CÁC CĂN CỨ XÁC LẬP NGHĨA VỤ

Chia sẻ: Nguyễn Thị Giỏi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:84

0
445
lượt xem
138
download

CÁC CĂN CỨ XÁC LẬP NGHĨA VỤ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hai nhóm căn cứ. Theo BLDS Ðiều 286, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ những căn cứ sau đây: 1 - Hợp đồng dân sự; 2 - Hành vi dân sự đơn phương; 3 - Chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật; 4 - Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật; 5 - Thực hiện công việc không có ủy quyền; 6 - Những căn cứ khác do pháp luật quy định. Suy cho cùng, tất cả các nghĩa vụ đều phát sinh...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: CÁC CĂN CỨ XÁC LẬP NGHĨA VỤ

  1. CÁC CĂN CỨ XÁC LẬP NGHĨA VỤ
  2. CÁC CĂN CỨ XÁC LẬP NGHĨA VỤ Giới thiệu chung về nghĩa vụ CHƯƠNG I: GIAO DỊCH DÂN SỰ 1.Hợp đồng 2.Hành vi dân sự đơn phương CHƯƠNG II: SỰ KIỆN PHÁP LÝ 1.Trách nhiệm dân sự 2. Được lợi về tài sản không có căn cứ pháp lý 3.Thực hiện công việc không có uỷ quyền 4.Nghĩa vụ do luật tạo ra trong những trường hợp đặc thù Hai nhóm căn cứ. Theo BLDS Ðiều 286, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ những căn cứ sau đây: 1 - Hợp đồng dân sự; 2 - Hành vi dân sự đơn phương; 3 - Chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật; 4 - Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật; 5 - Thực hiện công việc không có ủy quyền; 6 - Những căn cứ khác do pháp luật quy định. Suy cho cùng, tất cả các nghĩa vụ đều phát sinh từ luật. Thế nhưng, có thể nhận thấy rằng luật có xu hướng thừa nhận sự phát sinh của nghĩa vụ từ hai nguồn chính: 1 - Các giao dịch, tức là sự bày tỏ ý chí của chủ thể của quan hệ pháp luật nhằm tạo ra các hệ quả pháp lý; 2 - Các sự kiện pháp lý, tức là các sự việc dẫn đến sự ràng buộc chủ thể của quan hệ pháp luật vào một nghĩa vụ, độc lập với ý chí của chủ thể đó. Chương I GIAO DỊCH DÂN SỰ Nhận định sơ bộ. Luật hiện hành ghi nhận hai loại giao dịch dân sự: hành vi dân sự đơn phương và hợp đồng (BLDS 130). Không phải hợp đồng nào cũng làm
  3. phát sinh nghĩa vụ: có những hợp đồng có tác dụng thay đổi, chấm dứt hoặc chuyển giao nghĩa vụ đã có sẵn. Ví dụ: thỏa thuận chấm dứt hợp đồng là một hợp đồng không làm phát sinh một nghĩa vụ nào; chuyển giao quyền yêu cầu là một hợp đồng có tác dụng chuyển quyền yêu cầu từ một chủ thể này sang một chủ thể khác chứ không tạo ra quyền yêu cầu mới. Trong luật la tinh, “hợp đồng” là sự thỏa thuận để làm phát sinh nghĩa vụ; còn sự thỏa thuận theo nghĩa tổng quát nhất, làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt hoặc chuyển giao nghĩa vụ, gọi là “giao ước”. Trong các phân tích sau đây, “hợp đồng” được hiểu như là sự thỏa thuận làm phát sinh nghĩa vụ, tức là tương ứng với hợp đồng trong quan niệm la tinh. Cũng như vậy, không phải hành vi đơn phương nào cũng nhằm tạo ra nghĩa vụ: lập di chúc là một hành vi đơn phương có tác dụng chuyển giao tài sản của người lập di chúc cho người thừa kế theo di chúc hoặc người được di tặng chứ không tạo ra nghĩa vụ ràng buộc người lập di chúc; đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng là hành vi dân sự đơn phương có tác dụng chấm dứt một nghĩa vụ tồn tại trước đó. Nói chung, chỉ có cam kết đơn phương, tức là hành vi dân sự theo đó, một người chủ động cam kết thực hiện việc chuyển giao một quyền, làm hoặc không làm một việc, mới có khả năng làm phát sinh nghĩa vụ, ví dụ: hứa thưởng. Nghĩa vụ xác lập từ các cam kết đơn phương, dẫu sao, là vấn đề khá tế nhị trong luật Việt Nam hiện hành. Mục I. Hợp đồng Lý thuyết chung về hợp đồng. Hợp đồng là công cụ chủ yếu để xác lập quan hệ giữa người và người liên quan đến tài sản trong một xã hội có tổ chức. Các quan hệ ấy không chỉ hình thành trong lĩnh vực dân sự mà cả trong các lĩnh vực thương mại, lao động, thậm chí trong lĩnh vực hành chính. Mỗi loại hợp đồng đồng, trong mỗi lĩnh vực, có những đặc điểm rất riêng và, do đó, được chi phối bởi những quy định riêng. Tuy nhiên, là sản phẩm của sự gặp gỡ ý chí, tất cả các hợp đồng đều hình thành và vận hành trên cơ sở nguyên tắc tự do kết ước và những nguyên tắc cơ bản khác mà xoay quanh những nguyên tắc đó, một hệ thống các quy tắc pháp lý được xây dựng và tạo thành luật về quan hệ kết ước hay còn gọi là luật chung về hợp đồng. Trong luật La Mã, khái niệm hợp đồng hình thành tương đối muộn. mãi đến đầu thế kỷ I sau Công nguyên, người La mã mới biết sử dụng thuật ngữ contractus để chỉ sự thoả thuận ý chí của hai hay nhiều ngườI nhằm xác lập nghĩa vụ. Người La mã không có lý thuyết chung về hợp đồng mà chỉ có các nhóm quy tắc áp dụng cho các loại hợp đồng khác nhau.
  4. Luật Anh-Mỹ có lý thuyết chung về hợp đồng như trong luật la tinh. Song đó là một lý thuyết mà người ta chỉ có thể hiểu được một khi từ bỏ hầu như tất cả các khái niệm của luật latinh và tiếp cận đối tượng nghiên cứu qua chính lăng kính của văn hoá pháp lý Anh-Mỹ. Đối với người Anh hoặc Mỹ hoặc bất kỳ người nào thấm nhuần văn hoá pháp lý Anh-Mỹ, hợp đồng là một vụ trao đổi, một bargain; quan hệ kết ước hình thành trong điều kiện một bên quan tâm đến cái mà bên kia mang lại cho mình, gọi là vật đánh đổi (consideration). Tiết I. Khái niệm hợp đồng I. Định nghĩa Sự gặp gỡ của ý chí và hiệu lực tương đối của hợp đồng. Hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ theo một cơ chế chung: các bên giao kết thống nhất ý chí về việc ràng buộc lẫn nhau trong một quan hệ đặc trưng bằng thái độ xử sự của một bên nhằm đáp ứng yêu cầu của bên kia. Hợp đồng chỉ phát sinh hiệu lực ràng buộc đối với các bên giao kết và không tạo ra bất kỳ một nghĩa vụ nào đối với người thứ ba. Nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Hợp đồng trong luật Việt Nam làm phát sinh các nghĩa vụ pháp lý dân sự, tức là nghĩa vụ được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế của bộ máy Nhà nước, chứ không phải là nghĩa vụ tự nhiên, đạo đức hay nghĩa vụ của lòng nhân ái, của tâm hồn cao thượng. Các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng phải có tính chất tài sản, nghĩa là định giá được bằng tiền. Hôn nhân cũng là sự thỏa thuận của các bên giao kết, nhưng không phải là một hợp đồng theo nghĩa của luật dân sự. Hợp đồng không trói buộc. Một người lái xe chấp nhận cho khách lỡ đường quá giang có thể đưa khách đến tận nơi mà khách muốn đến, nhưng cũng có thể yêu cầu khách xuống xe ở một nơi nào đó, giữa chặng đường, ngay cả trong trường hợp đã hứa trước là sẽ đưa khách đến tận nơi. Người lái xe trong trường hợp này không giao kết với khách lỡ đường bất kỳ một hợp đồng vận chuyển nào: cho khách lỡ đường đi nhờ xe chỉ là một cử chỉ của thiện chí. Cử chỉ thiện chí còn có thể được ghi nhận trong trường hợp một người cho một người khác một lời tư vấn về sức khoẻ (sử dụng thuốc, thực hiện các bài tập dưỡng sinh,…), về du lịch, giải trí, về tình yêu, hôn nhân. Tất nhiên, người có cử chỉ thiện chí phải thực hiện cử chỉ đó với đầy đủ ý thức về trách nhiệm đạo đức đối với người thụ hưởng thiện chí đó, và cả đối với cộng đồng; nhưng luật không thể quy trách nhiệm pháp lý của người có cử chỉ thiện chí, ví dụ, do chất lượng chuyên môn của cử chỉ thiện chí không được bảo đảm… Có những hợp đồng chỉ mang tính chất của một cử chỉ lịch sự: một người mời một người khác đi ăn tối, ăn giỗ; người cha hứa thưởng cho người con một số tiền lớn,
  5. nếu người con vượt qua thành công kỳ thi tuyển sinh đại học,... Không thể dùng luật hợp đồng để buộc người mời phải bảo đảm chất lượng bữa ăn, buộc người cha phải thưởng trong trường hợp người con trúng tuyển. Hợp đồng trói buộc hạn chế. Có những hợp đồng không thực sự trói buộc, nhưng không hẳn không làm phát sinh các hệ quả pháp lý nhất định. Các cam kết được đưa ra mang tính chất cam kết danh dự; thế nhưng do hoàn toàn phù hợp với lợi ích của mỗi bên và với lợi ích công cộng mà những cam kết này cũng được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Ví dụ điển hình là việc hai bên thoả thuận về việc tự nguyện tôn trọng các chuẩn mực xử sự trong quan hệ hỗ tương, phù hợp với các chuẩn mực chung; về việc sẽ cố gắng giải quyết mọi bất đồng bằng cách thương lượng, không đưa nhau ra Toà án hoặc ra cơ quan Trọng tài. Tương tự, các thoả thuận nguyên tắc có thể ràng buộc các bên vào những nghĩa vụ nhất định một khi các nghĩa vụ ấy được xác định một cách rõ ràng trên cơ sở giải thích các nguyên tắc được ghi nhận trong thoả thuận ấy. II. Phân loại Hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ. Theo BLDS Ðiều 405, hợp đồng song vụ là hợp đồng mà tất cả các bên kết ước đều có nghiã vụ đối với nhau, mỗi bên đồng thời là người có nghĩa vụ và có quyền; còn hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ có một bên có nghĩa vụ. Hợp đồng mua bán là hợp đồng song vụ (bên bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu, giao vật, bảo hành,...; bên mua có nghĩa vụ trả tiền, nhận vật;...); hợp đồng bảo lãnh là hợp đồng đơn vụ (chỉ có người bảo lãnh có nghĩa vụ). Trong luật thực định Việt Nam, quan hệ giữa các bên trong hợp đồng song vụ chịu sự chi phối của một số quy tắc không được áp dụng cho hợp đồng đơn vụ: nếu một bên trong hợp đồng song vụ không thể thực hiện nghĩa vụ do lỗi của bên kia, thì có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại (Ðiều 413); trong trường hợp các bên trong hợp đồng song vụ không thỏa thuận bên nào thực hiện nghĩa vụ trước, thì các bên phải đồng thời thực hiện nghĩa vụ đó đối với nhau (Ðiều 411 khoản 2). Hợp đồng có đền bù và hợp đồng không có đền bù. Gọi là không có đền bù hợp đồng theo đó, một bên chuyển một quyền, thực hiện hoặc không thực hiện một việc vì lợi ích của bên kia mà không nhận lại một lợi ích nào có tính cách hoàn trả. Các hợp đồng không có tính chất đó gọi là hợp đồng có đền bù. Tặng cho, cho mượn tài sản là những ví dụ điển hình của hợp đồng không có đền bù. Có những hợp đồng mang tính chất kép: ủy quyền, cho vay tài sản có thể là hợp đồng có hoặc không có đền bù tùy theo việc ủy quyền, cho vay có hay không
  6. có kèm theo các điều kiện về tiền thù lao, về lãi. Một số hợp đồng, do bản chất, luôn là các hợp đồng có đền bù: mua bán, trao đổi, ... Hợp đồng ưng thuận, hợp đồng trọng thức và hợp đồng thực tại. Hợp đồng ưng thuận được giao kết chỉ do sự gặp gỡ của ý chí của các bên mà không cần xúc tiến bất kỳ một thủ tục nào. Hợp đồng trọng thức được giao kết không chỉ trên cơ sở có sự gặp gỡ của ý chí của các bên mà còn phải bằng cách hoàn tất một vài thủ tục do pháp luật quy định. các thủ tục được dự liệu tùy theo trường hợp: có những hợp đồng phải được lập thành văn bản (hợp đồng cầm cố tài sản, hợp đồng thuê tài sản,...); có hợp đồng phải lập thành văn bản có chứng thực, chứng nhận (hợp đồng tặng cho bất động sản, hợp đồng mua bán nhà ở,...). Hợp đồng thực tại được giao kết không chỉ từ sự gặp gỡ của ý chí của các bên mà còn từ việc giao vật, đối tượng của hợp đồng, ví dụ: hợp đồng gửi giữ tài sản, hợp đồng cho mượn tài sản. Hợp đồng thương lượng, hợp đồng theo mẫu. Hợp đồng thương lượng là hợp đồng đạt được như là kết quả sự thảo luận bình đẳng và tự nguyện giữa các bên liên quan: sự hình thành hợp đồng phản ánh diễn biến của quá trình thảo luận. Ðây là loại hợp đồng cổ điển. Trong thực tiễn, có nhiều hợp đồng mà nội dung được một bên chuẩn bị sẵn, được công bố rộng rãi cho mọi người và người đối tác chỉ có thể lựa chọn giữa chấp nhận và không chấp nhận giao kết chứ hầu như không có cơ hội thảo luận. Ðiển hình của loại thứ hai này là các hợp đồng vận chuyển đường sắt, đường không, hợp đồng cung ứng điện, nước, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng mua bán hàng hóa trong siêu thị. Loại hợp đồng này càng lúc càng trở nên thông dụng, theo sự phát triển của xã hội tiêu thụ. Luật gọi đó là hợp đồng theo mẫu (BLDS Ðiều 406 khoản 1). Hợp đồng theo mẫu không thể được giải thích bằng cách dựa vào ý chí chung của các bên giao kết, bởi ý chí đó, suy cho cùng, không tồn tại. Trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng, thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó (Ðiều 406 khoản 2). Hợp đồng cá nhân và hợp đồng tập thể. Hợp đồng cá nhân là hợp đồng chỉ ràng buộc chủ thể nào ưng thuận giao kết, bằng cách tự mình sự bày tỏ ý chí hoặc thông qua người đại diện bày tỏ ý chí. Hợp đồng tập thể ràng buộc một nhóm chủ thể (tất nhiên không có tư cách pháp nhân) mà không cần sự ưng thuận của từng chủ thể thành viên của nhóm. thỏa ước lao động tập thể là ví dụ tốt nhất về hợp đồng tập thể. Hợp đồng thực hiện trong khoảnh khắc và hợp đồng thực hiện tiếp liền trong thời gian. Hợp đồng thực hiện trong khoảnh khắc là loại hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ được thực hiện một lần duy nhất; ví dụ, hợp đồng mua bán mà trong đó tài sản bán được giao và giá bán được thanh toán trong một lần. Hợp đồng thực
  7. hiện tiếp liền trong thờI gian là hợp đồng mà nghĩa vụ được thực hiện thành nhiều lần; ví dụ, hợp đồng thuê tài sản, mượn tài sản trong một thời hạn. Hợp đồng gắn liền với nhân thân của người giao kết. Có những hợp đồng mà hiệu lực chỉ được duy trì chừng nào người giao kết và thực hiện đúng là những người đã thoả thuận về việc xác lập nghĩa vụ; nghĩa là nếu người giao kết và thực hiện không phải là người đó, thì hợp đồng chấm dứt. Ví dụ điển hình trong luật Việt Nam, là hợp đồng bảo lãnh, hợp đồng uỷ quyền. Nhân thân được tính đến có thể là nhân thân chủ quan: người giao kết và thực hiện phải đúng là người đó. Đôi khi việc giao kết và thực hiện được chấp nhận trên cơ sở nhân thân khách quan: người giao kết và thực hiện phải là người có năng lực chuyên môn và nói chung có các phẩm chất chuyên môn nhất định, chứ không nhất thiết là một người có lai lịch nhất định. Hợp đồng với người tiêu dùng. Từ khi có chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, luật hợp đồng có xu hướng phân biệt hợp đồng giao kết giữa người hoạt động chuyên nghiệp trong một lĩnh vực nhất định và người tiêu dùng sản phẩm hoặc dịch vụ thuộc lĩnh vực đó với các loại hợp đồng khác. Hợp đồng với người tiêu dùng chịu sự chi phối của luật chung bên cạnh một hệ thống các quy định đặc biệt được xây dựng nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Luật về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng được đặc trưng bằng một loạt biện pháp có tác dụng ràng buộc người hoạt động chuyên nghiệp, khi kết ước với người tiêu dùng, vào các nghĩa vụ thông tin, cố vấn, bảo đảm an toàn,… cho người tiêu dùng Tiết II. Giao kết hợp đồng Điều kiện nội dung và điều kiện hình thức. Về mặt cấu trúc pháp lý, hợp đồng trong luật Việt Nam được xác lập trên cơ sở có sự ưng thuận của các bên giao kết và có đối tượng được xác định rõ. Về nội dung, hợp đồng không được vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội, cũng như phải phản ánh trung thực ý chí nội tâm của các bên (nghĩa là không phải được dùng như một bức màn che giấu ý chí nội tâm đó). Về hình thức, hợp đồng được giao kết, trên nguyên tắc, bằng sự gặp gỡ ý chí của các bên giao kết; cá biệt, trong một số trường hợp, do tính chất, tầm quan trọng của hợp đồng, luật đòi hỏi hình thức giao kết hợp đồng phải đáp ứng một số điều kiện đặc biệt. Nhưng để có thể bày tỏ ý chí một cách hữu hiệu, điều tiên quyết là các bên phải có đầy đủ khả năng nhận thức về hành vi của mình, nghĩa là phải có năng lực giao kết. Phân tiết I. Năng lực giao kết
  8. Năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Luật hiện hành nói rằng các giao dịch dân sự phải do người có năng lực hành vi xác lập, thì mới có giá trị (BLDS Ðiều 131 khoản 1). Ðúng là người không có năng lực hành vi không thể bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự. Nhưng người không có năng lực hành vi mà có khả năng có quyền và nghĩa vụ dân sự (nghĩa là có năng lực pháp luật), vẫn có thể xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ mà mình được phép có, thông qua vai trò của người đại diện. Suy cho cùng, chỉ có người có không năng lực pháp luật mới không có quyền giao kết hợp đồng nhằm làm phát sinh quyền mà người này không được phép có: không có khả năng hưởng một quyền, người này không thể xác lập quyền đó, dù tự mình hay qua người đại diện. Ví dụ: người giám hộ không được phép tặng tài sản của người được giám hộ cho người khác, không phải vì người được giám hộ không được phép tự mình tặng cho (năng lực hành vi), mà vì người được giám hộ không có khả năng hưởng quyền tặng cho có đối tượng là tài sản của người được giám hộ (năng lực pháp luật); trong khi đó, người được giám hộ có quyền bán tài sản của mình (năng lực pháp luật), nhưng không có quyền tự mình thực hiện quyền đó (năng lực hành vi), mà phải thực hiện thông qua người giám hộ.. Nếu người được giám hộ tự mình giao kết hợp đồng, thì ta mới thực sự có trường hợp giao kết hợp đồng của người không có năng lực hành vi. Chế tài trong trường hợp không có năng lực giao kết. Các giao dịch do người không có năng lực hành vi xác lập chỉ có thể bị tuyên bố vô hiệu theo yêu cầu của những người được luật xác định (người giám hộ, người được giám hộ sau khi chấm dứt việc giám hộ). Các giao dịch do người không có năng lực pháp luật xác lập cũng có thể chỉ được tuyên bố vô hiệu theo yêu cầu của một vài người được luật xác định, nhưng cũng có trường hợp được tuyên bố vô hiệu theo yêu cầu của bất kỳ người nào có quan tâm, nhất là khi việc xác lập giao dịch có tác dụng xâm phạm các lợi ích chung. Ví dụ: cơ quan hành chính Nhà nước không có quyền kinh doanh; bất kỳ người nào cũng có thể yêu cầu tuyên bố vô hiệu một hợp đồng thương mại do cơ quan hành chính Nhà nước giao kết. Phân tiết II. Sự ưng thuận của bên giao kết I. Vai trò của ý chí Tính độc lập của ý chí. Học thuyết về tính độc lập của ý chí được thiết lập trong triết học luật. Tư tưởng chủ đạo là: ý chí của con người là luật; con người chỉ bị ràng buộc vào một nghĩa vụ bởi ý chí của mình, một cách trực tiếp trong quan hệ hợp đồng (ý chí đặc thù) hoặc một cách gián tiếp một khi nghĩa vụ do luật áp đặt (ý chí chung được suy đoán). Cũng vì ý chí tạo ra nghĩa vụ mà hợp đồng phải được tự do giao kết. Cá nhân có quyền tự do quyết định giao kết hoặc không giao kết hợp đồng; có quyền tự do quyết định hình thức và nội dung của hợp đồng.
  9. Thực ra, không có hệ thống luật nào thừa nhận giá trị tuyệt đối của học thuyết về tính độc lập của ý chí. Sự tự do trong xã hội có tổ chức luôn mang tính tất yếu. Trong luật Việt Nam hiện hành, tính độc lập của ý chí được chấp nhận trong chừng mực tôn trọng những giới hạn do luật thiết lập. Tính độc lập của ý chí thể hiện trong nội dung của hợp đồng. Chủ thể của quan hệ pháp luật có quyền tự do giao kết hoặc không giao kết hợp đồng. Quy tắc này được thừa nhận tại BLDS Ðiều 395 khoản 1. Một trong những nội dung của sự tự do giao kết là sự tự do xác định nội dung của hợp đồng: các bên có quyền thỏa thuận về loại hình, đối tượng, điều kiện giao dịch, thời gian, địa điểm giao dịch, trách nhiệm của mỗi bên,... Khi một hợp đồng có điều khoản không rõ ràng, thì không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí chung của các bên để giải thích điều khoản đó (Ðiều 408 khoản 1). Nói chung, không có quan hệ kết ước được xác lập trái với ý chí của người kết ước. Tuy nhiên, nội dung của hợp đồng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội (BLDS Ðiều 395 khoản 1). Pháp luật mà các bên không được phép làm trái khi giao kết hợp đồng là pháp luật mệnh lệnh; còn đạo đức xã hội mà các bên không được phép làm trái chủ yếu bao gồm những giá trị tinh thần liên quan đến gia đình, đến đời sống cộng đồng của cá nhân. Có trường hợp luật buộc chủ thể quan hệ pháp luật phải giao kết hợp đồng, như một biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn xã hội và trật tự công cộng. Ví dụ: tất cả các chủ xe cơ giới đều phải giao kết hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới (Nghị định số 115/1997/NÐ-CP ngày 17/12/1997 của Chính phủ). Có khi luật hạn chế quyền lựa chọn người đối tác trong việc xác lập một số quan hệ kết ước xác định. Ví dụ: người có nhà ở cho thuê, muốn bán nhà, phải tôn trọng quyền ưu tiên mua của người thuê. Người sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chỉ có thể thế chấp quyền sử dụng đất cho tổ chức tín dụng để vay tiền, không được thế chấp cho ai khác. Tính độc lập của ý chí thể hiện trong hình thức của hợp đồng. Hợp đồng dân sự được giao kết một khi các bên thống nhất ý chí về việc giao kết: bên đề nghị nhận được lời chấp nhận đề nghị của bên được đề nghị hoặc các bên thỏa thuận xong về nội dung chủ yếu của hợp đồng (BLDS Ðiều 403 khoản 1). Trên nguyên tắc, sự ưng thuận, chứ không phải hình thức, là điều kiện chủ yếu để hợp đồng có giá trị. Một khi cần ràng buộc sự giao kết hợp đồng vào những điều kiện nào đó về hình thức, luật phải có những quy định cụ thể. Hạn chế quyền tự do kết ước mà không bị ràng buộc vào các khung hình thức kết ước, bằng cách thiết lập các
  10. khung hình thức kết ước cụ thể cho những hợp đồng nhất định, là những ngoại lệ của nguyên tắc. Tính độc lập của ý chí thể hiện trong hình thức của hợp đồng còn được khẳng định bằng cách quy tắc đòi hỏi việc giải thích hợp đồng theo ý chí thực: trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí được bày tỏ và cách xử sự theo sự thôi thúc của ý chí nội tâm của các bên, thì ý chí nội tâm phải được coi là căn cứ để đánh giá sự nghiêm túc trong việc thực hiện nghĩa vụ. II. Tiêu chí đánh giá sự ưng thuận Sự ưng thuận chỉ có giá trị, một khi ý chí được bày tỏ một cách tự nguyện và chính xác. Sự ưng thuận được đạt tới thông qua các biện pháp trao đổi ý chí được bày tỏ, trong không gian và trong thời gian, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Ưng thuận giao kết hợp đồng là sự thống nhất ý chí của các bên giao kết về việc xác lập quan hệ kết ước có nội dung đã được các bên biết rõ và chấp nhận. A. Bày tỏ ý chí Bày tỏ ý chí rõ ràng. Gọi là được bày tỏ một cách rõ ràng ý chí được bộc lộ cho người khác. Việc bộc lộ ý chí có thể được thực hiện bằng lời nói hoặc bằng chữ viết. Cũng có trường hợp ý chí được bộc lộ bằng những cử chỉ mà ý nghĩa được xác định trước bằng các quy ước xã hội (ví dụ, leo lên xe buýt ở một trạm dừng là hình thức bộc lộ mong muốn giao kết hợp đồng vận chuyển; lấy một món hàng bày trên kệ hàng của một siêu thị và đi đến quầy tính tiền là hình thức bộc lộ mong muốn giao kết hợp đồng mua bán). Nói chung, chữ viết (văn bản) là phương tiện bộc lộ ý chí thông dụng nhất trong lĩnh vực hợp đồng dân sự; tuy nhiên, trong trường hợp luật không buộc giao kết hợp đồng hoặc chứng minh sự tồn tại của hợp đồng bằng văn bản, thì sự bộc lộ ý chí có thể được chứng minh bằng tất cả các phương tiện được thừa nhận trong luật chung về chứng cứ (văn bản, giấy tờ giao dịch, vật chứng về giao dịch điện tử, điện thoại, lời khai, lời thú nhận, sự suy đoán,…). Bày tỏ ý chí mặc nhiên. Ý chí coi như được bày tỏ một cách mặc nhiên trong trường hợp người bày tỏ ý chí không bộc lộ ý chí một cách rõ ràng mà chỉ có một thái độ cho thấy mong muốn của mình. Thái độ đó không phải là sự tuyên bố ý chí cho người khác biết mà chỉ là sự biểu hiện của ý chí đó. Ví dụ, sau khi nhận được giấy uỷ quyền, người được uỷ quyền thực hiện các công việc được giao theo hợp đồng uỷ quyền mà không tuyên bố rõ việc chấp nhận của mình đối với sự uỷ quyền đó. Thái độ (biểu hiện của ý chí) có thể mang tính chất tích cực (thực hiện một hành động) hoặc thụ động (chấp nhận hoặc im lặng). B. Sự ưng thuận không hoàn hảo
  11. Đặt vấn đề. Sự ưng thuận của một người trong việc giao kết hợp đồng chỉ có ý nghĩa pháp lý và có hiệu lực ràng buộc, khi nào đó là sự ưng thuận xuất phát từ ý chí thực, tự do và được bày tỏ trên cơ sở hiểu biết đầy đủ về việc mình làm. Không có đủ các yếu tố đó, sự ưng thuận trở nên không hoàn hảo và không đạt chất lượng của một yếu tố cơ bản trong sự hình thành quan hệ kết ước. Không có sự ưng thuận. Khái niệm ưng thuận không hoàn hảo do có tì vết được xây dựng trong điều kiện sự ưng thuận có thật nhưng không hoàn hảo do sự tồn tại của các tì vết. Có trường hợp sự ưng thuận hoàn toàn không tồn tại, khi đó cũng không thể có hợp đồng. BLDS hiện hành có dự kiến một trong các trường hợp không tồn tại sự ưng thuận tại Điều 143: trường hợp người xác lập giao dịch có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và điều khiển được hành vi của mình. Hợp đồng trong trường hợp này vô hiệu. 1. Sự nhầm lẫn a. Khái niệm Luật Việt Nam. Nhầm lẫn, trong ngôn ngữ pháp lý tổng quát, là sự nhận định không chính xác về cái có thật; tưởng cái sai sự thật là thật và ngược lại. Theo BLDS Ðiều 341 khoản 1, khi một bên do nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của giao dịch mà xác lập giao dịch, thì có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch; nếu bên kia không chấp nhận yêu cầu thay đổi của bên bị nhầm lẫn, thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Đối tượng nhầm lẫn trong luật hợp đồng Việt Nam, như vậy, phải là một yếu tố thuộc nội dung chủ yếu của hợp đồng. Luật so sánh. Trong luật của Pháp, các trường hợp nhầm lẫn liên quan đến hợp đồng có thể được xếp thành ba nhóm: 1 - Nhầm lẫn về chất lượng cơ bản của đối tượng của hợp đồng - Người giao kết có thể nghĩ rằng đối tượng của hợp đồng có những phẩm chất cơ bản đặc trưng và chính suy nghĩ đó quyết định sự ưng thuận của người này; cuối cùng, những phẩm chất đó không tồn tại. Ví dụ: một người chấp nhận mua một bức tranh vì tin rằng bức tranh đó của họa sĩ X, nhưng thực ra đó là tranh của người khác. 2 - Nhầm lẫn về nhân thân của người giao kết - Người giao kết có thể tưởng rằng đang giao kết với một người có lai lịch được biết rõ và chấp nhận giao kết trên cơ sở quan tâm đến lai lịch của người đối tác; nhưng thực ra người sau này không mang lai lịch đó. Ví dụ: một người hậu tạ một người nọ một tài sản do tin rằng người được hậu tạ đã làm một việc cho mình; nhưng thực ra, người làm được việc không phải là người sau này. Sự nhầm lẫn về nhân thân của người giao kết chỉ được coi như một căn cứ vô hiệu hoá hợp
  12. đồng trong trường hợp hợp đồng thuộc loại gắn với nhân thân của ngườI giao kết (intuitu personae). 3 - Nhầm lẫn về hợp đồng - Người giao kết có thể nhầm lẫn về tinh chất của quan hệ kết ước, ví dụ: giao kết hợp đồng mua bán mà tưởng nhầm là hợp đồng tặng cho. Người giao kết cũng có thể nhầm lẫn về đối tượng của hợp đồng, ví dụ: một bên tưởng đã mua chú heo thịt, còn bên kia chỉ bán heo giống. Và cuối cùng, người giao kết có thể nhầm lẫn về nguyên nhân giao kết, ví dụ: một người tặng cho một người nọ một tài sản vì tưởng rằng người được tặng cho là con mình; sau này, người được tặng cho rõ ra là con của người khác. Trong luật Anh-Mỹ, các quan niệm về nhầm lẫn không giống nhau tuỳ theo việc xây dựng quan niệm được thực hiện theo Common law hoặc theo Equity. Theo Common law, chỉ những nhầm lẫn gọi là cơ bản (fundamental mistake) mới khiến cho hợp đồng vô hiệu; những nhầm lẫn thường (trivial mistake) không ảnh hưởng gì đến giá trị của hợp đồng. khái niệm nhầm lẫn cơ bản được xây dựng dựa trên tư tưởng chủ đạo của lý thuyết về hợp đồng trong luật Anh-Mỹ, theo đó, việc xác định sự tồn tại của quan hệ kết ước và cả nội dung của quan hệ đó dựa vào ý chí được các bên bày tỏ chứ không dựa vào ý chí nội tâm của họ. A mua của B một con ngựa; A nghĩ rằng đây là một con ngựa khoẻ mạnh và, thực ra, nếu biết rằng con ngựa không khoẻ mạnh, thì đã không mua; về phần mình, B chỉ quan tâm tới việc bán ngựa bất kể khoẻ hay ốm và cũng không nghĩ đến việc người mua chỉ muốn mua ngựa khoẻ. Trong trường hợp này, người bán không thể kiện yêu cầu vô hiệu hoá hợp đồng do có sự nhầm lẫn, nếu cuối cùng con ngựa mua được thực sự ốm yếu. Theo Equity, các hợp đồng được giao kết do sự nhầm lẫn không cơ bản vẫn không thể bị vô hiệu hoá. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người nhầm lẫn có thể kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc cho phép đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc cho điều chỉnh nội dung hợp đồng để làm cho thoả thuận ban đầu được chính xác hơn. Nhận xét. Dựa vào BLDS Ðiều 341 khoản 1 đã dẫn, ta thấy rằng: - Luật Việt Nam không xây dựng khái niệm nhầm lẫn về nhân thân của người giao kết. Trước và sau khi phát hiện ra sự nhầm lẫn, người bị nhầm lẫn luôn có duy nhất một “bên kia” của quan hệ kết ước; - Luật Việt Nam không xây dựng lý thuyết về nguyên nhân của nghĩa vụ, bởi vậy, cũng không thừa nhận khái niệm nhầm lẫn về nguyên nhân giao kết. - “Nội dung chủ yếu của giao dịch” (của hợp đồng) là một khái niệm rất rộng, có thể bao gồm cả “chất lượng cơ bản của đối tượng của nghĩa vụ”, tính chất của quan hệ kết ước, đối tượng của hợp đồng,... Nhầm lẫn hợp đồng mua bán thành hợp đồng tặng cho là nhầm lẫn về toàn bộ nội dung của hợp đồng; muốn mua một căn hộ ở đầu hành lang chung cư, nhưng cuối cùng lại mua phải căn nhà ở cuối
  13. hành lang chung cư là nhầm lẫn về đối tượng của hợp đồng; mua một chiếc xe tân trang mà nghĩ rằng đã mua xe mới xuất xưởng, là nhầm lẫn về chất lượng cơ bản của đối tượng của hợp đồng; giao kết hợp đồng mua bán nông sản với số lượng xác định theo kg nhưng lại ngỡ rằng đã giao kết mua bán theo trái, quả, củ;... Thực tiễn áp dụng pháp luật ở Việt Nam chưa tổng kết các trường hợp nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của hợp đồng thành lý luận chung. b. Điều kiện xác lập tình trạng nhầm lẫn Giao kết hợp đồng do nhầm lẫn. Người giao kết chỉ có thể phản ứng với tư cách người bị nhầm lẫn, một khi chính sự nhầm lẫn đó đã có ảnh hưởng quyết định đối với sự ưng thuận của mình. “Khi một bên do nhầm lẫn.... mà xác lập giao dịch...”. Một người muốn trang trí phòng khách của mình bằng một bức tranh nào đó thuộc trường phái ấn tượng; được giới thiệu rằng bức tranh muốn mua là của họa sĩ ấn tượng X, người này chấp nhận mua; ít lâu sau, có người phát hiện rằng bức tranh đó là của họa sĩ ấn tượng Y; người mua không thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán vô hiệu, bởi sự nhầm lẫn không ảnh hưởng đến ý chí của người này lúc giao kết hợp đồng: người này quan tâm đến việc tìm kiếm một bức tranh ấn tượng, không phải chỉ quan tâm riêng đến tranh ấn tượng của họa sĩ X. Sự nhầm lẫn có thể xảy ra đối với cả hai bên giao kết hoặc chỉ đối với một bên. Trong trường hợp sự nhầm lẫn chỉ xảy đối với một bên, thì điều quan trọng là bên kia không phải là người chủ động thực hiện một hành vi nào đó nhằm tạo ra sự nhầm lẫn ấy: nếu một bên thực hiện một hành vi một cách có ý thức nhằm tạo ra sự nhầm lẫn của bên kia thì ta có sự lừa dối chứ không phải sự nhầm lẫn nữa. Luật của Pháp còn đòi hỏi rằng sự nhầm lẫn phải có thể tha thứ được (excusable) mới có thể là căn cứ để triển khai các biện pháp bảo vệ dành cho người nhầm lẫn. Có trường hợp sự nhầm lẫn là không thể được giải thích bằng cách nào khác ngoài việc quy cho người nhầm lẫn sự thờ ơ, vô trách nhiệm đối với việc bảo vệ quyền lợi của chính mình: kiến trúc sư quên mất việc tìm hiểu các quy định về kiến trúc áp dụng tại khu vực và đã lập một sơ đồ thiết kế không phù hợp; hãng vận tải đường bộ mua một chiếc xe mà không tìm hiểu xuất xứ;… Bằng chứng của sự nhầm lẫn. Một cách hợp lý, người cho rằng mình đã nhầm lẫn phải chứng minh sự nhầm lẫn đó. Việc chứng minh có thể được thực hiện bằng bất kỳ phương tiện nào được thừa nhận trong luật chung về chứng cứ (văn bản, lời khai, lời thú nhận, người làm chứng, đối chất,...). Người nhầm lẫn phải chứng minh không chỉ việc nhầm lẫn mà còn cả tính chất quyết định của sự nhầm lẫn đối với sự ưng thuận của mình trong việc giao kết hợp đồng. c. Hệ quả của sự nhầm lẫn
  14. Hai giai đoạn. Có vẻ như luật không cho phép người bị nhầm lẫn phát ngay yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn. “Khi một bên do nhầm lẫn..., thì có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch”. Trước hết, người bị nhầm lẫn phải thảo luận với người đối tác về việc sửa đổi nội dung hợp đồng. Nếu người đối tác từ chối thảo luận hoặc thảo luận không có kết quả như ý muốn của người bị nhầm lẫn, thì người này mới có quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Song, giải pháp này khả thi trong hầu hết các trường hợp mà cả hai bên đều nhầm: người mua và người bán trong vụ mua bán một bức tranh đều tưởng rằng bức tranh là của họa sĩ X; khi phát hiện rằng tranh không phải của X, thì hai bên có thể thảo luận lại về nội dung hợp đồng mua bán, đặc biệt là về giá bán: vật mua bán không thay đổi, nhưng cách nhìn nhận của hai bên về tính chất và giá trị của vật thay đổi. Còn trong trường hợp chỉ có một bên bị nhầm, thì hẳn các bên không có gì để thảo luận thêm với nhau về hợp đồng có liên quan: người bán biết rằng mình đang bán bức tranh của X, trong khi người mua ngỡ đang mua bức tranh của Y; nếu, sau khi biết mình bị nhầm, người mua vẫn chấp nhận mua với điều kiện người bán chấp nhận giảm giá, thì đó là một hợp đồng mua bán có đối tượng khác, một hợp đồng mới; nếu người bị nhầm lẫn vẫn chỉ quan tâm đến bức tranh mình muốn mua, mà người bán có, thì các bên càng cần phải giao kết một hợp đồng khác; và nếu người bị nhầm lẫn chỉ quan tâm đến bức tranh mình muốn mua, mà người bán không có, thì quyền yêu cầu người bán sửa đổi nội dung hợp đồng không có ý nghĩa gì đối với người bị nhầm lẫn. Cũng có trường hợp cả hai bên đều nhầm, nhưng việc sửa đối nội dung hợp đồng cũng không khả thi. Ví dụ, A tặng cho B một tài sản vì lầm tưởng rằng B đã cứu mạng mình; thực ra, B cũng đã có cứu mạng một người khác và khi nhận quà tặng của A, nhầm tưởng rằng A chính là người khác đó. Nếu mọi việc sau này trở nên rõ ràng đối với cả hai, thì, suy cho cùng, chẳng có bên nào có lợi ích để sửa đổi nội dung hợp đồng. Vô hiệu do nhầm lẫn. Người có quyền yêu cầu tuyên bố vô hiệu phải là người nhầm lẫn. Thời hiệu khởi kiện là 1 năm kể từ ngày xác lập giao dịch (BLDS Điều 145 khoản 1). Bên có lỗi trong việc để xảy ra nhầm lẫn phải bồi thường thiệt hại (Điều 141 khoản 2). 2. Sự lừa dối a. Khái niệm
  15. Ðịnh nghĩa. Theo BLDS Ðiều 142 khoản 1, lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó. Người giao kết với người lừa dối không nhầm, mà bị lừa, hay đúng hơn là bị người lừa dối dẫn dụ vào sự nhầm lẫn. Sự nhầm lẫn do bị lừa dối được hình dung trong một phạm vi khá rộng so với sự nhầm lẫn tự động phân tích ở trên: người nhầm lẫn tự động chỉ được bảo vệ trong trường hợp nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của hợp đồng; trong khi người nhầm lẫn do bị lừa dối có thể được bảo vệ cả trong trường hợp nhầm lẫn về chủ thể giao kết, về tính chất của đối tượng, về nội dung của giao dịch. b. Ðiều kiện của sự lừa dối Người lừa dối phải là bên kết ước ? “lừa dối là hành vi cố ý của một bên...”. Luật Việt Nam không xây dựng khái niệm lừa dối của người thứ ba. Tuy nhiên, luật không đòi hỏi rằng người kết ước phải là người tổ chức việc lừa dối, cũng không nói rằng người này là người duy nhất thực hiện hành vi lừa dối. Nói chung, điều quan trọng là phải có vai trò tích cực của bên kết ước trong vụ lừa dối; còn vấn đề có bao nhiêu người tham gia vào vụ lừa dối không phải là vấn đề cần được giải quyết trong khuôn khố xác định các điều kiện của hành vi lừa dối. Người kết ước không trung thực. Việc lừa dối của người kết ước được ghi nhận, một khi người này có hành vi lừa dối chủ động (cung cấp thông tin sai sự thật, sử dụng tài liệu giả, nói dối) - với tư cách người tổ chức, người thực hiện, người đồng lõa với người thứ ba hoặc người giúp sức -, hoặc có hành vi lừa dối thụ động (không hành động), nghĩa là biết người kết ước với mình bị nhầm nhưng im lặng để hưởng lợi từ việc người kết ước chấp nhận giao kết hợp đồng. Trong trường hợp lừa dối bằng hành vi thụ động, điều quan trọng là người lừa dối phải có nghĩa vụ thông tin đối với người đối tác và thái độ thụ động trở thành biểu hiện của việc không thực hiện nghĩa vụ thông tin ấy. Ý định lừa dối. Người lừa dối phải thực hiện hành vi lừa dối một cách cố ý, nghĩa là thực hiện hành vi lừa dối một cách có ý thức với mong muốn có được sự chấp nhận giao kết hợp đồng của người bị lừa dối. Hành vi lừa dối vả lại, phải bị đánh giá xấu theo các chuẩn mực chung về đạo đức; có những thủ đoạn lừa dối chấp nhận được trong thực tiễn giao dịch, do tính chất vô hại của chúng, ví dụ, quảng cáo bột giặt “chỉ ngâm thôi đã sạch”, kem đánh răng có tác dụng làm cho “răng chắc như thép”,... Thế nào là xấu hoặc chấp nhận được theo các chuẩn mực chung về đạo đức là vấn đề không đơn giản. Sự lừa dối phải có tác dụng quyết định đối với sự ưng thuận. “Lừa dối là hành vi cố ý... nhằm là cho bên kia hiểu sai... nên đã xác lập giao dịch...”. Một người đồng ý mua một chiếc xe máy, người bán nói dối về những ưu điểm không tồn tại
  16. của xe máy để người mua chấp nhận trả giá cao hơn: luật của Pháp nói rằng người bán trong trường hợp này cũng đã lừa dối, nhưng không phải để dẫn dụ người mua đi đến chỗ giao kết hợp đồng mà chỉ để tìm cách đưa vào hợp đồng, mà nội dung đã được thống nhất về cơ bản, một điều khoản có lợi cho mình; người mua trong trường hợp này chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại chứ không thể xin tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Có vẻ như đây không phải là giải pháp được xây dựng trong luật Việt Nam: sự ưng thuận của người kết ước trong luật Việt Nam, dù chỉ không hoàn hảo ở một vài điểm thuộc nội dung chủ yếu của hợp đồng, cũng là sự ưng thuận không hoàn hảo đối với toàn bộ hợp đồng. c. Hệ quả của sự lừa dối Vô hiệu do lừa dối. Sự lừa dối chịu những biện pháp chế tài khá nghiêm khắc trong luật Việt Nam: người bị lừa dối có quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu (Ðiều 142 khoản 1), có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại (Ðiều 142 khoản 2); tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức của người lừa dối bị tịch thu sung quỹ Nhà nước (Ðiều 142 khoản 2). Nếu hành vi lừa dối cấu thành tội phạm, thì người lừa dối có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều bất ngờ là mặc dù các biện pháp chề tài tỏ ra khá nghiêm khắc, thời hiệu để yêu cầu thực hiện các biện pháp này cũng chỉ ngang bằng thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn, nghĩa là một năm kể từ ngày xác lập giao dịch. Một năm đúng là ngắn, càng ngắn hơn trong điều kiện thời hiệu được tính từ ngày xác lập giao dịch chứ không phải từ ngày phát hiện ra sự lừa dối: có người chỉ biết mình bị lừa dối hơn một năm sau khi xác lập giao dịch và do đó sẽ không có quyền khởi kiện. 3. Sự đe dọa a. Khái niệm Ðịnh nghĩa. Theo BLDS Ðiều 142 khoản 2, đe dọa trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia sợ hãi mà phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích. Luật dùng từ “thực hiện”, nhưng ta có thể nghĩ đến việc “xác lập”: một giao dịch xác lập không phải dưới sự đe dọa không thể bị tuyên bố vô hiệu vì lý do người xác lập bị đe dọa phải thực hiện. Ví dụ: một hợp đồng mua bán tài sản được giao kết một cách tự nguyện; người mua trì hoãn việc trả tiền; người bán dọa sẽ giết người mua, nếu người sau này không trả tiền; người bán sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đe dọa giết người, nhưng người mua không thể xin tuyên bố hợp đồng mua bán vô hiệu vì lý do có sự đe dọa của người bán nhằm đốc thúc người mua thực hiện nghĩa vụ trả tiền, một nghĩa vụ được xác lập đúng luật trong khuôn khổ hợp đồng. Người mua cũng không thể xin miễn thực hiện nghĩa vụ trả tiền do đã bị đe doạ (một cách không chính đáng)
  17. b. Ðiều kiện của sự đe dọa Sự tiềm ẩn của hiểm hoạ. Nếu người đối tác đã dùng đến vũ lực hoặc đã thực hiện các biện pháp nhằm gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe,... hoặc nhằm đưa nạn nhân vào tình trạng không thể nhận thức được hành vi của mình (say ma túy, say rượu) để nạn nhân chấp nhận giao kết hợp đồng, thì hợp đồng vô hiệu không phải vì sự ưng thuận không hoàn hảo mà do hoàn toàn không có sự ưng thuận. “Ðe dọa”, trong khung cảnh của Ðiều 142 khoản 1, được hình dung như một hành vi có tác dụng dẫn dắt ý chí của người bị đe dọa đi theo ý chí của người đe dọa mà, người bị đe dọa, dù không muốn, không thể (hoặc không dám), cưỡng lại. Nói rõ hơn, đe dọa, ở góc nhìn của người bị đe dọa, hình thành từ hai yếu tố: một yếu tố khách quan - mối nguy hiểm bủa vây - và yếu tố chủ quan - nỗi sợ. Chính dưới sự đe dọa đó mà ý chí được bày của người bị đe dọa không thể phản ánh trung thực ý chí nội tâm của người này. Người đe doạ. Luật nói rằng “Ðe dọa... là hành vi cố ý của một bên”. Thoạt trông, điều đó có nghĩa rằng, cũng như việc lừa dối, việc đe dọa phải xuất phát từ bên kết ước: không có đe dọa xuất phát từ người thứ ba. Song, có thể tin rằng “một bên” và “bên kia”, nói trong định nghĩa về đe dọa tại Ðiều 142 khoản 1, là các bên trong quan hệ đe dọa chứ không phải các bên trong giao dịch dân sự xác lập dưới sự đe dọa. Với cách hiểu đó, thì đe dọa có thể là hành vi của bất kỳ người nào, không nhất thiết là hành vi của người kết ước với người bị đe dọa. Phải chấp nhận giải pháp vừa nêu, nếu không người bị đe dọa sẽ không được bảo vệ, một khi sự đe dọa xuất phát từ một người thứ ba mà không phải là người kết ước. Ví dụ: người chồng vay nợ, Ngân hàng yêu cầu có người bảo lãnh; người chồng buộc người vợ đứng ra bảo lãnh cho mình, người vợ không muốn nhưng không dám phản đối, do bị đe dọa; hợp đồng bảo lãnh được giao kết giữa người vợ và Ngân hàng trong đó, người bảo lãnh đã giao kết dưới sự bảo lãnh mà người bảo lãnh không biết. Người bảo lãnh trong ví dụ đó phải có quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Tính chất của sự đe doạ. Sự đe dọa phải có tác dụng quyết định đối với sự ưng thuận (miễn cưỡng) của người bị đe dọa, nghĩa là người bị đe dọa chấp nhận giao kết chỉ vì bị đe dọa. Luật của Pháp còn xây dựng khái niệm đe doạ không chính đáng, để phân biệt với khái niệm gây sức ép chính đáng, là sự đe doạ không dẫn tới khả năng vô hiệu hoá giao dịch. Một trong những trường hợp gây sức ép chính đáng là việc đe doạ thực hiện một quyền hợp pháp kèm theo yêu cầu đánh đổi quyền này với sự ưng thuận của người bị đe doạ trong việc xác lập giao dịch với những điều kiện hoàn toàn bình thường. Chính đáng, bởi vì, một là, việc gây sức ép không bao hàm một dự tính trái pháp luật; hai là, người gây sức ép không thu nhận các lợi ích bất thường, quá đáng từ giao dịch và người bị gây sức ép cũng không bị thiệt hại do việc thực hiện giao dịch ấy.
  18. Người bị đe doạ. Hành vi đe dọa có thể được thực hiện đối với chính người giao kết hoặc đối với những người thân thích của người này. “Thân thích” hàm nghĩa rằng giữa những người có liên quan có mối quan hệ gia đình: hôn nhân, thân thuộc do huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng. Người giám hộ và người được giám hộ không phải là những người thân thích chỉ vì có quan hệ giám hộ, cũng như người bị hạn chế năng lực hành vi và người đại diện. Ðối tượng của hành vi đe doạ có thể là con người (đe doạ dùng vũ lực để gây thương tích, đe doạ công bố các thông tin về đời tư,…) hoặc tài sản (đe doạ đốt nhà, huỷ hoại cây cối, mùa màng,…). c. Hệ quả của sự đe dọa. Người đe dọa có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp hành vi đe dọa cấu thành tội phạm. Giao dịch xác lập dưới sự đe dọa có thể bị tuyên bố vô hiệu theo yêu cầu của người bị đe dọa (Ðiều 142 khoản 1). Ngoài ra, người đe dọa phải bồi thường thiệt hại cho người bị đe dọa và tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức của người đe dọa bị tịch thu sung quỹ Nhà nước (Ðiều 142 khoản 2). Trong trường hợp người đe dọa không phải là người cùng giao kết, thì cũng chính người đe dọa sẽ phải bồi thường thiệt hại nhưng không thể có vấn đề tịch thu tài sản, bởi tài sản giao dịch trong trường hợp này không phải của người đe dọa (như trong ví dụ về hợp đồng bảo lãnh nêu trên). Thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do có sự đe doạ cũng là 1 năm từ ngày xác lập giao dịch (BLDS Điều 145 khoản 1). C. Trao đổi ý chí Trao đổi ý chí là việc thông tin được thực hiện giữa các bên đối tác nhằm đi đến thống nhất ý chí về nội dung của hợp đồng và làm cho hợp đồng hình thành. Việc trao đổi ý chí được thực hiện theo hai bước, có thể được tiến hành cách nhau một khoảng thời gian, nhưng cũng có thể đồng thời: đề nghị giao kết hợp đồng của một bên và chấp nhận đề nghị của bên kia. 1. Ðề nghị giao kết hợp đồng a. Khái niệm. Ðề nghị giao kết hợp đồng là sự bày tỏ ý chí của một người về việc mong muốn giao kết hợp đồng với một người khác trên một đối tượng và trong những điều
  19. kiện đã được người đề nghị xác định rõ. Ðề nghị có thể được gửi đến một người đối tác xác định hoặc không xác định (đề nghị với công chúng). Ðó có thể là lời đề nghị rõ ràng - một lời mời trực tiếp - hoặc mặc nhiên - như trưng bày hàng hóa ở quầy hàng kèm theo giá bán (đề nghị giao kết hợp đồng mua bán), đặt máy điện thoại sử dụng thẻ ở nơi công cộng (đề nghị giao kết hợp đồng dịch vụ thông tin liên lac). Đề nghị giao kết hợp đồng có thể coi là giao dịch nằm ở “cận trên” của thương lượng và ở “cận dưới” của hứa hợp đồng: cao hơn thương lượng, đề nghị giao kết hợp đồng không phải là một lời mời gọi đi vào các cuộc bàn cãi về nội dung chủ yếu của hợp đồng; thấp hơn hứa hợp đồng, đề nghị giao kết hợp đồng chưa phải là một cam kết về việc thực hiện một hợp đồng nào đó, bởi mỗi một lý do đơn giản là chưa xác định được người thụ hưởng một cam kết như thế. b. Hình thức đề nghị Luật Việt Nam hiện hành không có quy định riêng về hình thức đề nghị. Vậy, việc đề nghị tuân thủ các quy định chung về hình thức giao dịch: đề nghị, một loại giao dịch, có thể được thể hiện bằng lời nói (trực tiếp hoặc được ghi âm và phát lại), bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể (BLDS Ðiều 133). Ngay cả trong trường hợp hợp đồng phải được giao kết theo một hình thức nhất định, thì đề nghị giao kết hợp đồng cũng có thể được ghi nhận dưới hình thức khác. Thông thường lời đề nghị được đưa ra một cách rõ ràng dưới các hình thức xử sự chủ động của người đề nghị (rao, chào mời, đỗ xe tại bãi đón khách, trưng bày hàng với giá niêm yết sẵn, bày công cụ, phương tiện tại nơi kinh doanh,…) . Riêng trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng của người kinh doanh chuyên nghiệp dành cho người tiêu dùng còn phải tuân theo các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng (Nghị định số 69-CP ngày 02/10/2001 Điều 8): mô tả chi tiết quy cách, xuất xứ hàng hoá, dịch vụ, chỉ dẫn cách sử dụng hàng hoá, cảnh báo về tính chất nguy hiểm của hàng hoá, dịch vụ do mình cung ứng,… c. Các điều kiện của đề nghị giao kết hợp đồng. Ðề nghị giao kết hợp đồng sẽ trở thành hợp đồng một khi người được đề nghị chấp nhận giao kết theo các điều kiện được đưa ra trong đề nghị đó. Bởi vậy: Ðề nghị giao kết hợp đồng phải chắc chắn. nghĩa là phải thể hiện ý chí dứt khoát của người đề nghị: hợp đồng sẽ phải được người đề nghị giao kết nếu lời đề nghị được chấp nhận. Không có tính chất này, thì cái gọi là đề nghị giao kết hợp đồng thực ra chỉ là một lời mời thương lượng. Ví dụ: một người sử dụng lao động đăng thông báo công khai về việc cần tuyển dụng một số người lao động trong một hoặc nhiều ngành, nghề, với mức lương được xác định trước, không nhất thiết phải giao
  20. kết hợp đồng lao động với bất kỳ người nào hội đủ điều kiện ghi trong thông báo, bởi người đề nghị không nói rõ sẽ chấp nhận tuyển bất kỳ người nào có đủ điều kiện hay chỉ tuyển những người có đủ điều kiện mà người đề nghị cảm thấy hợp với mình trong quan hệ lao động. Trái lại, nếu người sử dụng lao động thông báo trực tiếp cho một người xác định, đề nghị người sau này giao kết hợp đồng lao động với các điều kiện được ghi rõ trong đề nghị, thì đó là một đề nghị chắc chắn: một khi người nhận được đề nghị chấp nhận giao kết, thì người đề nghị có nghĩa vụ giao kết. - Ðề nghị giao kết hợp đồng phải rõ ràng và đầy đủ, nghĩa là phải ghi nhận tất cả các nội dung chủ yếu của hợp đồng để hợp đồng có thể được giao kết chỉ trên cơ sở tuyên bố chấp nhận giao kết của người được đề nghị. d. Hiệu lực của đề nghị giao kết trong thời gian chưa có sự chấp nhận đề nghị. Chừng nào đề nghị giao kết hợp đồng chưa được chấp nhận, thì hợp đồng chưa được giao kết. Tuy nhiên, theo BLDS Ðiều 396, khi một bên đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ nội dung chủ yếu của hợp đồng và thời hạn trả lời, thì không được mời người thứ ba giao kết trong thời hạn chờ trả lời và phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình. Ðiều luật có vẻ như chỉ áp dụng đối với những đề nghị đưa ra trước một người xác định chứ không phải đề nghị gửi chung cho công chúng (bởi vậy mới có thuật ngữ “người thứ ba”). Dẫu sao, có cơ sở để nói rằng nếu đề nghị giao kết hợp đồng có ghi thời hạn trả lời, thì trong lúc thời hạn đó chưa hết, người đề nghị phải chịu trách nhiệm về đề nghị của mình, dù đó là đề nghị đưa ra trước một người xác định hay được gửi chung cho công chúng qua các phương tiện truyền thông công cộng, tờ bướm. Luật quy định thêm rằng khi người được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng, nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị, thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới (BLDS Ðiều 399 khoản 3). Ðiều đó có nghĩa rằng đề nghị được đưa ra trước không còn hiệu lực. Đề nghị mất hiệu lực. Theo BLDS Điều 399 khoản 1, đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt trong trường hợp bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận hoặc chậm trả lời chấp nhận hoặc đã hết thời hạn trả lời chấp nhận. Thực ra, “hết thời hạn trả lời chấp nhận” là trường hợp bao trùm cả “chậm trả lời chấp nhận”. Còn trong trường hợp bên được đề nghị trả lời không chấp nhận, mọi chuyện sẽ suôn sẻ nếu bên được đề nghị xếp luôn vụ việc; trái lại, sẽ có rắc rối phát sinh nếu bên được đề nghị lại muốn chấp nhận đề nghị (hoặc ít nhất, muốn rút lại câu trả lời không chấp nhận để có thể tiếp tục suy nghĩ) trong điều kiện thời hạn có hiệu lực của đề nghị, do người đề nghị đưa ra, vẫn chưa hết.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản