháp cụ thể đến đâu thì còn chưa chắc chắn vì ít nhất có bốn lý do. Thứ nhất, việc cắt giảm, thậm chí giãn tiến độ đầu tư công không hề dễ dàng, nhất là khi những dự án này đã được các cơ quan lập pháp các cấp quyết định; đã được đưa vào quy hoạch của các bộ, ngành, địa phương; đã được triển khai; và nhất là khi chúng gắn với lợi ích thiết thân của những cơ quan liên quan đến dự án. Thứ hai, Nhà nước hầu như không thể kiểm soát các khoản đầu tư của các DNNN, một mặt là do chính sách phân cấp trong quản lý đầu tư, và mặt khác là do một số tập đoàn lớn đã tự thành lập ngân hàng riêng. Thứ ba, với tốc độ lạm phát như hiện nay thì chỉ cần giữ được tổng mức đầu tư công theo đúng dự toán cũng đã được coi là một thành tích đáng kể. Thứ tư, kinh nghiệm quốc tế cho thấy rằng vì việc giảm chi thường xuyên rất khó khăn nên đây thường là hạng mục cuối cùng nằm trong danh sách cắt giảm. Hơn thế, với thực tế ở Việt Nam thì phạm vi chi thường xuyên có thể cắt giảm không nhiều. Đầu tiên là phải trừ đi quỹ lương (chiếm khoảng 2/3 tổng chi thường xuyên), sau đó phải trừ đi các khoản phụ cấp có tính chất lương, chi chính sách chế độ, tiền đóng niêm liễn cho các tổ chức quốc tế, các khoản chi thường xuyên đã được thực hiện v.v… Theo ước lượng của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì nếu làm thật quyết liệt thì sẽ giảm được khoảng 3.000 tỉ
  2. đồng chi hội họp và mua sắm xe - tức là giảm được khoảng 0,8% tổng chi ngân sách. Giảm thâm hụt ngân sách bằng cơ chế quản lý đầu tư công Chính sách giảm tổng cầu thông qua thắt chặt chi tiêu công là đúng đắn, cần thiết nhưng chưa đủ. Nỗ lực giảm chi tiêu công của Chính phủ chỉ thực sự có hiệu lực nếu như Chính phủ đồng thời có cơ chế để đảm bảo những khoản đầu tư còn lại có hiệu quả. Đầu tiên là phải có cơ chế quản lý đầu tư công sao cho những dự án kém hiệu quả (như chương trình 5 triệu tấn đường hay đánh bắt xa bờ) bị loại bỏ ngay từ đầu. Sau đó, phải đảm bảo dự án được tiến hành đúng tiến độ và không bị thất thoát, lãng phí (như dự án 112 và các dự án đầu tư xây dựng cơ bản - được ước lượng là thất thoát trung bình 30%). Một trong những biện pháp có thể được sử dụng để cải thiện cơ chế quản lý đầu tư công là thành lập một hội đồng thẩm định đầu tư công độc lập. Một nguyên nhân quan trọng của tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư công là do quá trình ra quyết định đầu tư của chính quyền địa phương và các bộ ngành chủ quản chịu ảnh hưởng của các nhóm lợi ích và do vậy thiếu khách quan. Vì vậy, nhiệm vụ của ủy ban độc lập này là đánh giá, thẩm định một cách toàn diện và khách quan các dự án có quy mô vượt quá một quy mô đầu tư nhất định nào đó. Kết luận của Hội đồng thẩm định này sau đó được công bố rộng rãi. Tương tự như vậy, báo cáo kiểm toán các DNNN và dự án đầu tư công lớn cũng phải được công khai. Để thu hẹp thâm hụt ngân sách thì song song với việc giảm chi tiêu, Chính phủ cũng cần cải thiện các nguồn thu ngân sách, tránh tình trạng ngân sách phụ thuộc quá nhiều (tới hơn 40%) vào các nguồn thu không bền vững từ dầu mỏ và thuế nhập khẩu như hiện nay. Cải cách thuế, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân (hiện chiếm 2% tổng ngân sách của Việt Nam trong khi con số này ở các nền kinh tế hiện đại đều lớn hơn 20%) và thuế bất động sản. Thật bất công và kém hiệu quả khi nhiều người sau một đêm trở thành triệu phú nhờ vào việc Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng (CSHT) tại nơi họ có bất động sản, trong khi lại không phải đóng góp gì cho ngân sách nhà nước. Áp dụng thuế bất động sản đúng đắn là một cách đảm bảo sự bền vững cho ngân sách nhà nước, đồng thời giúp Nhà nước thực hiện được các chương trình đầu tư CSHT vì quốc kế dân sinh. Những khó khăn hiện tại của nền kinh tế Việt Nam bắt nguồn từ những bất cập trong chính sách phát triển dài hạn. Chủ trương tăng trưởng nhờ vào số lượng thông qua đầu tư ồ ạt, dựa vào khu vực nhà nước vốn kém hiệu quả, đồng thời thiếu sự phối hợp đồng bộ trong điều hành vĩ mô đã đưa nền kinh tế Việt Nam từ bối cảnh sau khi gia nhập WTO vô cùng thuận lợi đến tình trạng lạm phát và bất ổn vĩ mô như hiện nay. Vẫn còn may là những khó khăn của Việt Nam hiện nay hoàn toàn có thể giải quyết được nếu Chính phủ có quyết tâm mạnh mẽ và chính sách đúng đắn, trong đó kỷ luật tài khóa là điều kiện quan trọng nhất.
  3. Thắt chặt và nâng cao hiệu quả của chi tiêu công, đặc biệt là áp đặt kỷ luật nghiêm ngặt đối với hoạt động đầu tư của các tập đoàn nhà nước là điều kiện tiên quyết để có thể khôi phục lại cân bằng vĩ mô và gia tăng hiệu quả, tính ổn định và đà tăng trưởng cho nền kinh tế.
  4. Các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững Ngày 17/4/2008, thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký ban hành Nghị quyết số 10/2008/NQ-CP về các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững. Sau đây là toàn văn Nghị quyết. Tình hình kinh tế thế giới đang có nhiều biến động phức tạp, khó lường. Giá dầu và hầu hết các nguyên vật liệu cơ bản và lương thực, thực phẩm trên thị trường thế giới tăng cao; sự suy giảm của kinh tế Mỹ đã tác động mạnh và kéo theo sự suy giảm của nhiều nền kinh tế. Trong nước, đợt rét đậm, rét hại lịch sử kéo dài ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ đã gây tổn thất lớn về vật chất và tác động bất lợi đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân. Trong điều kiện kinh tế nước ta có sức cạnh tranh chưa cao lại mới bước đầu vận hành theo cơ chế thị trường và đang hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới thì những hệ quả nặng nề của thiên tai, dịch bệnh và những biến động bất lợi của kinh tế toàn cầu đã có tác động tiêu cực đến tăng trưởng và đến mặt bằng giá trong nước. Trước tình hình này, Chính phủ đã thống nhất xác định nhiệm vụ trọng tâm hiện nay của đất nước ta là: kiềm chế lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, trong đó kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên hàng đầu. Để đạt được những nhiệm vụ và mục tiêu nêu trên, một mặt phải tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 02/2008/NQ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ về điều hành kinh tế - xã hội năm 2008, mặt khác cần tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt và đồng bộ các giải pháp chủ yếu sau đây: I. THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CHẶT CHẼ 1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ động, linh hoạt trong việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường, kiểm soát chặt chẽ tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng nhưng phải bảo đảm tính thanh khoản của nền kinh tế và hoạt động của các ngân hàng, tổ chức tín dụng. Sử dụng linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ để giảm dần lãi suất huy động theo hướng thực hiện chính sách lãi suất thực dương. Tăng cường kiểm soát và giám sát chặt chẽ hoạt động của các ngân hàng thương mại để bảo đảm việc tuân thủ đúng các quy định về huy động, cho vay và chất lượng tín dụng. Kịp thời phát hiện, xử lý các vi phạm theo đúng quy định của pháp luật để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động ngân hàng. 2. Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia sớm ổn định tổ chức, kịp thời phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan tăng cường các công cụ giám sát theo cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế để chủ động cảnh báo và xử lý tốt hơn những biến động trên thị trường tài chính, tiền tệ. II. KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ, NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHI TIÊU CÔNG 1. Điều hành chính sách tài khóa theo hướng tiết kiệm chi tiêu thường xuyên, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư từ ngân sách; kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, nhất là đầu tư vào các dự án không thuộc lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính của doanh nghiệp; phấn đấu giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách. 2. Thực hiện việc cắt giảm, sắp xếp lại vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong kế hoạch năm 2008 từ nguồn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ, tín dụng đầu tư nhà nước và đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, trước hết là các công trình đầu tư kém hiệu quả, các công trình chưa thực sự cần thiết. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì cùng Bộ Tài chính triển khai nội dung này ngay trong việc rà soát lại và cân đối nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước. Các Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, theo chức năng, nhiệm vụ được giao thực hiện việc rà soát chặt chẽ các hạng mục đầu tư để cắt bỏ các công trình đầu tư kém hiệu quả, tập trung vốn cho những công trình sắp hoàn thành, những công trình đầu tư cho sản xuất hàng hóa thuộc mọi thành phần kinh tế để đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa vào sản xuất. 3. Các Bộ liên quan, nhất là Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính khẩn trương hoàn chỉnh các văn bản về đầu tư xây dựng, kịp thời ban hành hướng dẫn xử lý các vướng mắc phát sinh để đẩy nhanh tiến độ giải ngân các công trình sớm đưa vào khai thác phát huy hiệu quả.
  5. Các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an  sinh xã hội. nguyenvuan 20­04­2008, 09:49 PM Tư liệu tầm vĩ mô về các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô , đảm bảo an sinh xã hội và tăng  trưởng bền vững. Các bạn tham khảo nhé. Tiếp tục đẩy mạnh nghị quyết 2/2008/NQ­CP ngày 09 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ. Ngày 17/4/2008, Chính  phủ ra nghị quyết số 10/2008/NQ­CP nhằm điều hành nền kinh tế xã hội năm 2008, tập trung chỉ đạo thực hiện  các giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội. Qua đó, nghị quyết chỉ đạo các  bộ, ban, ngành ra sức chống lạm phát, ổn định kinh tế.Nghị quyết đưa ra một số biện pháp khắc phục sau: I. THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CHẶT CHẼ 1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ động, linh hoạt trong việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ theo  nguyên tắc thị trường, kiểm soát chặt chẽ tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng nhưng phải bảo đảm  tính thanh khoản của nền kinh tế và hoạt động của các ngân hàng, tổ chức tín dụng. Sử dụng linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ để giảm dần lãi suất huy động theo hướng thực hiện chính sách  lãi suất thực dương. Tăng cường kiểm soát và giám sát chặt chẽ hoạt động của các ngân hàng thương mại để bảo  đảm việc tuân thủ đúng các quy định về huy động, cho vay và chất lượng tín dụng. Kịp thời phát hiện, xử lý các vi  phạm theo đúng quy định của pháp luật để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động ngân hàng. 2. Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia sớm ổn định tổ chức, kịp thời phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,  Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan tăng cường các công cụ giám sát theo cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế  để chủ động cảnh báo và xử lý tốt hơn những biến động trên thị trường tài chính, tiền tệ. II. KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ, NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHI TIÊU CÔNG 1. Điều hành chính sách tài khóa theo hướng tiết kiệm chi tiêu thường xuyên, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư từ  ngân sách; kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, nhất là đầu tư vào các dự án không thuộc  lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính của doanh nghiệp; phấn đấu giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách. 2. Thực hiện việc cắt giảm, sắp xếp lại vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong kế hoạch năm 2008 từ nguồn ngân sách  nhà nước, trái phiếu Chính phủ, tín dụng đầu tư nhà nước và đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, trước hết là  các công trình đầu tư kém hiệu quả, các công trình chưa thực sự cần thiết. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì cùng Bộ  Tài chính triển khai nội dung này ngay trong việc rà soát lại và cân đối nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước. Các  Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc các tập đoàn  kinh tế, tổng công ty nhà nước, theo chức năng, nhiệm vụ được giao thực hiện việc rà soát chặt chẽ các hạng mục  đầu tư để cắt bỏ các công trình đầu tư kém hiệu quả, tập trung vốn cho những công trình sắp hoàn thành, những  công trình đầu tư cho sản xuất hàng hóa thuộc mọi thành phần kinh tế để đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa vào sản  xuất. 3. Các Bộ liên quan, nhất là Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính khẩn trương hoàn chỉnh các văn  bản về đầu tư xây dựng, kịp thời ban hành hướng dẫn xử lý các vướng mắc phát sinh để đẩy nhanh tiến độ giải  ngân các công trình sớm đưa vào khai thác phát huy hiệu quả. 4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì việc nghiên cứu để chuyển một số công trình đầu tư từ nguồn vốn ngân sách  sang hình thức đầu tư BOT từ nguồn vốn trong và ngoài nước hoặc bán, chuyển nhượng công trình có khả năng 
  6. thu hồi vốn cho doanh nghiệp, tư nhân khai thác hoặc đầu tư tiếp để nâng cao hiệu quả đầu tư. 5. Bộ Tài chính chủ trì rà soát, đề xuất các biện pháp chấn chỉnh hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp nhà  nước, các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty lớn. Sơ kết mô hình tập đoàn kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Trung  ương 3 khóa IX. Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Tài chính chuẩn bị để thực hiện trong quý IV năm 2008. 6. Thực hiện chính sách tiết kiệm đồng bộ, chặt chẽ, nghiêm ngặt trong tất cả các cấp, các ngành, trong toàn bộ  hệ thống chính trị. Đưa nội dung thực hành tiết kiệm trong chi tiêu ngân sách, trong sản xuất và đời sống vào  chương trình cuộc vận động: "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" trong năm 2008 và những  năm tiếp theo. Năm 2008, ngoài việc tiết kiệm bình quân 10% chi phí hành chính (trừ tiền lương, phụ cấp lương,  các khoản chi cho con người theo chế độ quy định) của các cơ quan sử dụng ngân sách nhà nước, thực hiện cắt  giảm những khoản chi mua sắm chưa thật cần thiết, giảm tối đa các hội nghị toàn quốc, giảm chi phí đi lại (nhất là  đi lại bằng máy bay); cắt giảm các khoản chi tiếp khách, các đoàn công tác nước ngoài bằng vốn ngân sách hoặc  có nguồn gốc ngân sách mà không thật thiết thực; tiết kiệm năng lượng, phương tiện triệt để hơn nữa. Giảm các chi  phí cho hoạt động lễ hội, lễ kỷ niệm, đón nhận huân chương, danh hiệu thi đua,... gây tốn kém, lãng phí. Bộ Tài  chính chủ trì giao chỉ tiêu và hướng dẫn nội dung và tổ chức triển khai các đơn vị thực hiện. 7. Phấn đấu năm 2008 thu ngân sách thực hiện vượt dự toán đã được giao, tăng dự phòng để chi cho khắc phục  thiên tai, an sinh xã hội, giảm thêm tỷ lệ thâm hụt ngân sách so với mục tiêu mà Quốc hội đã giao cho năm 2008. III. TẬP TRUNG SỨC PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP, NÔNG NGHIỆP VÀ DỊCH VỤ, BẢO ĐẢM CÂN  ĐỐI CUNG CẦU VỀ HÀNG HÓA 1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì: a, Phối hợp với các địa phương khắc phục nhanh hậu quả của thiên tai và dịch bệnh để đẩy mạnh sản xuất nông  nghiệp, tập trung chỉ đạo phát triển trồng rau màu, chăn nuôi, tăng nguồn cung thực phẩm nhằm sớm ổn định giá  cả lương thực, thực phẩm, chuẩn bị đủ giống cho sản xuất vụ mùa, hè thu; b, Phối hợp với các cơ quan chức năng và chính quyền các cấp để phát hiện sớm, chủ động thực hiện và hướng  dẫn kịp thời các biện pháp phòng, chống, ngăn chặn và dập tắt một cách tích cực, kiên quyết, có hiệu quả dịch  cúm gia cầm, lơn tai xanh, lở mồm long móng ở trâu, bò và cúm A (H5N1) ở người; c, Chỉ đạo triển khai việc tu bổ các công trình hồ chứa, đê điều, công trình thủy lợi nhằm chủ động đối phó với  thiên tai trong mùa bão, lũ sắp tới để đảm bảo an toàn lao động cho sản xuất và đời sống. 2. Bộ trưởng các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Công Thương, Tài Nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển  nông thôn và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo quyết liệt, kịp  thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thủ tục hành chính để giải quyết nhanh việc tiếp cận, sử dụng vốn, đất đai,  mở rộng thị trường nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển. Đồng thời, chủ động thực hiện các biện pháp phù hợp tháo  gỡ khó khăn do biến động giá làm ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, trước hết là giá dự toán  các công trình đang triển khai có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước để sớm hoàn thành, đưa vào hoạt động. 3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì việc tiếp tục rà soát, xóa bỏ các quy định không phù hợp gây cản trở cho các  hoạt động đầu tư, kinh doanh, tạo thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển. 4. Bộ Công Thương chủ trì làm việc với các Bộ liên quan, hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp kinh doanh về  việc bảo đảm nguồn hàng; đồng thời, có trách nhiệm cùng Chính phủ kiềm giữ giá cả các mặt hàng thiết yếu, như:  lương thực, thuốc chữa bệnh, xăng dầu, sắt thép, xi măng, phân bón,... Chủ động đề ra và áp dụng phương án  khắc phục tình trạng thiếu điện và bảo đảm điện cho sản xuất.
  7. IV. ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU, KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ NHẬP KHẨU, GIẢM NHẬP SIÊU 1. Bộ Công Thương chủ trì: a, Đề xuất các giải pháp cải cách thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động xuất khẩu để giảm chi phí cho doanh  nghiệp, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam đi đôi với việc áp dụng các hàng  rào kỹ thuật và các biện pháp nhập khác phù hợp với các cam kết quốc tế của nước ta để giảm nhập siêu, kể cả  việc tăng thuế nhập khẩu những mặt hàng không thiết yếu. b, Hỗ trợ công tác xúc tiến thương mại đối với hàng xuất khẩu; đẩy mạnh hoạt động xúc tiến tại các thị trường  truyền thống và mở rộng thị trường mới để tăng xuất khẩu; c, Tăng cường các giải pháp khuyến khích sản xuất trong nước để thay thế hàng nhập khẩu, thúc đẩy mạnh các  hoạt động dịch vụ và du lịch; d, Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để đề xuất cơ chế, chính sách bảo đảm nguồn cung lương  thực, thực phẩm trên thị trường nội địa, bảo đảm an ninh lương thực và kiềm chế sự tăng giá quá mức của nhóm  hàng này. Điều hành và kiểm sóat để xuất khẩu gạo năm 2008 ở mức 3,5 đến 4 triệu tấn. 2. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá phù hợp với chủ trương đẩy mạnh  xuất khẩu. Có cơ chế và chỉ đạo các ngân hàng thương mại mua hết ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất khẩu, xử  lý kịp thời các ách tắc về tín dụng, đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp lý cho xuất khẩu. 3. Bộ Tài chính chủ động, linh hoạt trong việc sử dụng công cụ thuế để tăng thuế xuất khẩu ở mức hợp lý đối với  than, dầu thô. Điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt ở mức hợp lý đối với một số mặt hàng tiêu  dùng không thiết yếu như: ô tô nguyên chiếc, kinh kiện lắp ráp ô tô dưới 12 chỗ ngồi, một số mặt hàng điện tử, điện  lạnh, xe và linh kiện lắp ráp xe hai bánh gắn máy, rượu, bia để thực hiện mục tiêu giảm nhập siêu nhưng vẫn bảo  đảm phù hợp với cam kết hội nhập; kiến nghị điều chỉnh cơ chế, chính sách về thuế, áp dụng các hàng rào kỹ  thuật và các biện pháp khác cần thiết, phù hợp với các cam kết quốc tế để hạn chế các mặt hàng thuộc diện không  khuyến khích nhập khẩu. V. TRIỆT ĐỂ THỰC HÀNH TIẾT KIỆM TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU DÙNG Tình trạng lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng vẫn còn diễn ra khá phổ biến ở các cơ quan, đơn vị, trong dân cư,  tiềm năng tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng rất lớn. Trước hết, Chính phủ chỉ đạo việc triệt để thực hiện tiết  kiệm, chống lãng phí trong sử dụng ngân sách nhà nước. Các đơn vị phải chủ động sử dụng dự toán đã được giao  để thực hiện các nhiệm vụ, kể cả trong trường hợp giá cả tăng. Không bổ sung chi ngân sách ngoài dự toán. Các doanh nghiệp phải rà soát tất cả các khoản chi nhằm hạ giá thành và phí lưu thông. Tăng cường công tác  giám sát tài chính đối với các doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty 90, 91 để  chấn chỉnh ngay việc đầu tư kém hiệu quả, đầu tư ra ngoài ngành sản xuất chính và cơ cấu đầu tư bất hợp lý trong  thời gian qua của các đơn vị này. Chính phủ kêu gọi mọi người, mọi nhà triệt để tiết kiệm tiêu dùng, nhất là nhiên liệu, năng lượng. VI. TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG CHỐNG ĐẦU CƠ BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƯƠNG  MẠI, KIỂM SOÁT VIỆC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC VỀ GIÁ 1. Bộ Công Thương chủ trì triển khai các giải pháp bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa; đồng thời, tăng cường chỉ  đạo thực hiện quản lý thị trường, nhất thiết không để xảy ra tình trạng lạm dụng các biến động về nguồn hàng, giá  cả trên thị trường để đầu cơ, nâng giá, nhất là đối với các loại vật tư quan trọng như: xăng, dầu, điện, xi măng, sắt, 
  8. thép, phân bón, thuốc trừ sâu và hàng tiêu dùng thiết yếu như: lương thực, thuốc chữa bệnh,... Phối hợp với chính  quyền địa phương chỉ đạo các cơ quan chức năng tăng cường các biện pháp ngăn chặn tình trạng gian lận thương  mại, trốn lậu thuế và buôn lậu qua biên giới, đặc biệt là buôn lậu xăng, dầu, khoáng sản, lương thực... 2. Bộ Tài chính tăng cường kiểm soát việc chấp hành pháp luật nhà nước về giá, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. 3. Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải triệt để chấp hành các quy định về quản lý giá, thường  xuyên kiểm tra giá bán tại các mạng lưới bán lẻ của doanh nghiệp mình. 4. Các tổng công ty nhà nước phải gương mẫu đi đầu trong việc thực hiện yêu cầu này và chịu trách nhiệm trước  Chính phủ về hoạt động của hệ thống bán lẻ và đại lý bán lẻ của doanh nghiệp. Chính phủ yêu cầu các hiệp hội ngành hàng tham gia tích cực, ủng hộ các chủ trương và giải pháp bình ổn thị  trường, giá cả. VII. TĂNG CƯỜNG CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ ỔN ĐỊNH ĐỜI SỐNG VÀ SẢN XUẤT CỦA NHÂN DÂN, MỞ RỘNG  VIỆC THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH VỀ AN SINH XàHỘI Căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, các Bộ, địa phương và cơ quan liên quan tăng cường các biện pháp hỗ trợ  an sinh xã hội, ổn định đời sống nhân dân thông qua việc đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo và giải quyết  việc làm, hỗ trợ bảo đảm đời sống nhân dân, nhất là vùng nghèo, hộ nghèo, vùng bị thiên tai, người lao động có  thu nhập thấp. 1. Bộ Tài chính chủ trì: a) Phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra việc triển khai thực hiện các chính sách về điều chỉnh mức lương tối  thiểu mà Chính phủ đã ban hành có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006; kiểm tra việc xuất gạo dự trữ quốc gia  để cấp không thu tiền cho hộ đồng bào bị thiên tai, thiếu đói; b) Tổ chức thực hiện đầy đủ và có hiệu quả chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách,  hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân theo Quyết định số 289/QĐ­TTg ngày 18 tháng 3 năm 2008 của Thủ tướng  Chính phủ như: hỗ trợ dầu hỏa ở nơi không có điện hoặc thiếu điện; nâng học bổng cho học sinh dân tộc các  trường nội trú; hỗ trợ thêm cho người nghèo và cho trẻ em dưới 6 tuổi; hỗ trợ lãi suất để đầu tư thay máy tiết kiệm  nhiên liệu, bảo hiểm phương tiện và con người. Tiếp tục nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ chính sách bảo  đảm an sinh xã hội; c) Chủ trì cùng Bộ Công Thương giám sát việc triển khai thực hiện từ nay cho đến hết tháng 6 năm 2008, chưa  tăng giá điện, than, xăng, dầu; giữ ổn định giá xi măng, phân bón, nước sạch, thuốc chữa bệnh, vé máy bay, tàu  hỏa, vé xe buýt; giữ ổn định mức thu học phí, viện phí. Đồng thời nắm chắc diễn biến của lạm phát, đề xuất với  Chính phủ các giải pháp thích hợp tiếp theo. 2. Các Bộ: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cùng Ủy ban nhân dân các cấp tăng  cường các nguồn vốn giá rẻ cho Ngân hàng Chính sách Xã hội để tiếp tục thực hiện các chương trình tín dụng ưu  đãi cho các hộ nghèo và các đối tượng chính sách. 3. Các Bộ quản lý, Ủy ban nhân dân các địa phương tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện các chương trình mục tiêu  quốc gia, các giải pháp hỗ trợ khác đối với các vùng khó khăn, vùng bị thiên tai. Đồng thời, theo dõi, nắm chắc diễn  biến giá cả, đời sống nhân dân trên địa bàn, xử lý kịp thời những vấn đề xã hội gây bức xúc; tăng cường kiểm tra,  giám sát và tổ chức thực hiện đúng, đủ các chính sách xã hội của Nhà nước cho các đối tượng thụ hưởng, bảo đảm  nguồn hỗ trợ của Nhà nước đến đúng đối tượng, không bị thất thoát, tham nhũng.
  9. Nguồn Nghị Quyết số 10/2008/NQ­CP (http://www.chinhphu.vn/vanbanpq/lawdocs/NQ10CP.DOC?id=65216) tuintimex 06­05­2008, 10:28 PM Trong dịp Quốc hội khai mạc kỳ họp sáng Thứ Ba, 6/5/2008 tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thừa nhận  Chính phủ đã quản lý điều hành yếu kém góp phần làm cho nền kinh tế Việt Nam bị tổn thương. TS Nguyễn  Quang A nhận định:  Chính phủ nhận ra những cái sai của mình để tìm cách khắc phục là dấu hiệu tốt. Đương nhiên những biện pháp  mà Thủ tướng nêu trong bài phát biểu trước Quốc hội hôm nay, cũng như mấy bài viết của ông cách nay không lâu  nêu ra 8 gói giải pháp nhìn có vẻ rất đầy đủ và tổng thể, đánh giá chung là đúng hướng nhìn ra những thiếu sót  của mình cũng như căn bệnh của nền kinh tế. Trong mỗi gói giải pháp ấy thì có cả hàng chục vấn đề. Mà có lẽ phải hết sức bình tâm để lựa chọn ra năm hay sáu  vấn đề rất cụ thể trọng tâm chính để thực hiện. Những biện pháp mà Thủ tướng nêu trong bài phát biểu trước Quốc  hội rất đầy đủ và tổng thể, đánh giá chung là đúng hướng nhìn ra những thiếu sót của mình cũng như căn bệnh  của nền kinh tế. Lần này có vài điều nêu lại như cắt giảm 10% chi tiêu thường xuyên, cắt giảm 25% các khỏan đầu tư từ phát hành  trái phiếu có vẻ thể hiện một chút. Nhưng e rằng vẫn còn dàn trải quá, tất cả đều là đúng hướng nhưng cốt lõi thì  vẫn chưa chọn ra được những điểm chính để thực hiện, nhưng chuyện làm sẽ không dễ dàng chút nào.  Bởi vì bây giờ không còn như thời 20, 25 năm trước lúc đó Chính phủ có thể quản lý tất cả mọi thứ bằng mệnh lệnh  của mình. Bây giờ khả năng vận động, khả năng di chuyển của Chính phủ bị hạn hẹp hơn nhiều và phải dùng  những công cụ thị trường khó hơn nhiều. Công việc trước mắt đối với Chính phủ là rất khó.  Thuật ngữ kinh tế thị trường theo định hướng này định hướng kia không phải là quan trọng lắm. Thực sự đã theo  kinh tế thị trường thì phải dùng những công cụ thị trường là chính, chứ không phải là công cụ hành chính. Trong  thời gian vừa qua thì vẫn dùng công cụ hành chính là nhiều. Lẽ ra phải sử dụng những công cụ thị trường mà  Chính phủ có thể tác động đến. Không có một Chính phủ nào lại không tác động đến thị trường. Chính phủ Mỹ tác động đến thị trường rất quyết liệt  bằng các chính sách của mình. Chính phủ Việt Nam cũng vậy, chỉ có điều tình hình phức tạp phải nhìn ra điểm  nào cần tác động bằng chính sách gì, với liều lượng ra sao, nhịp độ như thế nào.  Thực sự là khả năng đó là khó đối với Chính phủ hiện nay. Bởi vì họ cũng chưa có nhiều kinh nghiệm, những cách  làm kiểu xưa vẫn còn bị ảnh hưởng. Chắc chắn trước những thách thức của khó khăn hay báo hiệu của khủng  hỏang thì luôn luôn phải có cải tổ về chính sách kinh tế. Về các mặt khác bản thân Chính phủ cũng nhìn ra những  chuyện đó và muốn tiếp tục phát triển thì không thể không tiếp tục cải tổ, tiếp tục cải cách được. Việc đặt ra chỉ tiêu tăng trưởng bao nhiêu phần trăm, Chính phủ hoặc Nhà nước có thể đặt ra chỉ tiêu cho riêng  mình, chứ không cần phải bằng mọi cách bám lấy cái chỉ tiêu ấy thực hiện cho được. Nếu không thực hiện được thì  coi như đó là một thất bại. Việc giảm chỉ tiêu tăng trưởng xuống, đó là một thực tế không thể nào làm khác được. Việc không đặt ra một con  số cụ thể lạm phát phải dưới 12%, 15% cũng là một điều kiện thực tiễn. Nếu đề ra bất kỳ một con số nào mà không  làm được, có thể chỉ một thời gian rất là nhanh chóng lại phải thay đổi thì chỉ làm mất uy tín của những ngừơi nói ra  những con số ấy.  Chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam chắc chắn sẽ còn tăng, và còn tăng khá cao nữa. Bởi vì giá lương thực thực  phẩm đối với Việt Nam, người dân thu nhập còn thấp. Tỷ lệ tiêu dùng những nhu cầu thiết yếu chiếm tỷ trọng gần  50% của chỉ số giá tiêu dùng. Không như ở các nước giàu tiêu dùng (lương thực) chỉ dưới 10%. Với tỷ trọng như thế 
  10. và với gía lương thực thực phẩm thế giới tăng cao như thế này, khủng hỏang lương thực thực phẩm tòan cầu, khủng  hỏang năng lượng tòan cầu, cái giá của quốc tế sẽ ảnh hưởng vào Việt Nam rất là nhanh chóng. Đấy là điều không  một cơ quan nào dùng một biện pháp hành chính nào có thể cản được.  Tất nhiên là vẫn có công cụ kinh tế, công cụ thị trường tác động để làm cho nó bớt đi, giả dụ nới lỏng biên độ tỷ giá  hối đóai chẳng hạn, nhưng Chính phủ cũng chỉ có thể tác động đến một phần mà thôi, bởi vì độ mở của nền kinh  tế Việt Nam hiện nay rất là sâu, ảnh hưởng rất nhanh, khu vực tư nhân khu vực đầu tư nước ngoài đã chiếm tỷ  trọng 70%, thì trong tay Chính phủ các công cụ có thể sử dụng được là tương đối hạn hẹp, không phải là dễ. Theo Nam Nguyên Làn sóng thất nghiệp và gói kích cầu (Theo Saigon Times ) Làn sóng thất nghiệp và gói kích cầu Thị trường sụt giảm, nhiều công nhân ngành dệt may đang đứng trước nguy cơ mất việc làm do công ty không có đơn đặt hàng mới. Ảnh: Lê Toàn. (TBKTSG) - Danh sách các doanh nghiệp giải thể, tạm ngưng hoạt động, thu hẹp sản xuất ngày càng dài thêm trong các báo cáo của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội TPHCM. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu và làn sóng thất nghiệp đã lan đến Việt Nam - khi hàng ngàn lao động ở các thành phố đã bị mất việc làm trong những tháng cuối năm này... >> Có khả năng sẽ có cả triệu người thất nghiệp >> Bảo hiểm thất nghiệp không phải cứu cánh Mất việc gia tăng Trong thông báo gửi Sở Lao động - Thương binh và Xã hội TPHCM, Công ty TNHH Sambu Vina Sport cho biết sẽ giảm 224 lao động kể từ ngày 11-1-2009. Trước đó, nhiều doanh nghiệp cũng đã thông báo về việc cắt giảm lao động như Công ty Sony Việt Nam, Công ty liên doanh RSC, Công ty TNHH Castrol BP Petco, Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Dai-Ichi Việt Nam, Công ty TNHH tư vấn thiết kế Liên hiệp Quốc tế... với tổng số lao động bị mất việc trên 1.000 người.
  11. Theo ông Nguyễn Văn Xê, Phó giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội TPHCM, sở có yêu cầu 2.000 doanh nghiệp báo cáo tình hình sử dụng lao động trong năm 2008 nhưng kết quả chỉ có 461 doanh nghiệp phản hồi. Theo tổng hợp của sở, tổng số lao động đầu năm của 461 doanh nghiệp này là 170.737 người, trong năm tăng 56.359 người nhưng sau đó giảm 51.947 người. Điều đáng chú ý là số lao động giảm do mất việc chiếm tới 67,75% trong tổng số lao động giảm; và chiếm 20,56% so với tổng số lao động có mặt đầu năm. Các báo cáo cho thấy hầu hết người lao động mất việc rơi vào những tháng cuối năm, do nhiều doanh nghiệp bị ảnh hưởng của tình hình khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Thật vậy, lý do mất việc của người lao động được ghi trong các báo cáo của doanh nghiệp là “không có đơn hàng”, “giảm đơn hàng”, “công ty cơ cấu lại tổ chức, thu hẹp bộ máy do tình hình sản xuất kinh doanh gặp khó khăn”, “công ty giải thể xí nghiệp may trực thuộc do hoạt động kinh doanh thua lỗ”... Tại TPHCM, tính đến cuối tháng 12 đã có 21 doanh nghiệp ngừng hoạt động và giải thể với số lao động mất việc lên đến trên 6.000 người. Thậm chí có một số doanh nghiệp không còn khả năng trả nợ lương công nhân, chủ doanh nghiệp phải bỏ trốn như Công ty TNHH Quang Sung Vina (Gò Vấp), Công ty TNHH Vina Haeng Woon Industries (quận 8), Công ty TNHH một thành viên Công nghệ may mặc Việt Nam (Thủ Đức)... Theo thống kê chưa đầy đủ của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội TPHCM thì có gần 2.000 lao động (của hơn 30 doanh nghiệp) ngoài khu chế xuất - khu công nghiệp và hơn 2.000 lao động (của hơn 20 doanh nghiệp) trong khu chế xuất - khu công nghiệp bị “cắt giảm”. Như vậy, nếu cộng lại, sơ bộ cũng đã có hơn 10.000 người mất việc làm. Cách “xử lý” của các cơ quan quản lý nhà nước hiện nay là, đối với người lao động làm việc trong khu chế xuất - khu công nghiệp bị mất việc làm, Ban quản lý các khu chế xuất - khu công nghiệp làm việc với các doanh nghiệp khác trong khu để tiếp nhận người lao động; những lao động mất việc làm ở các doanh nghiệp ngoài khu chế xuất - khu công nghiệp, Liên đoàn Lao động TPHCM có chương trình hỗ trợ tìm việc làm. Tuy nhiên kiếm việc làm trong thời điểm khó khăn này không phải chuyện dễ. Theo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, chỉ có hơn một nửa số lao động bị mất việc đã tìm được việc làm mới. Trước tình hình kinh tế hiện nay, nhiều chuyên gia lo ngại thất nghiệp sẽ là thách thức lớn của nền kinh tế năm 2009. Hiện nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, có thể thu hẹp sản xuất, đã gửi thông báo đến Sở Lao động - Thương binh và Xã hội. Trong danh
  12. sách doanh nghiệp thông báo cắt giảm lao động gửi đến sở này, phần lớn có thời điểm cắt giảm là ngày 31-12-2008. Đó là chưa nói đến tình trạng cắt giảm lao động cũng đang xuất hiện ở các đô thị khác như Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Đồng Nai, Bình Dương... Trông vào gói kích cầu! Tăng trưởng GDP Việt Nam giảm từ 8,5% năm 2007 xuống còn 6,23% năm 2008. Theo các chuyên gia kinh tế, về lý thuyết, GDP giảm 2 điểm phần trăm thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng 1%. Cả nước hiện có khoảng 44 triệu người trong độ tuổi lao động, chưa kể 1,7 triệu người đến tuổi lao động cần có việc làm trong năm 2009. Vì vậy, để ngăn chặn nạn thất nghiệp lan tràn cần phải sớm vực dậy nền kinh tế. Cuối tuần trước, trong cuộc họp Chính phủ cuối năm tại TPHCM, ông Võ Hồng Phúc, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cho biết nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách trước mắt của Chính phủ là “phải tập trung mọi nỗ lực để chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, bảo đảm an sinh xã hội”. Ông Nguyễn Văn Ninh, Bộ trưởng Bộ Tài chính, nhận định năm 2009 sẽ rất khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Vì vậy Chính phủ đưa ra năm nhóm giải pháp bao gồm: (i) thúc đẩy sản xuất kinh doanh và xuất khẩu; (ii) thực hiện các biện pháp kích cầu đầu tư; (iii) chính sách tài chính hỗ trợ doanh nghiệp; (iv) đảm bảo an sinh xã hội; (v) tăng cường công tác điều hành, tổ chức thực hiện. Chính phủ cũng sẽ chi ra đến 6 tỉ đô la Mỹ để kích thích nền kinh tế. Chính phủ tin tưởng rằng, với các giải pháp mà Chính phủ đưa ra như miễn giảm thuế cho doanh nghiệp, hỗ trợ vốn vay, hỗ trợ xúc tiến đầu tư tìm thị trường xuất khẩu, kích cầu đầu tư, tiêu dùng... các doanh nghiệp sẽ tạo thêm được nhiều việc làm mới, giúp ngăn chặn được làn sóng thất nghiệp đang lan rộng. Hàng ngàn doanh nghiệp, hàng chục ngàn lao động cũng đang trông chờ vào gói kích cầu của Chính phủ để bảo đảm việc làm, ổn định cuộc sống. Dù thế nào, trước mắt họ là những ngày khó khăn. @@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@ Các yếu tố tác động đến cung tiền ở việt nam hiện nay - Nhu cầu thanh toán trong buôn bán hàng hóa (yếu tố tác động đầu tiên, thường xuyên) - Khả năng sản xuất (về số lượng, chất lượng) tiền hàng hóa (yếu tố tác động định kỳ) - Trình độ, sách lược quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước sở hữu đồng tiền (yếu tố tác động quan trọng nhất) @@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@ Lạm phát cao, xét lại nguyên nhân cung tiền
  13. E-mail Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: Ý kiến (0) Khi sự mất cân đối giữa tốc độ tăng cung tiền và tốc độ tăng trưởng GDP lớn thì sức ép lạm phát bắt đầu xuất hiện. ▪ MINH HUỆ 10:40 (GMT+7) - Thứ Tư, 27/2/2008 Có một khẳng định đang ngày một rõ hơn: lạm phát tăng cao những năm gần đây có từ nguyên nhân tiền tệ. Nguyên nhân này được các chuyên gia trường Đại học Harvard (Mỹ) tập trung phân tích ở tốc độ và hệ quả cung tiền của Việt Nam trong một bản nghiên cứu mới đây. Tốc độ tăng cung tiền lệch xa tăng trưởng GDP Bản nghiên cứu trên đưa ra những con số đáng chú ý, một phần giải thích vì sao Ngân hàng Nhà nước đã và đang mạnh tay hút tiền về - một vấn đề nóng trên thị trường hiện nay. Cụ thể, tốc độ tăng cung tiền tại Việt Nam từ năm 2003 đến nay liên tục duy trì trên dưới 25% mỗi năm và tín dụng nội địa cũng tăng trên 35%. Trong khi nhập khẩu tăng đột biến trong mấy năm trở lại đây để đáp ứng với lượng cầu nội địa tăng thì đối với một số hàng hóa như khách sạn, văn phòng, điện, lao động có kỹ năng (những hàng hóa chủ yếu được sản xuất trong nước) không thể tăng tương ứng. Kết quả là giá của những hàng hóa này phải tăng theo tốc độ tăng cung tiền. Thế nhưng tại sao tốc độ tăng trưởng của Việt Nam lại chỉ có tăng từ 7-8% trong khi đầu tư hàng năm của nền kinh tế chiếm tới 35% GDP? Các chuyên gia Đại học Harvard đưa ra một so sánh cho thấy, Đài Loan đã từng có tăng trưởng tới 10% liên tục trong 18 năm với một lượng đầu tư hơn nhiều, nhưng chỉ chiếm khoảng 1/4 GDP mà thôi. Với Việt Nam, báo cáo trên nhận định rằng Chính phủ đã quyết định tăng cung tiền nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong một thời gian dài. Tuy nhiên, khi sự mất cân đối giữa tốc độ tăng cung tiền và tốc độ tăng trưởng GDP lớn thì sức ép lạm phát bắt đầu xuất hiện. Trong hai năm 2005 và 2006, GDP của Việt Nam tăng tổng 17% trong khi đó M2 (gồm tiền mặt trong lưu thông và tiền gửi trong ngân hàng) tăng tới 73%. Trái lại, trong cùng giai đoạn này, GDP của Trung Quốc tăng 22% trong khi M2 chỉ tăng có 36%. Tăng trưởng của Việt Nam thấp hơn của Trung Quốc nhưng tốc độ tăng cung tiền lại cao gần gấp đôi.
  14. Kết quả là trong khi chỉ số giá tiêu dùng ở Trung Quốc trong năm 2007 chỉ 6,5% thì ở Việt Nam lại lên tới 12,6%. Vì sao cung tiền tăng nhanh? Nguyên nhân đầu tiên được bản nghiên cứu đề cập đến là do nhịp độ tăng chi tiêu của Nhà nước. Tổng chi tiêu của Nhà nước trong năm 2006 là 321 nghìn tỷ đồng, tăng 221,8 nghìn tỷ đồng (hay 45%) so với năm 2004. Như vậy, tốc độ tăng chi tiêu hàng năm của Nhà nước trong giai đoạn 2004-2006 là 20,3% năm (tương đương với tốc độ tăng truởng bán lẻ). Cũng trong giai đoạn trên, thu ngân sách tăng chủ yếu không phải từ nguồn thu nội địa mà là từ dầu mỏ, nợ và viện trợ nước ngoài. Thu nội địa trong năm 2004 chỉ đạt 119 nghìn tỷ, và trong năm 2006 là 190 nghìn tỷ, tăng có 71 nghìn tỷ. Trong khi đó chỉ tiêu của nhà nước tăng 131 nghìn tỷ, từ 190 lên tới 321 nghìn tỷ, tức là gần gấp đôi mức tăng thu nội địa. Khi chi tiêu của nhà nước tăng hơn nhiều so với các nguồn thu ngoài dầu mỏ thì những khoản chi tiêu này sẽ làm tăng tổng cầu. Thế nhưng nếu các khoản chi tiêu này lại không được sử dụng một cách hiệu quả, chỉ đóng góp nhỏ cho sản lượng (tức là không làm cho tổng cung tăng một cách tương ứng) thì tất yếu sẽ dẫn tới lạm phát. Tất nhiên lạm phát cao còn có tác động của các nhân tố khách quan như giá dầu, sắt thép, thực phẩm, nguyên liệu đầu vào… theo giá thế giới. Các chuyên gia cũng thừa nhận những yếu tố tác động này. Nhưng những yếu tố đó không chỉ ảnh hưởng riêng Việt Nam, mà còn tác động đến các quốc gia châu Á khác; thế nhưng mức độ lạm phát ở các nước đó lại thấp hơn ở Việt Nam rất nhiều. Theo giải thích đưa ra trong bản nghiên cứu trên, mặc dù giá thế giới tăng là một trong những nguyên nhân gây lạm phát ở Việt Nam, nhưng nó không phải là gốc rễ của vấn đề. Nếu cung tiền tăng chậm hơn thì chi tiêu của Nhà nước cũng sẽ phải tăng chậm lại. Nếu giá xăng dầu tăng, chi tiêu của người tiêu dùng cho xăng dầu có thể tăng lên, và do vậy, họ sẽ phải cắt giảm tiêu dùng đối với các sản phẩm khác và làm cho giá của chúng giảm xuống. Việc mức lạm phát ở Thái Lan thấp hơn nhiều so với Việt Nam, trong khi trên thực tế, nền kinh tế nước này tiêu thụ nhiều xăng dầu hơn Việt Nam là một minh chứng. Thắt chặt tiền tệ, liệu có thành công? Đầu năm 2008, thị trường chứng kiến loạt biện pháp mạnh của Ngân hàng Nhà nước như tăng dự trữ bắt buộc, tăng các lãi suất cơ bản, phát hành lượng tín phiếu bắt buộc với tổng giá trị lên tới 20.300 tỷ đồng, hạn chế tín dụng vào chứng khoán, bất động sản… Điểm đến của những biện pháp này là mục tiêu rút tiền trong lưu thông về, kiềm chế lạm phát thấp hơn tăng trưởng kinh tế. Nhưng liệu có thành công? Về chủ trương, một số chuyên gia tài chính trong nước khẳng định đó là những biện pháp đúng và cần thiết. Nhưng bên cạnh đó là sự lo ngại Ngân hàng Nhà nước quá “mạnh tay”, có thể ảnh hưởng tới an toàn hệ thống. Phản ứng tức thời là biến động lãi suất mạnh mẽ trên thị trường ngân hàng; hoạt động cho vay nền kinh tế cũng đang bị hạn chế cục bộ; tính thanh khoản của nhiều ngân hàng bị ảnh hưởng… Trong khi đó, lạm phát dự báo trong 2 tháng đầu năm sẽ tăng khoảng từ 5 – 6%, đặc biệt từ tháng 3 tới với “cú hích” của giá xăng, dầu mới. Và với mục tiêu kiềm chế thấp hơn tốc độ tăng
  15. trưởng kinh tế (9%), khoảng cách hơn 3% còn lại là một thách thức lớn, đặc biệt trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh bất thường, giá cả đầu vào trên thị trường thế giới biến động khó lường. @@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@2 Phiên thảo luận "Tái thiết tăng trưởng kinh tế dài hạn" (VOV) - Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là một trong những diễn giả trao đổi, bình luận xung quanh bài học kinh nghiệm của các nền kinh tế mới nổi về duy trì tăng trưởng và phát triển bền vững Như tin đã đưa, trong khuôn khổ các hoạt động tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới 2010, tối 28/1, theo giờ Việt Nam tại Davos, Thụy Sỹ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã dự phiên thảo luận với chủ đề “Tái thiết tăng trưởng kinh tế dài hạn". Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là một trong những diễn giả trao đổi, bình luận xung quanh bài học kinh nghiệm của các nền kinh tế mới nổi về duy trì tăng trưởng và phát triển bền vững trong bối cảnh khủng hoảng, các nước đang phát triển tái định hình năng lực cạnh tranh quốc gia như thế nào. Các diễn giả tham dự phiên thảo luận đã tập trung phân tích về những bài học kinh nghiệm mà cả thế giới phải trả giá từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua. Phát biểu tại phiên thảo luận, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ: các nền kinh tế mới nổi nhất là ở khu vực Châu Á có điều kiện thuận lợi hơn trong việc giảm bớt được tác động tiêu cực và ít nhiều duy trì được tăng trưởng với tốc độ tương đối khả quan. Thủ tướng nhấn mạnh: khả năng dự báo đóng vai trò rất quan trọng trong hoạch định chính sách và bảo đảm tăng trưởng dài hạn. Chính vì vậy, cần xây dựng năng lực đánh giá, dự báo tình hình để đề ra các giải pháp thích hợp gắn với điều hành thực hiện các quyết sách quyết liệt và linh hoạt. Bên cạnh đó, việc thường xuyên rà soát, cập nhật các đánh giá và phân tích để điều chỉnh chính sách kịp thời là hết sức cần thiết. Một vấn đề không kém phần quan trọng nữa Thủ tướng nhấn mạnh tại phiên thảo luận, đó là phải tạo đồng thuận xã hội cao mới có thể huy động mọi nguồn lực cùng thực hiện các chính sách đề ra. Từ kinh nghiệm đối phó với khủng hoảng của Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, cùng với tập trung các giải pháp nhằm ổn định cân đối vĩ mô, xử lý các thách thức ngắn hạn, cần đồng thời chú trọng những chính sách đảm bảo tăng trưởng và phát triển trong dài hạn như đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực. Đối với một nước ở gần ngưỡng thu nhập trung bình như Việt Nam, một trong những vấn đề cốt lõi bảo đảm duy trì đà tăng trưởng cao và bền vững, mở ra triển vọng trở thành một nền kinh tế phát triển là chất lượng tăng trưởng. Tăng trưởng kinh tế cao, liên tục nhưng phải coi trọng ổn định vĩ mô, chất lượng tăng trưởng và hướng tới phát triển bền vững. Điều này gắn với tạo dựng và nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, của các doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam. Trong giai đoạn hậu khủng hoảng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: Việt Nam đang tập trung nỗ lực thực hiện một số định hướng chính sách ưu tiên. Thứ nhất, triển khai quyết liệt các biện pháp có tính đột phá về xây dựng thể chế kinh tế thị trường, đặc biệt là đột phá về cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải cách hành chính, xây dựng bộ máy quản lý hiệu quả. Thứ hai, tiếp tục tái cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh thông qua đẩy nhanh phát triển cơ sở hạ tầng, ưu tiên các ngành, các lĩnh vực sử dụng công nghệ và có giá trị tăng cao gắn với bảo vệ môi trường sinh thái. Thứ ba, tăng cường đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực và khoa học công nghệ để từng bước đưa Việt Nam vào quỹ đạo phát triển dựa chủ yếu vào nguồn nhân lực chất lượng cao. Cũng tại phiên thảo luận, các diễn giả lần lượt phân tích, đánh giá ngành công nghiệp và xu thế phát triển tiếp tục giúp các quốc gia cân bằng giữa tăng trưởng trong ngắn hạn và dài hạn, đồng thời đảm bảo được các vấn đề xã hội; các định chế sẽ hỗ trợ các quốc gia cân bằng giữa tăng trưởng ngắn hạn và dài hạn như thế nào. Rạng sáng 29/1 (theo giờ Việt Nam), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ dự phiên họp toàn thể tại Diễn đàn kinh tế năm nay với chủ đề “Tái định hình nền quản trị toàn cầu”. Với tư cách là Chủ tịch ASEAN, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ có bài phát biểu quan trọng tại phiên thảo luận này./.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản