Các câu hỏi thường gặp về thị trường chứng khoán

Chia sẻ: yuki_snow_86

Công ty A là Công ty cổ phần đại chúng nắm 25% vốn cổ phần tại một công ty cổ phần đại chúng khác (công ty B). Khi công ty B tăng vốn với quyền mua 1/1. Hội đồng quản trị công ty A có ý định cho cổ đông Công ty A góp thẳng phần tăng vốn 1/1 theo tỷ lệ tương ứng với số cổ phần mà cổ đông Công ty A đang nắm giữ. Vậy trường hợp này có hợp pháp không? Hội đồng quản trị công ty B có quyền làm khó cổ đông công ty...

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Các câu hỏi thường gặp về thị trường chứng khoán

Các câu hỏi thường gặp về thị trường chứng khoán
Hỏi: Xin quý vị giải đáp các trường hợp sau:


1. Công ty A là Công ty cổ phần đại chúng nắm 25% vốn cổ phần tại một công ty
cổ phần đại chúng khác (công ty B). Khi công ty B tăng vốn với quyền mua 1/1.
Hội đồng quản trị công ty A có ý định cho cổ đông Công ty A góp thẳng phần
tăng vốn 1/1 theo tỷ lệ tương ứng với số cổ phần mà cổ đông Công ty A đang
nắm giữ. Vậy trường hợp này có hợp pháp không? Hội đồng quản trị công ty B
có quyền làm khó cổ đông công ty A không?.
2. Công ty A đang nắm giữ 90% cổ phần trong 1 công ty TNHH (Công ty C), 10%
còn lại do một pháp nhân khác nắm giữ. Hội đồng quản trị Công ty A quyết
định chuyển công ty C thành công ty cổ phần và khi công ty cổ phần C tăng vốn
thì HĐQT công ty A có ý định cho cổ đông công ty A góp thẳng phần tăng vốn
theo tỷ lệ tương ứng với số cổ phần mà cổ đông nắm giữ. Vậy trường hợp
này có hợp pháp không?.
Trả lời: Theo quy định tại Điều 87, khoản 2, điểm c Luật Doanh nghiệp quy định:
“Trường hợp công ty phát hành thêm cổ phần phổ thông và chào bán số cổ phần đó
cho tất cả cổ đông phổ thông theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ tại công ty thì: Cổ
đông có quyền chuyển quyền ưu tiên mua cổ phần của mình cho người khác.”

Như vậy, việc công ty A chuyển quyền ưu tiên mua cổ phần của công ty B cho các cổ
đông của mình (công ty A) là không trái pháp luật. Tuy nhiên, trường hợp này cũng cần
phải xem xét Điều lệ của Công ty A có cho phép Hội đồng quản trị hay Đại hội cổ
đông quyết định việc chuyển quyền ưu tiên mua cổ phần của công ty cho người khác
(cụ thể ở đây là cổ đông của công ty A) hay không. Việc chuyển nhượng này phải
tuân thủ theo quy định của pháp luật hiện hành về chứng khoán và thị trường
chứng khoán.

2. Trường hợp câu hỏi thứ hai cũng tương tự như trên.



Tôi muốn hỏi hiện nay TTGDCK TP.HCM đang sử dụng những loại
lệnh giao dịch nào.



Trả lời:
Theo qui định tại Thông tư số 58/2004/TT-BTC ngày 17/6/2004 của Bộ Tài
chính về Thành viên và giao dịch chứng khoán lệnh giao dịch theo phương thức khớp
lệnh bao gồm:

- Lệnh giới hạn: là lệnh mua hoặc bán chứng khoán do người đầu tư đưa ra
cho người môi giới thực hiện theo mức giá chỉ định hoặc tốt hơn
- Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh (ATO): là lệnh mua hoặc bán chứng
khoán nhưng không ghi mức giá, do người đầu tư đưa ra cho người môi giới để thực
hiện theo giá khớp lệnh.

Khối lượng giao dịch của lệnh ATO được cộng vào tổng khối lượng khớp
lệnh nhưng lệnh ATO chỉ được phân bổ sau khi lệnh giới hạn đã được phân bổ hết.

Có thể hướng dẫn cho tôi qui trình tìm giá khớp lệnh, nêu ví dụ cụ
thể.


Trả lời:

Qui trình tìm giá khớp lệnh

Theo qui định tại Thông tư số 58/2004/TT-BTC ngày 17/6/2004 của Bộ Tài
chính về Thành viên và giao dịch chứng khoán:
- Phương thức giao dịch khớp lệnh thực hiện trên nguyên tắc:
i. Là mức giá thực hiện đạt được khối lượng giao dịch lớn nhất;
ii. Nếu có nhiều mức giá thoả mãn điểm i thì mức giá trùng hoặc gần với giá
thực hiện của lần khớp lệnh gần nhất sẽ được chọn;
iii. Nếu vẫn còn nhiều mức giá thoả mãn điểm ii thì mức giá cao hơn sẽ được
chọn.
- Phương thức giao dịch thoả thuận là việc các thành viên tự thoả thuận với
nhau về các điều kiện giao dịch.
- Ưu tiên về giá
+ Lệnh mua có mức giá cao hơn được thực hiện trước;
+ Lệnh bán có mức giá thấp hơn được thực hiện trước.
- Ưu tiên về thời gian: trường hợp các lệnh mua, bán có cùng mức giá thì lệnh giao
dịch nhập trước vào hệ thống giao dịch được ưu tiên thực hiện trước.
Ví dụ: Ta có sổ lệnh giao dịch của chứng khoán XYZ như sau:
- Trường hợp không có lệnh ATO:
Tích luỹ Mua Bán Tích luỹ
Giá



10.000 10.000 30.000 10.000 34.500
15.500 5.500 29.000 15.000 24.500
22.500 7.000 28.000 4.000 9.500
25.500 3.000 27.000 3.000 5.500
34.000 8.500 26.000 2.500 2.500
Qua sổ lệnh ta có giá khớp lệnh của cổ phiếu XYZ là 28.000 đồng.
- Trường hợp có lệnh ATO và giá tham chiếu của lần khớp lệnh trước đó là
26.000 đồng:



Tích luỹ Mua Bán Tích luỹ
Giá
13.000 10.000 30.000 10.000 31.500
18.500 5.500 29.000 21.500
25.500 7.000 28.000 21.500
25.500 27.000 10.000 21.500
25.500 26.000 10.500 11.500
3.000 ATO 1.000


Qua sổ lệnh ta có giá khớp lệnh của cổ phiếu XYZ là 28.000 đồng.




Giá cổ phiếu của một công ty khi niêm yết phụ thuộc vào điều gì?


Trước hết có thể khẳng định rằng câu hỏi giống như câu hỏi của bạn hay
tương tự, đã làm đau đầu các nhà học giả, các nhà đầu tư chứng khoán hàng mấy trăm
năm kể từ khi thị trường chứng khoán ra đời, nếu bạn là một fan bóng đá, bạn cũng
thấy khó khăn như thế nào để dự đoán kết quả của một trận cầu, thì ở đây khó khăn
cũng chẳng kém, nếu bạn cho là khó hơn thì cũng không sao. Và ở trong hầu hết mọi
trường hợp, câu trả lời có một điểm chung thống nhất là giá cổ phiếu dường như là
một điều gì đó rất bí ẩn, rất khó nắm bắt.
Dưới đây, tác giả bài viết này xin trích đăng tóm tắt những kết luận, ý kiến của
các nhà kinh tế, các nhà hoạt động thị trường trên thế giới về những nhân tố chủ yếu
có thể ảnh hưởng đến giá cổ phiếu để bạn tham khảo. Tuy nhiên, cũng xin lưu ý bạn
rằng, tác động của các nhân tố này tới giá cổ phiếu như thế nào cũng còn rất nhiều
tranh luận. Các yếu tố này có thể chia thành 3 nhóm yếu tố, đó là: các yếu tố kinh tế,
các yếu tố phi kinh tế, và các yếu tố thị trường.
1. Nhóm yếu tố kinh tế
Về tăng trưởng kinh tế, giá cổ phiếu có xu hướng tăng khi nền kinh tế phát
triển và giảm khi nền kinh tế kém phát triển; tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể giữa
các nhóm cổ phiếu và tình hình biến động của từng cổ phiếu phụ thuộc vào tình hình
hoạt động cụ thể của từng công ty.
Về mối liên hệ giữa giá cổ phiếu và hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty, giá cổ phiếu đôi khi xảy ra trước biến động hoạt động kinh doanh, đôi khi
xảy ra sau. Thời gian xảy ra và mức độ biến động này có sự chênh lệch đáng kể qua
theo dõi tình hình. Qua một thời gian dài, nhiều người cho rằng giá cổ phiếu phổ thông
thay đổi trước hoạt động kinh doanh.
Thu nhập công ty, những người theo trường phái này cho rằng, thu nhập hay
lợi nhuận của công ty được coi là nhân tố quan trọng nhất tác động tới giá cổ phiếu.
Những nhà kinh doanh và nhà đầu tư mua và bán cổ phiếu chủ yếu dựa trên cơ sở dự
đoán về mức thu nhập. Tuy nhiên, giá cổ phiếu không phải lúc nào cũng có mối quan
hệ chặt chẽ với thu nhập. Có những thời điểm, giá cổ phiếu tăng nhanh hơn thu nhập;
vào những thời điểm khác, nó bị tụt lại đằng sau thu nhập. Đôi khi trên thực tế, nó lại
biến động theo chiều hướng ngược lại với thu nhập. Do vậy, dù một người theo dõi
rất sát thị trường đã dự đoán đúng xu hướng thay đổi của thu nhập, nhưng không có gì
bảo đảm rằng anh ta có thể dự đoán chính xác xu hướng biến đổi của giá cổ phiếu.
Cổ tức, những người theo trường phái này cho rằng cổ tức là nhân tố cơ bản,
chủ yếu thứ hai sau thu nhập, trong việc xác định giá chứng khoán. Thực chất điều
này không khác gì một câu thành ngữ cổ xưa “1 con chim trong nhà có trị giá bằng 2
con chim trong rừng”. Tuy nhiên, cổ tức không đóng vai trò quan trọng đối với loại cổ
phiếu tăng trưởng là loại cổ phiếu mà người ta coi sự tăng giá của chúng là rất quan
trọng, thường xuyên mang lại lợi suất đầu tư cuối cùng lớn hơn nhiều so với cổ tức
hiện tại. Một công ty tăng trưởng có khả năng sử dụng số vốn này có hiệu quả hơn
cho các cổ đông, là những người luôn phải tìm kiếm cơ hội đầu tư. Trong tất cả các
nhân tố báo chí sử dụng để giải thích về sự biến động giá hàng ngày của từng cổ
phiếu, các thông tin về cổ tức luôn được xếp ở vị trí quan trọng gần đầu.
Lãi suất, mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu là gián tiếp và luôn thay
đổi. Nguyên nhân là do luồng thu nhập từ cổ phiếu có thể thay đổi theo lãi suất và
chúng ta không thể chắc chắn liệu sự thay đổi của luồng thu nhập này có làm tăng hay
bù đắp cho mức biến động về lãi suất hay không. Để giải thích rõ vấn đề này, chúng
ta sẽ xem xét các khả năng có thể xảy ra khi tỷ lệ lạm phát tăng, cụ thể như sau:
Lãi suất tăng do tỷ lệ lạm phát tăng và thu nhập công ty theo đó cũng tăng vì
công ty có thể tăng giá cho phù hợp với mức tăng của chi phí. Trong trường hợp này,
giá cổ phiếu có thể khá ổn định vì ảnh hưởng tiêu cực của việc tăng tỷ suất lợi nhuận
đã được đền bù một phần hay toàn bộ bởi phần tăng của tỷ lệ tăng trưởng thu nhập và
cổ tức.
Lãi suất tăng, nhưng luồng thu nhập dự tính thay đổi rất ít do công ty không có
khả năng tăng giá để phù hợp với chi phí tăng, do vậy, giá cổ phiếu giảm. Tỷ suất lợi
nhuận quy định có thể tăng nhưng tỷ lệ tăng trưởng của cổ tức là không đổi, nên mức
chênh lệch giữa 2 nhân tố này càng lớn.
Lãi suất tăng trong khi luồng thu nhập giảm vì các nguyên nhân làm tăng lãi
suất lại gây tác động xấu tới thu nhập của công ty. Hoặc là người ta có thể hình dung
thời kỳ lạm phát trong đó chi phí sản xuất tăng, nhưng nhiều công ty không thể tăng
giá, dẫn tới biên độ lợi nhuận giảm. Tác động của một loạt các sự kiện này là rất tồi
tệ. Trong những trường hợp này, giá cổ phiếu sẽ sụt nghiêm trọng vì tỷ suất lợi
nhuận giảm khi cổ tức giảm, dẫn tới chênh lệch giữa 2 nhân tố này càng lớn.
Đối với những trường hợp ngược lại so với các trường hợp trên, bạn có thể
hình dung ra một loạt các khả năng ngược lại khi lạm phát và lãi suất giảm. Mối quan
hệ giữa lạm phát, lãi suất và giá cổ phiếu là một vấn đề đòi hỏi phải có kinh nghiệm
và ảnh hưởng của chúng thay đổi theo từng thời kỳ. Do vậy, mặc dù mối quan hệ giữa
lạm phát, lãi suất và thu nhập từ cổ phiếu là tiêu cực, nhưng điều này không phải lúc
nào cũng đúng. Hơn nữa, ngay cả khi điều này là đúng trên toàn bộ thị trường, thì vẫn
tồn tại một số ngành nhất định có thể có thu nhập và cổ tức tạo ảnh hưởng tích cực
từ những biến động về lạm phát và lãi suất. Trong trường hợp này, giá cổ phiếu có
mối quan hệ tốt với lạm phát và lãi suất.
Giá cả hàng hoá (lạm phát), Lịch sử thị trường chứng khoán Mỹ đã cung cấp
nhiều thông tin về sự bất cập của giá chứng khoán trong mối quan hệ với giá hàng
hoá. Từ năm 1923 tới 1929 là một giai đoạn đáng ghi nhớ khi giá bán buôn ổn định và
giá hàng hoá có xu hướng giảm nhẹ. Tuy nhiên, trong thời kỳ đó, giá chứng khoán theo
thống kê tăng vọt phổ biến trên các thị trường đầu cơ giá lên. Ngược lại, giá hàng hoá
tăng vào năm 1940, 1941, và 1942, nhưng giá cổ phiếu lại hạ. Vào mùa xuân năm 1946,
việc kiểm soát giá hàng hoá đã bị bãi bỏ, và lạm phát về giá hàng hoá đã lên tới đỉnh
điểm cho đến hết năm và tiếp tục tăng cho đến đến giữa năm 1948, giá cả tăng đều
trong hai năm. Giá cổ phiếu bắt đầu biến động gần như vào đúng ngày giá hàng hoá
bắt đầu tăng vào năm 1946; giá cổ phiếu giảm mạnh từ tháng 8 cho tới cuối năm. Nói
cách khác, giá chứng khoán sụp đổ vào năm 1946 đúng vào thời điểm nguy cơ lạm phát
tăng mạnh nhất do ảnh hưởng của Chiến tranh thế giới lần thứ II.
Sự không nhất quán trong các phản ứng của giá cổ phiếu trước sự thay đổi giá
hàng hoá đã làm nhà phân tích ngày càng chán nản bởi vì giá cổ phiếu trước đây
thường có xu hướng biến động trước khi giá hàng hoá biến động tới vài tháng. Do
vậy, dường như giá hàng hoá với tư cách là một chỉ số của giá chứng khoán tỏ ra
không đáng tin cậy và có lẽ là không có giá trị.
Các yếu tố kinh tế khác
Trong những năm gần đây, các chỉ số hàng đầu thường được các nhà dự báo
chứng khoán nhắc tới bao gồm số liệu về việc làm, những thay đổi về hàng tồn kho,
và những biến động về lượng cung tiền. Lãi suất cơ bản (thường là lãi suất trái phiếu
chính phủ) trong những năm gần đây đã thu hút sự chú ý đáng kể cho dù từ lâu nó chỉ
được coi là một nhân tố không đáng kể chứ không phải là nhân tố hàng đầu. Bởi vì giá
chứng khoán là một trong những chỉ số được coi trọng nhất trong 12 chỉ số hàng đầu,
nên các nhà dự báo cho rằng tốt nhất nên dự tính lãi suất cơ bản theo giá chứng khoán
hơn là dự đoán giá chứng khoán theo những thay đổi của lãi suất cơ bản.
Các chỉ số quan trọng khác bao gồm vốn vay liên ngân hàng, các khoản vay
thương mại và dịch vụ, giao dịch vốn trên thị trường tiền tệ, và các số liệu về giao
dịch và thanh toán của quỹ tương hỗ.
2. Nhóm yếu tố phi kinh tế
Nhóm nhân tố ảnh hưởng chủ yếu tiếp theo là những yếu tố phi kinh tế, bao
gồm sự thay đổi về các điều kiện chính trị, ví dụ chiến tranh hoặc thay đổi cơ cấu
Chính phủ, thay đổi về thời tiết và những nhân tố tự nhiên khác, và thay đổi về điều
kiện văn hoá, như tiến bộ về công nghệ v.v Tuy nhiên, những yếu tố này chỉ có ảnh
hưởng lớn đối với giá chứng khoán ở những nước có nền kinh thế thị trường phát
triển, thị trường sẽ đánh giá những chính sách này. Trong điều kiện Việt Nam, nền
chính trị ổn định, mặt khác thị trường chứng khoán còn chưa phát triển, thì yếu tố này
ít có tác động.
3. Nhóm yếu tố thị trường
Các yếu tố thị trường, là những nhân tố bên trong của thị trường, bao gồm sự
biến động thị trường và mối quan hệ cung cầu có thể được coi là nhóm yếu tố thứ ba
tác động tới giá cổ phiếu. Sự biến động thị trường là một hiện tượng chờ đợi thái quá
từ việc dự tính quá cao giá trị thực chất của cổ phiếu khi giá cổ phiếu cao nhờ sự phát
đạt của công ty, và ngược lại do dự đoán thấp giá trị tại thời điểm thị trường đi
xuống. Mối quan hệ giữa cung và cầu được trực tiếp phản ánh thông qua khối lượng
giao dịch trên thị trường, hoạt động của những nhà đầu tư có tổ chức, giao dịch ký quỹ
v.v cũng có ảnh hưởng đáng kể. Mặc dù số lượng giao dịch ký quỹ tăng khi mà giá cổ
phiếu tăng, nhưng một khi giá cổ phiếu giảm số lượng cổ phiếu bán ra tăng và làm
cho giá càng giảm.
Như vậy, dao động giá cổ phiếu bị ảnh hưởng bởi sự kết hợp của nhiều nhân
tố khác nhau, hạt nhân chính là các yếu tố về khả năng thu nhập công ty.
Đối với TTCK Việt Nam, theo quan điểm cá nhân của tác giả bài viết này, thì
giá cổ phiếu của công ty niêm yết về cơ bản cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố nói
trên nhưng mức độ không rõ ràng. Có thể thống kê những yếu tố chủ yếu sau:
Yếu tố tâm lý “bầy đàn”, thuộc nhóm yếu tố thị trường nói ở trên, thể hiện
tương đối rõ nét nhất là ở trong giai đoạn đầu thị trường mới thành lập. Bạn có thể
thấy rõ hiện tượng này qua biểu hiện giá của đa số các cổ phiếu đều lên hoặc đều
xuống, giá cổ phiếu biến động tăng /giảm không phản ánh tình hình hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty, mà chủ yếu do yếu tố tâm lý của người đầu tư trên thị
trường. Sau này mới có sự phân hoá về biến động giá giữa các loại cổ phiếu khác
nhau, tuy nhiên, hiện nay yếu tố này vẫn chiếm xu thế chủ đạo.
Thu nhập công ty, yếu tố này có tác động tương đối rõ rệt tới giá cổ phiếu,
chẳng hạn vừa qua giá cổ phiếu của CTCP Chế biến hàng xuất khẩu Long An tăng
“kịch trần” nhiều phiên bởi Công ty công bố lợi nhuận sau thuế quý III /2004 đạt 8, 6
tỷ đồng tăng hơn 140% so với cùng kỳ năm trước.
Ngoài những yếu tố nói trên, có thể tính đến các yếu tố khác như mức trả cổ
tức, thông tin mua bán cổ phiếu của các thành viên trong ban lãnh đạo công ty, thông
tin tách gộp cổ phiếu, thông tin về việc phát hành thêm cổ phiếu, tin đồn…Những
người đầu tư chuyên nghiệp hơn có thể còn tìm hiểu các thông tin liên quan đến chính
sách của Chính phủ đối với thị trường chứng khoán, chính sách cổ phần hoá DNNN,
tình hình quản trị của công ty niêm yết, tên tuổi của CTCK bảo lãnh phát hành hay tư
vấn niêm yết cho công ty niêm yết.
Để kết thúc bài viết này, tác giả cho rằng lời khuyên sau đây của các nhà đầu
tư nổi tiếng trên thị trường chứng khoán thế giới đáng để bạn quan tâm, đó là từng nhà
đầu tư cần phải có những phân tích, suy xét của riêng mình trước khi đưa ra quyết
định mua hay bán, tránh bị ảnh hưởng bởi những trào lưu tâm lý trên thị trường. Có
như vậy thì từng nhà đầu tư mới có thể tìm kiếm được cho mình những cơ hội đầu tư
sinh lời bất kể tình hình giá cả thị trường biến động lên hay xuống. Chúc bạn thành
công.
TOQUO




Xin hướng dẫn cho tôi biết các bước để tham gia giao dịch tại TTCK
Việt Nam?


Trả lời:
Để tham gia giao dịch mua, bán chứng khoán trên TTCK Việt Nam bạn cần đến
công ty chứng khoán để làm thủ tục mở tài khoản giao dịch chứng khoán. Khách hàng
và công ty chứng khoán sẽ ký hợp đồng mở tài khoản và mỗi khách hàng sẽ được công
ty chứng khoán mở một tài khoản riêng để theo dõi tiền và chứng khoán của khách
hàng. Để mua chứng khoán bạn phải có tiền hoặc để bán chứng khoán bạn phải có
chứng khoán trong tài khoản này. Vì vậy, bạn phải gửi tiền vào tài khoản đó hoặc nếu
đã có chứng khoán thì bạn phải gửi chứng khoán cho công ty chứng khoán nơi bạn đã
mở tài khoản. Sau đó, bạn có thể thực hiện giao dịch (mua/bán) chứng khoán trên tài
khoản của mình thông qua công ty chứng khoán bằng việc viết phiếu lệnh và chuyển
cho công ty chứng khoán nhập lệnh vào hệ thống giao dịch. Kết thúc phiên giao dịch
công ty chứng khoán sẽ thông báo kết quả giao dịch cho bạn.
Để biết thêm chi tiết bạn có thể liên hệ trực tiếp với bộ phận môi giới của các
công ty chứng khoán.

Xin cho biết ngày giao dịch không hưởng cổ tức là gì?


Ngày giao dịch không hưởng cổ tức là ngày mà nếu cổ phiếu được giao dịch (mua/bán)
vào ngày đó thì người mua (người sở hữu) sẽ không được hưởng cổ tức. Cổ tức sẽ
được trả cho người có tên trong danh sách hưởng cổ tức sở hữu cổ phiếu đó được lập
vào ngày đăng ký cuối cùng.



Tôi xin hỏi về bản chất quỹ thành viên?, Tôi thấy người ta hay nói về
Muatual Fund?


Quỹ đầu tư chứng khoán là một công cụ huy động vốn và đầu tư rất hiệu quả trên các
thị trường vốn. Về cơ bản, Quỹ đầu tư chứng khoán có hai dạng chính như sau:

+ Các quỹ công chúng:
Đây còn gọi là quỹ đầu tư tập thể, là những quỹ đầu tư được hình thành từ
vốn góp của rất nhiều nhà đầu tư và uỷ thác cho một công ty quản lý quỹ để thực
hiện các hoạt động đầu tư của quỹ. Thuật ngữ Muatual Fund có nghĩa là quỹ tương
hỗ, thuật ngữ này được dùng rất nhiều ở Mỹ, nơi có hệ thống các quỹ đầu tư rất phát
triển. Thuật ngữ này cũng là một cách gọi đối với các quỹ công chúng.

Việc huy động vốn của các quỹ này được thực hiện thông qua những đợt phát hành
chứng chỉ quỹ ra công chúng. Khi tham gia vào các quỹ công chúng, các nhà đầu tư
được hưởng các lợi ích sau:
- Được hưởng lợi từ việc đầu tư đa dạng hoá, nhờ đó, giảm thiểu các rủi ro
không không hệ thống.
- Được hưởng lợi nhờ giảm thiểu các chi phí đầu tư do quy mô đầu tư của các
quỹ thường lớn.
- Vốn của các nhà đầu tư được quản lý bởi các chuyên gia đầu tư có chuyên
môn và giàu kinh nghiệm của một công ty quản lý quỹ.
- Các chứng chỉ quỹ cũng có tính thanh khoản như một loại cổ phiếu, nhờ đó,
các nhà đầu tư có thể dễ dàng bán các chứng chỉ quỹ khi cần thiết.

Do nguồn vốn của quỹ công chúng được huy động từ nhiều nhà đầu tư nên hoạt
động đầu tư của quỹ công chúng phải tuân thủ rất nhiều hạn chế nghiêm ngặt của
pháp luật. Công ty quản lý quỹ thực hiện quản lý cũng phải tuân thủ rất nhiều điều
kiện khắt khe trong hoạt động quản lý các quỹ này. Mục đích của các hạn chế trên là
nhằm đảm bảo sự an toàn cho Quỹ đầu tư chứng khoán, bảo vệ lợi ích hợp pháp và
chính đáng của các nhà đầu tư.

+ Các quỹ thành viên, hay còn gọi là các quỹ đầu tư tư nhân.

Về bản chất, Quỹ thành viên là một dạng Quỹ đầu tư chứng khoán, tuy nhiên,
quỹ này chỉ giới hạn ở một số ít nhà đầu tư tham gia góp vốn.

Mục tiêu chủ yếu của việc thành lập các Quỹ thành viên là để thực hiện các
hoạt động đầu tư có tính chất tương đối mạo hiểm. Các hoạt động đầu tư này có thể
mạng lại những khoản lợi nhuận tiềm năng rất cao cho các nhà đầu tư, tuy nhiên rủi
ro cũng rất lớn.

Với tính chất rủi ro như vậy, các quỹ thành viên không phù hợp với việc huy
động vốn từ công chúng. Quy mô và phạm vi huy động vốn của quỹ chỉ tập trung vào
một số ít nhà đầu tư lớn, có tiềm lực tài chính và có khả năng chấp nhận những rủi ro
cao trong hoạt động đầu tư. Chính vì vậy, để tham gia vào quỹ thành viên, các nhà đầu
tư phải đạt được những điều kiện nhất định do pháp luật đặt ra.
Với tính chất và mục tiêu đầu tư như trên, các quỹ thành viên thường không
phải chịu các hạn chế như quỹ công chúng.
Hiện tại, hầu hết các nước có thị trường chứng khoán phát triển đều có hình
thức quỹ đầu tư này.




Điều kiện để thị trường chứng khoán hoạt động tốt?



Thị trường chứng khoán được xem là hoạt động tốt và hiệu quả nếu như việc
mua bán chứng khoán trên thị trường diễn ra thuận lợi, cung cấp cho nhà đầu tư một
cơ chế giao dịch thuận tiện, an toàn, công khai, công bằng và minh bạch, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho nhà đầu tư. Hay nói khác, thị trường chứng khoán được
xem là hoạt động tốt nếu như nó tạo ra tính thanh khoản cao cho các chứng khoán giao
dịch, cung cấp đầy đủ thông tin cho nhà đầu tư và các đối tượng tham gia thị trường,
qua đó hình thành nên giá chứng khoán hợp lý, tạo được niềm tin của công chúng vào
thị trường chứng khoán.
Vì vậy, để có thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả thì phải có một số
điều kiện căn bản sau:
Về yếu tỗ vĩ mô: Sự ổn định môi trường chính trị và kinh tế vĩ mô nhằm
khuyến khích đầu tư và tiết kiệm của công chúng; mức độ lạm phát được kiềm chế
vừa đủ để duy trì nền kinh tế phát triển; mức thâm hụt ngân sách trong giới hạn an
toàn, các chiến lược phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo và tạo công ăn việc làm
được thực hiện có hiệu quả.
Về yếu tố vi mô, đó là:
Khung pháp lý hoàn chỉnh và đồng bộ với hệ thống các văn bản pháp quy đầy
đủ, rõ ràng, điều chỉnh các mặt hoạt động của thị trường chứng khoán giúp cho thị
trường hoạt động an toàn, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể
tham gia thị trường.
Mạng lưới các trung gian hoạt động trên thị trường chứng khoán như các công
ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư… vv, đóng vai trò cầu nối giữa các nhà
đầu tư thực hiện nghiệp vụ môi giới mua bán chứng khoán trên thị trường tập trung,
cung cấp các dịch vụ hỗ trợ khác cho các nhà đầu tư như cho vay, cung cấp thông tin
và các dịch vụ liên quan đến giao dịch chứng khoán cho nhà đầu tư như tư vấn đầu tư
chứng khoán, tham gia bảo lãnh phát hành và tư vấn cho các công ty trong việc niêm
yết.
Cung cấp một cơ chế giao dịch hiệu quả thông qua tổ chức, vận hành của
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, Sở Giao dịch Chứng khoán gồm hệ thống giao
dịch, giám sát, công bố thông tin, hệ thống lưu ký, thanh toán bù trừ…vv. Sự vận hành
của các hệ thống này có những ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của thị trường thông
qua năng lực xử lý nhanh, chính xác các giao dịch trên thị trường, giúp tăng tốc độ luân
chuyển vốn trên thị trường.
Các tổ chức hỗ trợ phát triển thị trường, như các định chế trung gian khác là tổ
chức định mức tín nhiệm, tổ chức kiểm toán, tư vấn, tổ chức lưu ký, ngân hàng thanh
toán…vv. Ngoài ra thị trường cần đến sự tham gia của các nhà đầu tư chuyên nghiệp
đóng vai trò dẫn dắt thị trường, can thiệp thị trường vào những thời điểm mất cân đối
quan hệ cung cầu.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản