Các Biện Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Không Khí Từ Các Nguồn Điểm Ở Các Huyện Ngoại Thành

Chia sẻ: linhdan05015

Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn Bộ Xây dựng Việt Nam. KỶ YẾU: Diễn Đàn Chính Sách Về Các Biện Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Không Khí Từ Các Nguồn Điểm Ở Các Huyện Ngoại Thành Hà Nội. Diễn đàn chính sách về các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí từ các nguồn điểm ở các huyện ngoại thành Hà Nội. Ban biên tập: ThS.KTS. Lưu Đức Cường ThS. Nguyễn Thị Lan Anh CN. Ngô Thanh Vân.

Nội dung Text: Các Biện Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Không Khí Từ Các Nguồn Điểm Ở Các Huyện Ngoại Thành

 

  1. Chương trình Hợp tác CIDA-AIT Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn Dự án SEA-UEMA Bộ Xây dựng Viện Công nghệ Châu Á, Thái Lan Việt Nam KỶ YẾU Diễn Đàn Chính Sách Về Các Biện Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Không Khí Từ Các Nguồn Điểm Ở Các Huyện Ngoại Thành Hà Nội Hà Nội, Việt Nam Ngày 28 tháng 11 năm 2005
  2. Diễn đàn chính sách về các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí từ các nguồn điểm ở các huyện ngoại thành Hà Nội Hà Nội, Việt Nam Ngày 28 tháng 11 năm 2005 Ban biên tập: ThS.KTS. Lưu Đức Cường ThS. Nguyễn Thị Lan Anh CN. Ngô Thanh Vân Tháng 10 năm 2006 (100 bản) Publication Development Team: Text Editors: Nowarat Coowanitwong, Pravakar Pradhan and Truong Thien Thu Graphic Designer: Ahmed Imtiaz Khan Quyền Từ chối Cơ quan phát triển quốc tế Canada (CIDA) và Viện Công nghê Châu á (AIT) không chịu trách nhiệm pháp lý về độ chính xác của các thông tin và không cho rằng việc sử dụng nó sẽ vi phạm các quyền sở hữu cá nhân. Các thông tin đưa ra trong tài liệu này không nhất thiết là đại diện cho quan điểm của CIDA hoặc AIT © Viện Công nghệ Châu Á, 2006 In tại Việt Nam ii
  3. Lời Nói Đầu Dự án Ứng dụng Quản lý Môi trường Đô thị ở Đông Nam Á (Southeast Asia Urban Environmental Management Applications SEA-UEMA) được thành lập bởi Tổ chức Phát triển Quốc tế của Canada (Canadian International Development Agency - CIDA) và Viện Công nghệ Châu Á (Asian Institute of Technology - AIT) với mục đích góp phần quản lý môi trường đô thị ở khu vực. Mục tiêu của Dự án là phát triển các chính sách, trực tiếp cải thiện môi trường ở khu vực thông qua các dự án thực tế, cũng như là chia xẻ kinh nghiệm giữa các nước trong khu vực trong vấn đề bảo vệ môi trường. Thời gian dự kiến của Dự án là 05 năm từ 2003 đến 2008. Dự án bao gồm 03 lĩnh vực chính trong môi trường đô thị đó là: (1) Nước và điều kiện vệ sinh; (2) Chất thải rắn; và (3) Ô nhiễm không khí; đồng thời xem xét đến yếu tố giới tính (gender) trong việc góp phần vào quản lý môi trường đô thị. Ngoài ra, dự án SEA-UEMA còn liên kết với các đối tác có tiềm năng trong việc quản lý môi trường đô thị, bao gồm các cá nhân và tổ chức, để cùng làm việc và mở rộng tầm quản lý trong toàn khu vực. Trên cơ sở đó, hội thảo Chính sách về các biện pháp Giảm Ô nhiễm Không khí được tổ chức lần này là hội thảo thứ ba trong chuỗi các hội thảo của Dự án. Mục đích của hội thảo này là nhằm để nghiên cứu các vấn đề ô nhiễm không khí ở các khu vực đô thị và ngoại thành của Hà Nội, và tìm hiểu những khó khăn và cản trở trong việc tiếp cận các chính sách một cách hiệu quả bằng các công nghệ thích hợp. Hội thảo sẽ thảo luận các chiến lược và các chính sách quốc gia, và các thực tiễn ở địa phương cho phép thành lập khuôn khổ cho việc triển khai các biện pháp để kiểm soát ô nhiễm không khí trong thực tế. Hội thảo này còn xem xét những điển hình thực tế có thể được dùng để phát triển các chính sách, và từ đó đề xuất một số giải pháp cho các cấp chính quyền địa phương. iii
  4. Mục Lục Thứ tự Trang 1 Lời nói đầu iii 2 Mục lục v 3 Chương trình Hội thảo vii 4 Phát biểu Chào mừng ix ThS. KTS. Ngô Trung Hải 5 Phát biểu Khai mạc Hội thảo xi TS. Lê Hồng Kế A. Phần Nội Dung 1 1 Tổng quan về hiện trạng ô nhiễm không khí 3 2 Các chính sách hiện nay, chương trình và hành động cụ thể về việc giảm thiểu 5 ô nhiễm không khí 3 Thảo luận và các đề xuất đưa ra trong diễn đàn 7 4 Kết luận từ diễn đàn 13 B. Phần Phụ Lục 15 Phụ Lục 1: Các Bài Trình Bày Tại Diễn Đàn 17 1 Dự án Ứng dụng Quản lý Môi trường Đô thị ở Đông Nam Á (SEA-UEMA 17 TS. Ranjith Perera 2 Hội thảo chính sách về Cung Cấp Nước Sạch (Tp.HCM) & Hội thảo chính sách về 27 Giảm Ô Nhiễm Không Khí (Hà Nội ) TS. Nowarat Coowanitwong 3 Giảm thiểu Ô Nhiễm Không Khí ở Việt Nam Các Vấn đề về Chính sách 33 KS. Đặng Dương Bình 4 Ô Nhiễm Không Khí ở Việt Nam: Thực trạng và Xu thế trong Bối cảnh của Khu 45 vực TS. Nguyễn Thị Kim Oanh 5 Báo cáo tổng kết đề tài: Nghiên cứu Hiện trạng Ô nhiễm bụi ở Thành phố Hà Nội 69 và Đề xuất Giải pháp Khắc phục TS. Hoàng Xuân Cơ 6 Chính sách Quản lý Chất lượng Không khí ở Việt Nam: Vấn đề, Khó khăn và Giải 99 pháp TS. Hoàng Dương Tùng v
  5. 7 Dự án Ứng dụng Thực tiễn Công nghệ sạch hơn Cải tạo Môi trường tại Làng gốm 109 cổ truyền Bát Tràng–Hà Nội ThS. Quách Huy Thông 8 Giảm Ô nhiễm Không khí qua Khai thác một cách Hiệu quả Chất thải rắn Kinh 121 nghiệm từ một Dự án Trình diễn ThS. Nguyễn Nam Sơn Phụ Lục 2: Một số thực tiễn tốt 135 Phụ Lục 3: Các thông tin khác 143 1 Thông báo về Diễn đàn 143 2 Các thông tin tóm tắt về Diễn đàn 147 3 Luật, Chính sách, Nghị định, Thông tư liên quan đến Chất lượng Không khí 149 4 Các dự án liên quan Cải thiện Chất lượng Không khí 151 5 Danh sách Đại biểu tham dự 153 vi
  6. Chương Trình Hội Thảo Diễn đàn về các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí từ các nguồn điểm ở các huyện ngoại thành Hà Nội Ngày 28 tháng 11 năm 2005 Đồng tổ chức bởi Chương trình Hợp tác CIDA-AIT Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn Dự án SEA-UEMA Bộ Xây dựng Viện Công nghệ Châu á, Thái Lan Việt Nam Ngày 28 tháng 11 năm 2005 08.00-08.30 Đăng ký Đại biểu tham dự ThS. KTS. Ngô Trung Hải Phát biểu chào mừng Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch Đô thị Nông thôn PGS.TS. Lê Hồng Kế 08.30-09.00 Phát biểu khai mạc hội thảo Uỷ viên Ban cố vấn dự án CIDA-QIT - Giám đốc Trung tâm Bảo vệ Môi trường và Quy hoạch phát triển bền vững Giới thiệu về dự án SEA-UEMA TS. Ranjith Perera, Giám đốc dự án SEA-UEMA Giới thiệu về đối thoại chính sách TS. Nowarat Coowanitwong-Điều phối viên hợp phần ARL Ông Đặng Dương Bình Bài trình bày chính: Giảm thiểu ô nhiễm không khí 09.00-09.30 Trưởng phòng QLMT, khí tượng thủy văn, Sở Tài nguyên Môi ở Việt Nam: các vấn đề về chính sách trường và Nhà đất Hà Nội 09.30-10.00 Giải lao Bài trình bày I: Ô nhiễm không khí ở Việt Nam: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Oanh 10.00-10.30 Thực trạng và xu hướng trong bối cảnh ở khu vực Quản lý và kỹ thuật Môi trường Bài trình bày II: Nghiên cứu hiện trạng ô nhiễm PGS.TS. Hoàng Xuân Cơ 10.30-11.00 bụi ở thành phố Hà Nội và đề xuất các giải pháp Phó trưởng phòng Khoa học Công nghệ, Trường ĐH Khoa học khắc phục Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội Bài trình bày III: Chính sách quản lý chất lượng TS. Hoàng Dương Tùng 11.00-11.15 môi trường không khí ở Việt Nam: Vấn đề, khó Cục Bảo vệ Môi trường khăn và giải pháp 11.15-11.30 Thảo luận về các chủ đề của bài trình bày I & II Chủ trì: GS.TSKH. Phạm Ngọc Đăng, Giám đốc Trung tâm kỹ Thảo luận I: Chính sách quản lý môi trường và sự 11.30-12.00 thuật môi trường đô thị và KCN tham gia của cộng đồng Đồng chủ trì: TS. Hoàng Dương Tùng, Cục BVMT 12.00-13.00 ăn trưa: Dự án SEA-UEMA chiêu đãi tại Khách sạn Công đoàn Bài trình bày IV: Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm Ông Quách Huy Thông 13.00-13.30 môi trường tại một làng nghề truyền thống ở Hà Nội Trưởng nhóm ADP, Hà Nội Bài trình bày IV: Những kinh nghiệm thu được qua Ông Nguyễn Nam Sơn 13.30-14.00 việc khai thác khí biogas tại các cộng đồng nuôi bò Trưởng nhóm ADP, TP. Hồ Chí Minh sữa ở TP. Hồ Chí Minh Chủ trì: GS.TSKH. Phạm Ngọc Đăng, Giám đốc Trung tâm kỹ Thảo luận II: Gợi ý chính sách và xác định vấn đề 14.00-15.00 thuật môi trường đô thị và KCN cần giải quyết Đồng chủ trì: TS. Hoàng Dương Tùng, Cục Bảo vệ Môi trường Chủ trì: GS.TSKH. Phạm Ngọc Đăng, Giám đốc Trung tâm kỹ 15.00-15.30 Kết luận bế mạc thuật môi trường đô thị và KCN ThS. Lưu Đức Cường, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và 15.30-15.40 Phát biểu cảm ơn và kết thúc Quy hoạch Môi trường ĐT-NT 15.40-18.00 Thăm quan thực địa tại điểm trình diễn ở Làng gốm Bát Tràng (do Ông Quách Huy Thông đảm nhiệm) vii
  7. Phát Biểu Chào Mừng ThS. KTS. Ngô Trung Hải Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch Đô thị Nông thôn - Kính thưa PGS.TS. Lê Hồng Kế, Giám đốc Trung tâm Bảo vệ Môi trường và Phát triển Bền vững, - Thưa TS. Ranjith Perera, giám đốc dự án ứng dụng Quản lý môi trường Đô thị ở Đông Nam Á, - Thưa các quý vị đại biểu. Trong những năm gần đây, tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá của Việt Nam diễn ra khá nhanh, gây áp lực lớn đối với tài nguyên và môi trường. Đô thị hoá, công nghiệp hoá trong khi hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội còn chưa hoàn thiện, làm nảy sinh những vấn đề môi trường bức bách như thiếu nước sạch, ô nhiễm không khí, tiếng ồn, lượng chất thải rắn gia tăng. Nguy cơ ô nhiễm diện vùng đang được các nhà môi trường cảnh báo, đặc biệt là ô nhiễm không khí khu vực ven đô của Hà Nội vì việc tập trung các khu công nghiệp, cụm côn nghiệp đang ngày càng nhiều trong vùng Hà Nội. Tỷ lệ dân số bị nhiễm bệnh do ô nhiễm môi trường cũng đang gia tăng. Để giải quyết các vấn đề đó, nhà nước cần phải đưa ra những chính sách nhằm hạn chế cũng như kiểm soát sự phát thải các chất gây ô nhiễm. Hội thảo "Chính sách về các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí từ các nguồn điểm ở các huyện ngoại thành Hà Nội" được tổ chức lần này nằm trong khuôn khổ dự án ứng dụng Quản lý Môi trường Đô thị ở Đông Nam á (SEA-UEMA) của Viện Công nghệ Châu á (AIT) và Viện Quy hoạch Đô thị-Nông thôn thực hiện nhằm mục tiêu nghiên cứu về các vấn đề ô nhiễm không khí ở các khu vực đô thị và ngoại thành Hà Nội và tìm hiểu những khó khăn, cản trở trong việc tiếp cận chính sách một cách có hiệu quả bằng các công nghệ thích hợp thông qua các hoạt động: 1. Phổ biến các bài học rút ra từ thực tế các dự án mẫu về việc giảm ô nhiễm không khí; 2. Thảo luận việc áp dụng các chính sách trong các dự án mẫu ở cấp độ địa phương; 3. Phác thảo một số chính sách từ các thực tế điển hình về kiểm soát ô nhiễm không khí, đặc biệt là đề xuất một số giải pháp cho chính quyền địa phương. Thưa các quý vị đại biểu, Chúng tôi nhận thấy rằng Hội thảo đã nhận được sự quan tâm của đông đảo các nhà quản lý từ nhiều cấp khác nhau, các tổ chức phí chính phủ, các cơ quan thông tấn báo chí, các nhà khoa học và các chuyên gia. Qua hội thảo này, tôi hy vọng dự án sẽ thu nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu của các quý vị đại biểu và các nhà khoa học. Cho phép tôi thay mặt Viện Quy hoạch Đô thị Nông thôn, Bộ Xây dựng, nhiệt liệt chào mừng các quý vị đại biểu đã đến tham dự hội thảo và rất mong Hội thảo đạt được những mục tiêu đề ra. Chúc các quý vị sức khoẻ và thành đạt. Xin trân trọng cảm ơn. ix
  8. Phát Biểu Khai Mạc Hội Thảo PGS.TS. Lê Hồng Kế Uỷ viên Ban cố vấn dự án CIDA-QIT Giám đốc Trung tâm Bảo vệ Môi trường và Quy hoạch phát triển bền vững Kính thưa Quý vị khách quý quốc tế và trong nước! Trước hết, cho phép tôi thay mặt các thành viên của Mạng lưới hoạt động thuộc dự án CIDA- AIT của Việt Nam xin được gửi đến quý vị khách quý quốc tế và trong nước lời chào mừng nồng nhiệt nhất. Dự án "Những ứng dụng về Quản lý Môi trường đô thị" khu vực Đông Nam Á là một dự án được Quỹ trợ giúp phát triển quốc tế Canada tài trợ. Dự án sẽ được thực hiện trong 8 nước là Campuchia, Indonesis, Malaysia, CHĐCN Lào, Philippine, Đông Timo, Thái Lan và Việt Nam. Thời gian thực hiện dự án là 5 năm (từ 2003-2008). Nội dung của dự án sẽ bao gồm các thành phần đa dạng, phong phú: - Các hoạt động trình diễn của cựu sinh viên AIT, người được đào tạo từ AIT. - Xây dựng mạng lưới khu vực và chương trình hỗ trợ chuyên môn tập trung vào 3 chủ đề chính cấp nước và vệ sinh môi trường; chất thải rắn và ô nhiễm không khí. - Các đề tài kiên kết nghiên cứu giữa các nước trong dự án. - Những ứng dụng các kết quả đạt được và những bài học của chúng. Để thực hiện dự án, tổ chức CIDA đã chọn Trường Môi trường, Tài nguyên và phát triển thuộc Học viện Công nghệ châu Á (AIT), Thái Lan là đối tác chính, chủ trì quản lý và thực hiện dự án này. Cho đến nay, dự án được thực hiện gần 2 năm. Trong quá trình thực hiện AIT với tư cách là cơ quan thực hiện đã triển khai nhiều hoạt động thiết thực như tuyển chọn và tổ chức mạng lưới thành viên ở các nước dự án, tuyển chọn đào tạo sau đại học ở cấp Thạc sỹ và Tiến sỹ, tổ chức nhiều dự án trình diễn, thực hiện một số đề tài liên kết nghiên cứu ở tất cả các nước thuộc dự án. Đối với nước ta, một số tổ chức Chính phủ và Phi chính phủ đã trở thành mạng lưới của dự án như: Viện Quy hoạch đô thị-nông thôn (Bộ Xây dựng), Trung tâm Bảo vệ môi trường và Quy hoạch phát triển bền vững (Hội QHPTĐT Việt Nam),... Dự án cũng đã cấp nhiều học bổng từ dự án cho một số học viên Việt Nam được học tập nghiên cứu ở cấp Thạc sỹ tại AIT. Một số đề tài nghiên cứu của cựu sinh viên AIT ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đã được nghiên cứu trình diễn. Dự án trình diễn làng gốm sứ Bát Tràng, Hà Nội là một trong những hoạt động thiết thực ấy. Hôm nay, tại cuộc hội thảo này cho phép tôi thay mặt các bạn đồng nghiệp, các tổ chức mạng lưới thuộc dự án của Việt Nam xin được chân thành cám ơn Tiến sỹ Ranjit Parera, Giám đốc dự án, cùng các cán bộ điều hành khác của dự án về sự hợp tác quan trọng và đầy hiệu quả đối với các tổ chức Chính phủ và Phi Chính phủ của Việt Nam. Kính thưa quý vị! Trước đây mấy ngày, tại Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, dự án CIDA-AIT cũng đã tổ chức thành công một hội thảo với chủ đề: "Chính sách cấp nước cho khu dân cư với quy mô nhỏ". Chủ đề hội thảo hôm nay là:"Đối thoại về các chính sách giảm thiểu ô nhiễm không khí từ các nguồn xi
  9. điểm ở các huyện ngoại thành Hà Nội". Đấy là những hoạt động quan trọng của dự án tại nước ta. Tôi cho rằng, thành công của hội thảo hôm nay sẽ góp phần tìm ra và đề xuất một cơ chế, chính sách, giải pháp phù hợp cho việc bảo vệ mởitờng khí trên cơ sở cộng đồng, với quy mô nhỏ góp phần thực hiện dự án nói chung. Xin chúc hội thảo thành công tốt đẹp. Chúc các quý vị đại biểu quốc tế và trong nước mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt. xii Phát Biểu Khai Mạc Hội Thảo
  10. PHẦN NỘI DUNG
  11. Tổng Quan Về Hiện Trạng Ô Nhiễm Không Khí 1. Khái quát về tình hình ô nhiễm không khí tại Việt nam Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và tốc độ phát triển kinh tế nhanh đó dẫn đến hậu quả là môi trường đô thị phải đối mặt với nhiều thử thách trong đó ô nhiễm không khí là một trong những vấn đề then chốt. Vấn đề ô nhiễm ở các thành phố đang phát triển của Việt Nam tạo ra một sự đe dọa nghiêm trọng cho sức khỏe con người khi mà các chất thải trong không khí như SOx, NOx, CO2 và các hạt nhỏ vượt xa giới hạn cho phép của WHO và USEPA. Theo báo cáo Hiện trạng Môi trường Việt Nam 2001, môi trường không khí ở các thành phố và khu công nghiệp ở Việt Nam bị ô nhiễm nặng bởi bụi. Lượng bụi trong không khí vượt quá giới hạn cho phép từ 1,3 đến 3 lần. Lượng khí SO2 tập trung trong không khí xung quanh một số khu công nghiệp vượt quá giới hạn cho phép từ 1,1 đến 2,7 lần. Lượng chì trong không khí tại các giao lộ trong thành phố đó đạt đến ngưỡng cho phép. Nguyên nhân chính của ô nhiễm không khí ở Việt Nam là từ khí thải công nghiệp, nhất là từ các nhà máy ximăng, nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng, nhà máy hóa chất, …, và từ các phương tiện giao thông trên đường phố, trong đó xe gắn máy hai bánh chiếm tỉ trọng lớn. 2. Khái quát về tình hình ô nhiễm không khí tại Hà Nội Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hóa và gia tăng mạnh về dân số đó gây nên tình trạng ô nhiễm không khí ở nhiều khu đô thị, đặc biệt là Thủ đô Hà Nội. Cùng với quá trình độ thị hoá, các nhà cao tầng đang dần được mọc lên ở nhiều khu quy hoạch, chính những nơi đang xây dựng này đó gúp phần gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường. Hà Nội hiện nay đang gánh chịu và đối mặt với một thực trạng khủng khiếp là bụi đất. Các xe ô tô chở đất, đá, cát sỏi cho các công trỡnh xõy dựng, phần lớn khụng che chắn đúng kỹ thuật khi đi qua các tuyến phố đó để rơi vói xuống mặt đường, gây nên tỡnh trạng ô nhiễm trầm trọng. Thống kê tại bốn điểm - Đuôi Cá (đầu Quốc lộ 1), đê sông Hồng (Yên Sở - dốc Minh Khai), đường Láng - Hoà Lạc, chân cầu Thăng Long - cho thấy 95% tổng số xe tải lưu thông không đảm bảo vệ sinh, không che chắn, để rơi vãi, đồng thời chở quá tải trọng (5.694 xe/5.951 xe). Bùn đất bám ở lốp, thành xe tạo nên nguồn phát tán bụi di động ở khắp mọi nơi và rất khó kiểm soát. Thứ đến là nguồn phát sinh bụi do khoảng hơn 300 điểm tập trung kinh doanh mua bán vật liệu xây dựng không đủ điều kiện kinh doanh đảm bảo vệ sinh (diện tích nhỏ hẹp, không có biện pháp che chắn, chủ yếu sử dụng lòng đường, vỉa hè để tập kết, buôn bán, vận chuyển, bốc dỡ,...). Bên cạnh đó, ô nhiễm bụi cũng phát sinh từ các điểm khai thác, trung chuyển vật liệu xây dựng, đất, cát, than dọc tuyến sụng Hồng. Ngoài ra, một lượng khí thải lớn từ các phương tiện giao thông đi lại cũng cần được quan tâm. Kết quả quan trắc cho thấy chất lượng không khí ở nhiều tuyến và nút giao thông đều ô nhiễm vượt quá mức cho phép. Thực trạng ô nhiễm ở một số tuyến phố, nút giao thông và cụm công nghiệp đang ở mức báo động. Tình trạng ô nhiễm không khí ở các khu dân cư trong nội thành và các xóm ven đô có xu hướng gia tăng. Tại các khu chung cư cũ, nhiều hộ dân có thu nhập thấp vẫn sử dụng chất đốt là than, 3
  12. củi trong sinh hoạt. Hà Nội đó xảy ra nhiều vụ tử vong do hớt phải khí độc từ than tổ ong. Một số nhà máy như: xà phòng, dệt may, bia rượu, thuốc lá đó thải ra đường phố khí, chất thải, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân xung quanh. Mặt khác, trong quá trình chuyển hoá năng lựơng của nhiều nhà máy công nghiệp trên địa bàn, đó gây nên mức độ ô nhiễm khói công nghiệp khá cao, nhất là hiện nay công nghiệp tăng trưởng mạnh (15-17%). Ô nhiễm bụi tại Hà Nội đó gấp ba - bốn lần tiêu chuẩn cho phép. Theo thống kê chưa đầy đủ của Sở Tài Nguyên Môi trường (TN-MT) Thành phố cho biết: Mỗi năm, Hà Nội tiếp nhận khoảng 80.000 tấn bụi khói, 9.000 tấn khí SO2, 46.000 tấn khí CO từ hơn 400 cơ sở công nghiệp; chưa kể khói của hơn 100.000 ô-tô và một triệu xe máy. Trước đó, tổng hợp một số kết quả nghiên cứu về chất lượng không khí ở Hà Nội (1994-1998), do Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường Hà Nội phối hợp với một số cơ quan liên quan tiến hành, chỉ riêng nội thành Hà Nội với dân số khoảng hơn 1,4 triệu ở bốn quận nội thành, mỗi nǎm có 626,8 người chết và 1.547,9 người bị bệnh hô hấp do nồng độ cơ bản của TSP trong không khí ngoài trời vượt quá TCVN 159,4mg/m3. Mặc dù chưa có kết quả nghiên cứu định lượng mới nhất về nồng độ TSP hiện nay, người dân và các cơ quan liên quan ở Hà Nội đều cảm nhận được nạn ô nhiễm bụi tại Hà Nội ngày càng trầm trọng. Nhìn chung, các nguyên nhân gây ô nhiễm không khí ở Hà Nội gồm có các nhà máy công nghiệp, phương tiện giao thông có động cơ, các công trình xây dựng và việc vận chuyển vật liệu xây dựng, và chất đốt từ các hộ gia đình. Theo thống kê của Sở Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội từ năm 1993 đến năm 2000 và dự báo đến năm 2010, tổng lượng khí thải gây ô nhiễm không khí tăng rất nhanh (bảng 1). Bảng 1: Khí thải gây ô nhiễm (tấn/năm) từ nhiều nguồn khác nhau Khí gây ô 2010 Nguồn 1993 1994 1995 2000 nhiễm (dự đoán) Công nghiệp 71,389 78,431 91,197 165,334 950,340 Giao thông - - 43 77 439 Bụi Đun nấu bếp 16,472 16,680 1,661 2,989 17,040 Tổng cộng - - 92,901 168,400 967,818 Công nghiệp - - 1,182 1,871 3,593 Giao thông - - 950 1,263 14,598 NOx Đun nấu bếp 370 378 373 490 5,651 Tổng cộng 2,505 3.624 23,842 Công nghiệp - - 691.4 1,110 3,869 Giao thông - - 30,025 36,815 45,817 CO Đun nấu bếp 12 12 12 18 22 Tổng cộng 30,656 37,943 49,709 Công nghiệp 5,688 5,591 3,875 5,806 19,470 Giao thông - - 280 420 5,687 SO2 Đun nấu bếp 401 410 405 638 1,509 Tổng cộng 4,506 6,864 26,672 (Nguồn: Sở Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội) 4 Tổng Quan Về Hiện Trạng Ô
  13. Các Chính Sách Hiện Nay, Chương Trình Và Hành Động Cụ Thể Về Việc Giảm Thiểu Ô Nhiễm Không Khí 1. Chính sách của Nhà nước nhằm bảo vệ môi trường không khí Để giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí, chính phủ Việt Nam đó đưa ra nhiều chính sách và chương trình hành động nhằm bảo vệ môi trường không khí như sau - Tiến hành đánh giá tác động môi trường (EIA) cho tất cả các dự án phát triển kinh tế, xó hội; kiểm soát một cách có hiệu quả các doanh nghiệp, xí nghiệp có khí thải độc hại ra môi trường; xử lý các thiết bị công nghiệp gây ô nhiễm bằng các kỹ thuật mới hoặc thay thế, trang bị thêm bộ xử lý chất thải, thay thế nguyên liệu sản xuất, …; và phát triển công nghệ sản xuất sạch. - Theo chỉ thị số 24/2000/ CT-TTg ngày 23/12/2000 của Thủ tướng Chính phủ, kể từ ngày 01/07/2001 Việt Nam bắt đầu sử dụng xăng không chì cho các phương tiện giao thông có động cơ. - Tăng cường hiệu quả sử dụng năng lượng, hiệu quả sản xuất điện ở các nhà máy nhiệt điện, cũng như là hiệu quả sử dụng năng lượng của các thiết bị điện. Khai thác sử dụng các chất đốt lỏng và dầu nhẹ thay cho than và dầu nặng bởi vỡ những chất này có hàm lượng lưu huỳnh cao. Khai thác sử dụng khí sinh học ở khu vực nông thôn, cùng với việc phát triển sử dụng các năng lượng sạch như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng địa nhiệt, và năng lượng thủy triều. - Chủ động tiến hành các chương trình tái tạo rừng, mở rộng rừng, trụng cây gây rừng, phục hồi các đồng cỏ, … nhắm đến mục tiêu năm 2010 rừng sẽ chiếm 45% tổng diện tích đất đai. Đồng thời, tăng cường công tác trồng cây ở các khu vực đô thị, và dọc theo các tuyến đường trong cả nước. - Tiến hành chương trình quốc gia về giảm hiệu ứng nhà kính, cùng với chương trình loại bỏ các chất phá hủy tầng ozone. Tuy nhiên, ngân sách để thực hiện các công việc trên vẫn còn hạn chế. Vì vậy quĩ hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế và nước ngoài cho việc bảo vệ môi trường không khí là rất quan trọng. 2. Chính sách và biện pháp hiện nay của thành phố Hà Nội để giảm thiểu ô nhiễm không khí Trước thực trạng ô nhiễm ở Thủ đô đang gia tăng, để giảm thiểu lượng khí thải giao thông quốc gia cho đến năm 2010, Hà Nội đó tập trung triển khai nghiên cứu và khuyến khích sử dụng nhiên liệu khí hoá lỏng (LPG) cho xe taxi, thiết lập hệ thống mạng lưới quan trắc không khí ở những nơi có mạng lưới giao thông lớn; triển khai thực hiện các dự án tăng cường năng lực giao thông đô thị theo quy hoạch đô thị, bao gồm cải tạo nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, tổ chức quản lý và phát triển giao thông công cộng. Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường để thay đổi hành vi cá nhân trong sử dụng phương tiện tham gia giao thông. Để giảm thiểu ô nhiễm không khí, giảm bụi, TP Hà Nội đó có một số quy định bảo vệ môi trường, đáng chú ý là việc cấm các xe chở vật liệu hở, mới đây là dựng trạm rửa xe trước khi vào thành phố. Về quản lý công nghiệp, Hà Nội đó triển khai thử nghiệm chương trình phòng ngừa ô nhiễm công nghiệp ở một số khu, cụm công nghiệp; di dời một số nhà máy gây ô nhiễm như Xí nghiệp Ba 5
  14. Nhất, Nhà máy Cao su Hà Nội… và trong tương lai là Nhà máy Rượu Hà Nội và một số doanh nghiệp khác ra khỏi nội thành. Những bộ phận gây ô nhiễm của một số nhà máy trong nội thành sẽ được tập trung thành cụm để tiện việc quản lý và xử lý chất thải. Đồng thời, nghiên cứu và ban hành các quy định, quy tắc, chế tài xử phạt những trường hợp vi phạm, nhằm hạn chế tình trạng gây ô nhiễm không khí trong các hoạt động của đời sống đô thị. 6 Các Chính Sách Hiện Nay, Chương
  15. Thảo Luận Và Các Đề Xuất Đưa Ra Trong Diễn Đàn 1. Thảo luận Xoay quanh các mục tiêu đề ra, một số chủ đề có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đã được đưa ra thảo luận trong diễn đàn như: tiêu chuẩn chất lượng không khí trong nhà, đánh giá tác động môi trường và hậu đánh giá tác động môi trường, các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí, nâng cao nhận thức cộng đồng và một số ý kiến xung quanh các bài báo cáo. * Tiêu chuẩn chất lượng không khí trong nhà: - Theo đánh giá của WHO, 2/3 số ca bệnh đường hô hấp ở Châu á là do ô nhiễm không khí trong nhà, vì vậy một số ý kiến cho rằng cần sớm ban hành tiêu chuẩn chất lượng không khí trong nhà. Hiện nay, do Việt Nam chưa có tiêu chuẩn này nên đã nảy sinh nhiều khó khăn khi các cơ quan đề nghị đánh giá chất lượng không khí trong nhà. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là cần xác định môi trường không khí trong nhà nằm trong phạm vi quản lý của Bộ nào trong số các Bộ: Tài nguyên Môi trường, Y tế, Lao động Thương binh và Xã hội? Tiêu chuẩn chất lượng không khí trong nhà nên đưa vào lĩnh vực tiêu chuẩn môi trường quốc gia hay tiêu chuẩn ngành? Một số ý kiến khác cho rằng việc xây dựng tiêu chuẩn chất lượng không khí trong nhà là một vấn đề khó khăn. Về cơ bản chất lượng không khí trong nhà và chất lượng không khí bên ngoài có liên quan mật thiết với nhau. Tuy nhiên có một sự khác nhau cơ bản là không khí bên ngoài là tài sản chung nên việc áp đặt luật và yêu cầu thực thi luật pháp sẽ được tiến hành dễ dàng còn không khí trong nhà là tài sản riêng nên việc áp đặt luật rất khó khăn. Do vậy, chỉ nên đưa ra các chỉ dẫn và chương trình giáo dục cho cộng đồng về chất lượng không khí trong nhà. Một ví dụ được đưa ra để tham khảo cho việc quản lý chất lượng không khí trong nhà: tại Mỹ không có bộ chỉ thị cho không khí trong nhà, chỉ có tiêu chuẩn phát thải cho dụng cụ sử dụng trong nhà. * Đánh giá tác động môi trường và hậu đánh giá tác động môi trường - Khi thực hiện các dự án phát triển đều phải thực hiện ĐTM. Theo đánh giá của một số đơn vị tư vấn, báo cáo ĐTM được xây dựng kỹ nhưng việc triển khai các kế hoạch quản lý môi trường được đưa ra trong báo cáo ĐTM còn kém. Nguyên nhân chính là do nhận thức của các ban quản lý dự án phát triển còn kém, hầu hết các ban quản lý dự án chỉ cần xây dựng báo cáo ĐTM để nhận giấy phép đầu tư, sau đó không quan tâm đến việc triển khai kế hoạch quản lý môi trường hoặc cố tình lảng tránh việc triển khai các kế hoạch quản lý môi trường để giảm chi phí. Câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để các kế hoạch quản lý môi trường được triển khai khi thực hiện dự án. Giải quyết vấn đề đó, hiện nay Cục Bảo vệ Môi trường đã tiến hành kiểm tra hậu ĐTM. Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đang chuẩn bị Thông tư liên quan đến hậu ĐTM, xây dựng cơ sở dữ liệu để theo dõi ĐTM và hậu ĐTM * Các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí - Thành phố Hà Nội đã triển khai thực hiện một số giải pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí: 7
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản