Các câu hỏi về Lịch sử

Chia sẻ: Đinh Như Nguyệt | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:55

0
541
lượt xem
145
download

Các câu hỏi về Lịch sử

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Triều đại nhà Hồ kéo dài bao lâu? Theo bạn điều gì là đáng ghi nhận nhất trong khoảng thời gian tồn tại ngắn ngủi của Vương triều này?

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Các câu hỏi về Lịch sử

  1. II. LỊCH SỬ Câu 1: Từ trước đến nay Đà Nẵng có bao nhiêu tên gọi, giải thích ý nghĩa của tên gọi qua các thời kỳ? Gợi ý trả lời:  + Đà Nẵng: Có nhiều cách giải thích nhưng tựu trung theo ngôn ngữ Chăm thì Đà nẵng có nghĩa là “ sông lớn”   hay “cửa sông Cái”. Trong tập Đà Nẵng bước vào thế kỷ 21(NXB Văn Nghệ TPHCM – 2000), nhà nghiên cứu   Nguyễn Sinh Duy khi viết về vùng đất này đã lập luận rằng: “Đây là ngã tư quốc tế của vùng cực Đông đồng   thời là trọng điểm giao lưu văn hóa giữa 2 luồng văn minh Ấn Độ và Trung Hoa, trong đó hệ thống địa danh là   dấu ấn lâu đời giúp soi sáng quá trình hình thành một xứ sở về mặt ngôn ngữ, địa lý, cơ cấu xã hội … qua các   thời kỳ lịch sử.  Địa danh  Đà  Nẵng hình thành cũng không ngoài quy luật giao thoa các ngôn ngữ  Ấn – Hoa,   trong đó từ nguyên, ngữ nghĩa Phạn – Hán không thể không xét đến. Dải đất nằm bên tả ngạn sông Hàn đối  diện với bán đảo Sơn Trà ngày nay, trong thời thịnh vượng của người Chăm ngự trị châu Amaravâti, có tên là   Hãng Danak. Hãng có nghĩa là dải đất do biển rút cạn để lộ ra; Danak có nghĩa là cửa sông tiếp giáp biển + Hàn: nguyên là âm Hán Việt của Chăm ngữ “ Hãng” có nghĩa là dải đất do biển rút để lộ ra.  ự  giải thích này trở  nên hữu lý  khi ta nhớ  rằng, mãi  đế`những những năm cuối 80 của thế  kỷ  19 , khâm sứ  Pháp Baille đã mô tả: Đà nẵng cát là cát vẫn còn đó… và người ta đi qua đấy bị chôn lún xuống cát đến nửa   giờ, suốt chiều dài của đụn cát đấy, nung nấu dưới ánh mặt trời, thành phố nhỏ bắt đầu khai sinh. + Cửa Hàn: Trong tập lịch sử thành phố Đà Nẵng ( Nhà xuất bản Đà Nẵng­2001) có cho biết :  ịa danh Cửa Hàn không những  được lưu truyền rộng rãi trong dân gian,  đồng thời cũng  được người châu  Âu   nhắc  đến từ  rất sơm. Cố  đạo Buzomi  đến  Đàng Trong vào năm 1615 và dịp lễ  Pâques năm  ấy  ông lập một   nhà  thờ  tại một nơi  được ghi là  Kean,  địa danh này cũng  được ghi lại trên tấm bản  đồ  nổi tiếng của cố  Alexandre de Rhodes vẽ năm 1666, nằm ở vị trí chân đèo hải Vân.  + Kean: tên gọi này bắt nguồn từ cách gọi khá phổ biến đương thời (theo lối ở Đàng Ngoài),  hững nơi tập trung dân cư gọi là Kẻ (kẻ CChợ); Kean có nghĩa là Kẻ Hàn. Như vậy Kean là hình thức diễn âm  theo nghĩa của người ở đất Hàn.  + Tourance: Như  chúng ta  đã  biết,  Đà  Nẵng nằm trên tả  ngạn sông Hàn kề  bên cửa biển hiểm yếu, vì  vậy  chức quan giữ cửa biển được gọi là Thủ – Hàn ta có thể hiểulà giám thủ cửa sông Hàn. Từ thế kỷ 16 khi người   châu Âu sang đây họ gọi Thủ Hàn là Touron và dần dần gọi trại thành Tourane(?). Nhưng cũng có thuyết cho   rằng, do khi sang đây thấy một cái tháp (tour) trên cửa Hàn nên họ gọi Tourane(?) ; hoặc giả thuyết khác lại   nói Tourane là do viết nhầm từ tên làng Thạc Gián mà ra vì 2 chữ Tu và Thạc viết giống nhau, nên từ Tu Gián   mà biến thành Tourane(?); lại có người lập luận người miền Nam Trung Hoa đã phát âm Đà Nẵng là Tu Ran,  Turam, Tourane … (?) Trên tạp chí  phổ  thông số  87 (phát hành tại miền Nam trước năm 1975),  ông Japa   Panrang khi bàn về “Việt mang âm hưởng Chàm” ngoài việc đồng ý cụm từ Hang DaNak là nguồn gốc của địa  danh Đà Nẵng, thì ông còn cho biết DaNak cũng có một cách viết khác là Durak (có nghĩa là biển là chợ) và  lập luận rằng: “ Danh xưng Hàn do tiếng Hang của Chàm, Đà nẵng do tiếng Đanak và Tourane do tiếng Darak   hay Durak mà ra. Nhìn chung tất cả các sự giải thích trên vẫn chưa có sự thống nhất .   Câu 2: Đường Trường Sơn có  ý nghĩa như thế  nào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ? Nó còn có những tên  gọi nào? Năm nào được coi là mốc chính thức khai sinh con đường này? Gợi ý trả lời: Đường Trường Sơn hay đường mòn Hồ Chí Minh là mạng lưới giao thông quân sự chiến lược chạy   từ lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào tới lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa, đi qua miền Trung Việt Nam, hạ   Lào, và Campuchia. Hệ thống này cung cấp binh lực, lương thực và vũ khí khí tài để  chi viện cho Quân Giải   phóng miền Nam và  Quân  đội Nhân dân Việt Nam trong 16 năm (1959–1975) của thời kỳ  Chiến tranh Việt  Nam. Binh  đoàn Trường Sơn (đoàn 559) Quân  đội Nhân dân Việt Nam là   đơn vị  triển khai các  đơn vị  công  binh, hậu cần, y tế, bộ binh và phòng không để đảm bảo hoạt động của hệ thống đường này. Đường Trường  sơn còn được những người lính trong cuộc chiến gọi là tuyến lửa. Ở Việt Nam, hệ thống đường này đặt tên là Đường Trường Sơn, lấy tên của dãy Trường Sơn – 
  2. dãy núi chạy dọc miền Trung Việt Nam, nơi hệ thống này đi qua. Về sau, hệ thống này có thêm tên gọi Đường   mòn   Hồ   Chí   Minh,   tên   gọi   này   (Ho   Chi   Minh   trail)   có   nguồn   gốc   từ   Mỹ.   [1] Trong Chiến tranh Việt Nam, lực lượng quân sự Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã đánh phá hệ thống giao thông  này bằng các chiến dịch bộ binh và không quân. Một hệ thống máy móc điện tử, thường được gọi là Hàng rào   Điện tử McNamara, đã được sử dụng để giúp hướng dẫn máy bay ném bom. Ngoài ra, chất độc màu da cam   cùng một số loại chất độc diệt cỏ khác đã được rải xuống nhiều vùng rừng trên đường Trường Sơn làm trụi lá   cây, các dự án tạo mưa và các chất hóa học tạo bùn cũng được Mỹ sử dụng để phá đường. Ngày nay, tuyến tây Trường Sơn (địa phận Lào) nhiều nơi  đã  thành vùng bỏ  hoang, một vài  điểm  được xây   dựng trở  thành di tích lịch sử. Năm 2000,  Đường Hồ Chí Minh, con  đường xuyên Việt thứ hai sau Quốc lộ  1,  bắt   đầu   được   xây   dựng   trên   tuyến   đông   Trường   Sơn. Một số phần của Đường Trường Sơn vốn đã tồn tại từ hàng thế kỷ dưới hình thức các con đường mòn sơ khai   dành cho việc giao thông buôn bán trong vùng. Khu vực mà hệ thống đi qua đã là một trong những vùng đất   địa hình hiểm trở  nhất  Đông Nam  Á: núi cao,  ít dân, rừng rậm nhiệt  đới. Trong những năm  đầu của Chiến  tranh  Đông Dương, Việt Minh  đã  sử  dụng hệ  thống  đường mòn này làm  đường nối liền Bắc Nam, một trong   các tuyến  đường  đưa cán bộ  di chuyển giữa hai miền  để  tránh sự  truy quét của quân Pháp. Tháng 5 năm   1958, các lực lượng thuộc Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) và Pathet Lào đã chiếm giữ các nút giao   thông tại Sê­pôn (Tchepone), trên đường 9 thuộc địa phận Lào.[2] Sau khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa ra đời, dưới sự hậu thuẫn của Mỹ, đã phủ nhận Hiệp định Genève về   Việt Nam năm 1954, chia cắt  đất nước.  Để  tiếp tục chi viện cho những người Cộng sản miền Nam, chính   quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quyết định xây dựng những con đường chiến lược. Trên cơ sở đó đã có  2 tuyến đường được xem xét là tuyến đường bộ qua dãy Trường Sơn và tuyến đường biển trên biển Đông. Năm 1959, khi xung đột quân sự lên cao giữa Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và chính phủ   Ngô  Đình Diệm, chính phủ  Hà Nội gửi  Đoàn 559 mới  được thành lập vào tháng 9 vào Nam  để  xây dựng hệ   thống  đường Trường Sơn với lực lượng gồm một tiểu  đoàn giao liên D301 với 440 người.  Đoàn trưởng là   Thượng tá (sau là Thiếu tướng) Võ Bẩm.  Đoàn có nhiệm vụ  vừa vận chuyển vừa mở  đường hành quân. Với   phương châm “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”  để   đảm bảo bí  mật tối  đa, toàn bộ  vũ  khí và  hàng mang theo đều là các loại cũ từ thời Pháp, thậm chí đoàn còn dùng ván gỗ để khi đi không để lại dấu vết   trên đất rừng. Sau  đó,  đoàn 559 chuyển các tuyến giao thông của mình sang sườn Tây của dãy Trường Sơn.[3] Một năm   sau,  đoàn 559  đã  đạt được quân số 6.000 người với hai trung  đoàn 70 và 71.[4] Con số  này không bao gồm   các lực lượng chiến đấu với nhiệm vụ bảo vệ hay dân công Việt và Lào. Trong những ngày đầu của cuộc xung  đột,  đường Trường Sơn chỉ   được dùng  để  chuyển quân, do khi  đó  việc vận chuyển súng  đạn vào Nam qua   đường biển có hiệu quả cao hơn.[5] Sau các cố  gắng của hải quân Mỹ nhằm ngăn chặn hoạt  động này trên   vùng biển ven bờ Chiến dịch Market Time, đường Trường Sơn phải làm cả hai nhiệm vụ. Hàng chuyển vào từ   miền Bắc được lưu trong các kho tàng dọc theo biên giới mà sau được gọi là các “Khu căn cứ”, những nơi này  đến lượt nó lại trở  thành các thánh  địa cho các lực lượng Quân giải phóng và Quân  đội Nhân dân Việt Nam  dưỡng quân và tái trang bị sau khi thực hiện các hoạt động quân sự bên trong lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa. Có 5 khu căn cứ lớn trong vùng cán xoong của Lào (xem bản đồ). Căn cứ 604 là trung tâm hậu cần chính; từ  đó, quân và quân nhu được điều phối vào Vùng 1 chiến thuật của Việt Nam Cộng hòa và các căn cứ khác xa   hơn ở phía Nam. Căn cứ 611 hỗ trợ vận tải từ căn cứ 604 tới căn cứ 609; cung cấp xăng dầu và đạn dược cho   căn cứ 607 và tới tận thung lũng A Sầu  ở  Thừa Thiên. Căn cứ  612  được dành  để  hỗ  trợ Mặt trận B3 tại Tây  Nguyên. Căn cứ 614 nằm giữa Chavane (Lào) và Khâm Đức (Nam Việt Nam) vận chuyển quân và hàng hóa  vào Vùng 2 chiến thuật và Mặt trận B3. Căn cứ 609 giữ vai trò quan trọng, do mạng lưới đường ở  đây có thể   dùng  để  vận chuyển quân nhu trong mùa mưa.[6] Ban  đầu, hàng hóa  được vận chuyển bằng xe  đạp thồ, xe  bò. Đến tháng 12 năm 1961, Đoàn vận tải 3 của Cục Hậu cần đã trở thành đơn vị vận tải cơ giới đầu tiên của  QĐNDVN phục vụ trên đường Trường Sơn. Từ đây, vận tải cơ giới tăng lên nhanh chóng.[7] Các khu căn cứ trên lãnh thổ Lào
  3. Có hai loại đơn vị thuộc Đoàn 559, các binh trạm và các đơn vị giao liên. Một binh trạm tương đương với một   trung tâm hậu cần cấp trung đoàn, có trách nhiệm bảo vệ một đoạn đường. Trong khi các đơn vị độc lập chịu  trách nhiệm an ninh, công binh, và các chức năng  đánh tín hiệu, binh trạm cung cấp các nhu yếu phẩm hậu   cần. Các trạm giao liên thường đóng cách nhau một ngày  đường đi bộ, có trách nhiệm cung cấp lương thực,  chỗ trú, y tế, và dẫn đường tới trạm tiếp theo. Đến tháng 4 năm 1965, chỉ huy Đoàn 559 là Tướng Phan Trọng   Tuệ, quân số gồm 24.000 người trong 6 tiểu đoàn vận tải bằng xe tải, 2 tiểu đoàn vận tải xe đạp thồ, một tiểu  đoàn vận tải đường thủy, 8 tiểu đoàn công binh, và 45 trạm giao liên. Khẩu hiệu của Đoàn 559 khi đó là “Đánh  địch mà tiến, mở đường mà đi.”[8] Hệ thống đường Trường Sơn phát triển thành một mạng lưới phức tạp của các con đường đất (một số nơi rải   đá hoặc lót ván gỗ) rộng khoảng 5,5 m, đường cho người đi bộ và xe đạp thồ, bãi đỗ xe tải. Còn có kho chứa,  bãi chứa hàng, doanh trại, bệnh viện, và các cơ sở vật chất khác. Tất cả được che dấu khỏi quan sát từ  trên   không bằng một hệ thống ngụy trang tự nhiên và nhân tạo không ngừng được mở rộng và củng cố. Thời tiết  ở  vùng  Đông Nam Lào  đóng vai trò  quan trọng cả  trong nỗ  lực hậu cần và  cả  trong cố  gắng của   Mỹ/Việt Nam Cộng hòa nhằm phá  đường. Mùa mưa kéo dài từ  tháng 5  đến tháng 9, trong thời gian này, trời   luôn nhiều mây, mưa nhiều, nhiệt độ cao. Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3, khí hậu tương đối khô hơn  và nhiệt độ thấp hơn. Do mạng lưới đường chủ yếu là đường đất, khối lượng vận chuyển chủ yếu (và các hoạt   động quân sự mà nó hỗ trợ) được thực hiện vào mùa khô. Về sau, hệ thống đường được bổ sung bởi vận tải   đường   sông,   kiểu   vận   tải   này   cho   phép  chuyển  các  khối  lượng  lớn  quân  nhu  ngay  cả   trong  mùa  mưa. Tổng kết: Tính  đến ngày Việt Nam thống nhất,  đường Trường Sơn  đã  tồn tại gần 6000 ngày  đêm. Các lực lượng công  binh, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến Trường Sơn gồm khoảng 120.000 người đã làm nên mạng  đường liên hoàn, vững chắc với 5 hệ  thống  đường trục dọc, 21  đường trục ngang, nối  Đông với Tây Trường  Sơn, vươn tới các chiến trường, với tổng chiều dài gần 2 vạn km đường  ô tô, 1.400 km  đường ống dẫn x ǎng  dầu, 3.140 km “đường kín” cho xe chạy ban ngày và hàng ngàn cầu, cống, ngầm. Trong các chiến dịch  đánh phá từ  năm 1965  đến năm 1972, Mỹ   đã  huy  động khoảng 733.000 chuyến máy   bay,  đánh phá khoảng 152.000 trận; ném xuống các tuyến đường Trường Sơn gần 4 triệu tấn bom  đạn. Hơn  20.000 bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân giao thông đã hy sinh; hơn ba vạn người bị thương, khoảng   14.500 xe – máy các loại, hơn 700 khẩu súng pháo bị hư hỏng; hơn 90.000 tấn hàng hoá bị đánh cháy… Trong 16 năm, hệ thống hậu cần đường Trường Sơn đã chuyển được hơn một triệu tấn hàng, vũ khí vào cho  các chiến trường, bảo  đảm chỉ  huy hành quân cho hơn hai triệu lượt người vào chiến trường hoặc từ  chiến   trường ra Bắc; vận chuyển cơ động 10 lượt sư đoàn, 3 quân đoàn, hộ tống 90 đơn vị binh chủng kỹ thuật vào   chiến trường.   Câu 3: Hãy giới thiệu hoàn cảnh ra đời và vai trò lịch sử của những bản tuyên ngôn độc lập trong lịch sử Việt  Nam. Gợi   ý   trả   lời:   Sử   học   Việt   Nam   hiện   nay   coi   là   Việt   Nam   có   cả   thảy   3   bản   tuyên   ngôn   độc   lập: 1. Bài thơ  Nam quốc sơn hà: tương truyền Lý Thường Kiệt ra lệnh cho quân sĩ  giấu mình trong  đền thờ  bên   phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu), ngâm thơ vang vọng như lời sấm truyền của thần linh, nhằm mục  đích khẳng định chủ quyền dân tộc, khích lệ ba quân tướng sĩ và uy hiếp tinh thần giặc Tống.  2. Bình Ngô đại cáo: Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo thay lời Bình Định vương Lê Lợi năm Đinh Mùi (1427),  tuyên bố bình định giặc Minh, giành lại độc lập cho dân tộc. Về mặt văn chương, tác phẩm được người đương   thời, ngay cả hậu thế, đều rất thán phục và coi là thiên cổ hùng văn. Có nhiều ý kiến cho rằng: đây được coi là   bản tuyên ngôn độc lập thứ 2 của Việt Nam (sau bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt và trước bản Tuyên ngôn   độc lập năm 1945 của Hồ Chí Minh). 3. Bản tuyên ngôn độc lập do Hồ Chí Minh viết, sau đó đọc tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, ngày 2 tháng 9  năm 1945, tuyên bố Việt Nam độc lập, thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp, phát xít Nhật, thành lập nước   Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 
  4. Câu 4: Hãy trình bày khái quát những mốc thời gian và sự kiện đáng nhớ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ từ  năm 1954 đến năm 1975. Gợi ý trả lời:  +  Hiệp  định Giơnevơ(21/07/1954)  bao  gồm các văn bản : hiệp  định  đình chỉ  chiến sự   ở  Việt Nam, Lào,  Campuchia;   bản   tuyên   bố   cuối   cùng   của   hội   nghị   và   các   phụ   bản   khác. +   Hoàn   thành   cải   cách   ruộng   đất,   khôi   phục   kinh   tế,   hàn   gắn   vết   thương   chiến   tranh   (1954­1957). + Cải tạo quan hệ sản xuất bước đầu phát triển kinh tế­ xã hội (1958­1960). + Đấu tranh chống chế độ Mỹ – Diệm, gìn giữ và phát triển lực lượng CM (1954­1959) + Phong trào Đồng Khởi (1959­1960). + Đại hội đại biểu tòan quốc lần 3 của Đảng (tháng 9 ­1960). + Miền Bắc thực hiện hế hoạch nhà nước 5 năm (1961­1965). + Miền Nam chiến đấu chống chiến lược “ chiến tranh đặc biệt của Mỹ (1961­1965). + Chiến đấu chống chiến lược “ Chiến tranh cục bộ” của Mỹ (1965­1968). + Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. + Miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất chống chiến tranh phá hoại (1965­1968). + Chiến đấu chống chiến lược “ Việt Nam hóa chiến tranh, Đông Dương hóa chiến tranh của Mỹ” (1969­1971). + Cuộc tiến công chiến lược năm 1972. +   Đấu   tranh   đòi   Mỹ   xuống   thang   chiến   tranhvà   thương   lương   ở   hội   nghị   Paris   (1965­1969). + Ký hiệp định Paris 1973. + Cuộc tổng tiến công nổi dậy Xuân 1975.   Câu 5: Triều đại nhà Hồ kéo dài bao lâu? Theo bạn điều gì là đáng ghi nhận nhất trong khoảng thời gian tồn   tại ngắn ngủi của Vương triều này? Gợi ý trả lời: Nhà Hồ là triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi vua Hồ Quý Ly lên ngôi năm   1400 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Trần và chấm dứt khi vua Hồ Hán Thương bị quân Minh bắt vào  năm 1407 – tổng cộng là 7 năm. Quốc hiệu Đại Việt đã đổi thành Đại Ngu năm 1400. Công cuộc cải cách của nhà Hồ thực hiện chỉ  được trong thời gian quá ngắn ngủi. Cũng như nhiều cuộc cải   cách khác trong lịch sử, cuộc cải cách của Hồ Quý Ly vấp phải sự phản đối trong nước, nhưng không phải vì   vậy mà  nhìn nhận cuộc cải cách hoàn toàn tiêu cực. Như  trường hợp “Biến pháp Thương  Ưởng”  đời Chiến   quốc ở nước Tần trong lịch sử Trung Quốc, thời kỳ đầu cũng gây sốc mạnh trong xã hội nước Tần, nhưng sau   đó vẫn được duy trì và nhờ vậy mà nước Tần trở  thành một nước hùng mạnh, tạo tiền đề  cho sự thống nhất   toàn quốc. Sự phản ứng của dân chúng nước Tần cũng lắng dần theo thời gian. Vấn đề của cuộc cải cách nhà  Hồ là nó chưa đủ thời gian để phát huy tác dụng. Mặt khác, các nhà nghiên cứu hiện đại cho rằng các chính   sách cải cách đó chủ yếu phục vụ cho lợi ích chiến tranh; hơn thế nữa cuộc cải cách được thực hiện dồn dập  trong thời gian ngắn: dùng chữ Nôm  để  đề cao  ý thức dân tộc, dùng tiền giấy tuy tiết kiệm nhưng dân chúng  chưa thích nghi thói quen tiêu dùng mới, hạn điền và hạn nô làm giảm lợi ích của địa chủ, quý tộc cũ… Cuộc   cải cách gây xáo trộn lớn trong tâm lý mọi người và sự bất bình, chia rẽ sâu sắc trong xã hội. Sự bất bình còn   chưa kịp lắng xuống thì đã có bàn tay lớn thò vào cùng tiếng hô hào “lật đổ” khiến số đông người trong nước   Đại Ngu đồng tình. Tiền giấy được phát hành lần đầu tiên năm 1396 dưới thời vua Trần Thuận Tông, tuy nhiên người quyết định   khi đó có lẽ là Hồ Quý Ly. Sau này, trong thời đại của mình, nhà Hồ đã có một số cải cách về hành chính, kinh   tế, xã hội như: làm sổ hộ tịch, hạn chế gia nô, lập kho dự trữ thóc gạo, định lại quan chế và hình luật, thuế và   tô  ruộng, di dân khẩn hoang, lập cơ  quan chăm sóc y tế  v.v Tuy nhiên, các cải cách của nhà  Hồ  hầu như   không giành được thành công, do những thủ đoạn mà Hồ Quý Ly đã làm để lên ngôi khiến dân chúng xa lánh  nhà Hồ.  Hành chính
  5. Dưới triều Hồ  Hán Thương, năm 1401  đã  cho làm sổ  hộ  tịch trong cả  nước, lập phép hạn chế  gia nô. Năm   1403, di dân không có  ruộng  đến Thăng Hoa (vùng  đất mới thu  được sau khi Chiêm Thành dâng nộp năm  1402, gồm 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa tức là   đất các huyện Thăng Bình, Tam Kỳ, Quế  Sơn, Duy Xuyên  thuộc tỉnh Quảng Nam ngày nay, huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức,  Đức Phổ thuộc tỉnh Quảng  Ngãi ngày nay). Cùng năm đặt Quảng tế (cơ quan coi về mặt y tế). Luật pháp Cuối năm 1401, định quan chế và hình luật nhà nước Đại Ngu. Sử sách không nói rõ là nhà Hồ đã sửa đổi như   thế nào so với thời trước của nhà Trần. Kinh tế Năm 1396, tháng 4, bắt đầu phát tiền giấy Thông bảo hội sao. Cứ 1 quan tiền đồng đổi lấy 1 quan 2 tiền giấy.   Cấm tuyệt tiền đồng, không được chứa lén, tiêu vụng, tất cả thu hết về kho Ngao Trì ở kinh thành và trị sở các  xứ.   Kẻ   nào   vi   phạm   cũng   bị   trị   tội   như   làm   tiền   giả. Thể thức tiền giấy: tờ 10 đồng vẽ rồng, tờ 30 đồng vẽ sóng, tờ 1 tiền vẽ mây, tờ 2 tiền vẽ rùa, tờ 3 tiền vẽ lân,  tờ 5 tiền vẽ phượng, tờ 1 quan vẽ rồng. Kẻ làm tiền giả bị tội chết, ruộng đất, tài sản tịch thu.  Về việc này, nhiều sử gia có những  đánh giá rất khác nhau. Có người cho rằng Hồ Quý Ly cần thu  đồng  để  đúc vũ khí. Cũng có người đánh giá cao cải cách tiền giấy của Hồ Quý Ly tuy rằng nó đã thất bại. Sau này, Hồ  Nguyên   Trừng   là   một   chuyên   gia   rất   giỏi   trong   đúc   súng   thần   công. Việc  đổi tiền  được thực hiện trước khi nhà Hồ   được chính thức thành lập (1400). Về  mặt phân loại theo thời  gian, sự việc này đáng lẽ viết tại lịch sử nhà Trần, nhưng nó được chép lại ở đây là do nó có lẽ là một trong các  cải cách của Hồ Quý Ly. Năm 1400, đánh thuế thuyền buôn, định 3 mức thượng, trung, hạ. Mức thượng đánh thuế mỗi thuyền 5 quan,   mức trung 4 quan, mức hạ 3 quan. Năm 1402 định lại các lệ thuế và tô ruộng. Trước đây, mỗi mẫu thu 3 thăng   thóc, nay thu 5 thăng. Bãi dâu, trước thu mỗi mẫu 9 quan hoặc 7 quan tiền, nay thu hạng thượng  đẳng mỗi   mẫu 5 quan tiền giấy, hạng trung  đẳng mỗi mẫu 4 quan tiền giấy, hạng hạ   đẳng 3 quan tiền giấy. Tiền nộp  hằng năm của đinh nam trước thu 3 quan, nay chiếu theo số ruộng, người nào chỉ có 5 sào ruộng thì thu 5 tiền   giấy; từ 6 sào đến 1 mẫu thì thu 1 quan; 1,1 mẫu đến 2 mẫu thu 2 quan; từ 2,1 mẫu đến 2,5 mẫu thu 2 quan 6   tiền; từ  2,6 mẫu trở  lên thu 3 quan.  Đinh nam không có  ruộng hay trẻ  mồ  côi,  đàn bà góa thì  dẫu có  ruộng   cũng không thu. Như vậy, có thể thấy việc đánh thuế của nhà Hồ có sự phân biệt, phân loại rõ ràng hơn so với trước đây. Năm 1401, lập kho thường bình dự trữ thóc để ổn định kinh tế. Năm 1403, ban hành cân, thước, thưng, đấu, định giá tiền giấy, cho dân mua bán với nhau. Ngoại giao Quan hệ của nhà Hồ với nhà Minh ở Trung Quốc và Chiêm Thành lúc bấy giờ khá phức tạp. Nhà Minh sau khi   thống nhất Trung Quốc năm 1368 bắt đầu có ý định nhòm ngó xuống phương nam. Trên mặt trận này, nhà Hồ  đã phải nhún nhường hết mức, thậm chí năm 1405 đã phải cắt 59 thôn ở Lộc Châu (tỉnh Lạng Sơn ngày nay)   để  mong tránh được họa binh đao nhưng cuối cùng cũng không tránh khỏi họa xâm lăng của nhà Minh năm  1406. Đối với Chiêm Thành, quan hệ vẫn là giữa nước lớn (Đại Ngu) và nước nhỏ (Chiêm Thành). Trong suốt  thời kỳ  đầu (1400­1403) nhà Hồ  liên tục  đem quân tấn công Chiêm Thành và đã mở mang  được lãnh thổ  tới  tận tỉnh Quảng Ngãi ngày nay. Hệ thống thi cử Năm 1404, Hồ  Hán Thương  định thể  thức thi chọn nhân tài: Cứ tháng 8 năm trước thi hương, ai  đỗ  thì   được   miễn tuyển bổ; lại tháng 8 năm sau thi hội, ai đỗ thì thi bổ thái học sinh. Rồi năm sau nữa lại bắt đầu thi hương  như hai năm trước. Phép thi phỏng theo lối văn tự ba trường của nhà Nguyên nhưng chia làm 4 kỳ, lại có kỳ thi   viết chữ và thi toán, thành ra 5 kỳ. Quan nhân, người làm trò, kẻ phạm tội đều không được dự bổ. Việc thi cử   Đầu hổ bằng gốm dùng để trang trí trong thời nhà Hồ.
  6. Tháng 8 năm 1400, Hồ Quý Ly mở khoa thi thái học sinh. Lấy đỗ Lưu Thúc Kiệm, Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Vũ   Mộng Nguyên, Hoàng Hiến, Nguyễn Thành v.v gồm 20 người. Tháng 8 năm 1405, Hồ Hán Thương sai bộ Lễ   thi chọn nhân tài, đỗ được 170 người. Lấy Hồ Ngạn, Lê Củng Thần sung làm thái học sinh lý hành; Cù Xương   Triều và 5 người khác sung làm Tư Thiện đường học sinh.  Tôn giáo Nhà Hồ không tôn sùng đạo Phật như trước mà tôn trọng Nho giáo hơn. Cho nên năm 1396, theo lời Hồ Quý  Ly, vua Trần Thuận Tông đã xuống chiếu sa thải các tăng đạo chưa đến 50 tuổi trở xuống, bắt phải hoàn tục.   Lại thi những người thông hiểu kinh giáo, ai đỗ thì cho làm Đường đầu thủ (Tăng đường đầu mục), tri cung, tri  quán, tri tự, còn thì cho làm kẻ hầu của người tu hành.   Câu 6: Bạn hãy giới thiệu ba vị tướng nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam theo chủ quan của bạn. Hãy giải thích  sự lựa chọn của mình. Gợi ý trả lời: + Trần Thủ Độ (chữ Hán: +   T ; 1194­1264), là thái sư đầu triều nhà Trần, người có công sáng lập và là người  thực tế nắm quyền lãnh đạo đất nước những năm đầu triều Trần, khoảng gần 40 năm, từ 1226 đến 1264. Trần   Thủ Độ sinh tại làng Lưu Xá, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, Việt Nam[1]. Theo gia phả họ Trần, thủy tổ Trần Quốc Kinh dời đến ở hương Tức Mạc (Nam Định – Thái Bình), lấy vợ sinh   ra Trần Hấp. Trần Hấp sinh ra Trần Lý và Trần Hoằng Nghi. Trần Lý sinh ra Trần Thừa, Trần Tự Khánh còn  Trần Hoằng Nghi sinh  được ba người con trai: Trần An Quốc, Trần An Bang và Trần Thủ  Độ. Như vậy Trần  Thủ Độ là cháu của Trần Lý, em họ của Trần Thừa và Trần Tự Khánh. Trần Thủ   Độ  tuy không có học vấn nhưng tài lược hơn người, không chỉ  là  quyền thần nhà  Lý  mà là  quyền  thần của ngay nhà Trần. Tuy nhiên, công bằng xem xét, những việc làm của Trần Thủ  Độ  với nhà Trần chỉ  mang lại đau khổ cho chính những người trong thân tộc họ Trần – trong đó có cả người được ông đặt ngồi trên  ngai vàng – còn đối với nhân dân Đại Việt nói chung, ông không gây đau thương cho họ. Đối với toàn cục của  quốc gia  Đại Việt lúc  đó  và  sau này, việc làm của  ông  đóng vai trò  tích cực.  Ông giúp nhà  Trần bình phục   được giặc giã trong nước, làm cho Đại Việt bấy giờ được cường thịnh trở lại sau hồi suy yếu cuối thời Lý, và đó   chính là cơ  sở  để  đủ  sức lực và tinh thần chống cự  được với Mông Cổ. Nhiều nhà nghiên cứu đã thống nhất   rằng sự thay thế của nhà Trần đối với nhà Lý trong thời điểm đó – mà sự thay thế và xây dựng ban đầu không   thể  không nói tới Trần Thủ  Độ  – có vai trò  quyết  định sự  tồn vong của  Đại Việt trước nguy cơ   ào tới của vó  ngựa Mông mà Trung Hoa lớn mạnh ở phương Bắc cũng không trụ nổi. Sử chép: “Thái Tông lấy được thiên hạ đều là mưu sức của Thủ Độ cả, cho nên nhà nước phải nhờ cậy, quyền  hơn cả vua.”[6]. Vì Trần Thủ Độ giết vua Lý Huệ Tông rồi lại lấy vợ vua (Thiên Cực công chúa hay Linh Từ Quốc Mẫu) nên ông   bị các nhà sử học phong kiến chê trách. Câu nói nổi tiếng của Trần Thủ  Độ: “Đầu tôi chưa rơi xuống  đất, xin bệ hạ  đừng lo!” trong cuộc kháng chiến  chống quân Nguyên – Mông lần thứ nhất 1258. + Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn ( +  H) là danh tướng thời nhà Trần và cũng là danh tướng trong lịch   sử Việt Nam, có công lớn trong hai lần kháng chiến chống Nguyên Mông. Ông là tác giả của bộ Binh thư yếu   lược (hay Binh gia diệu lý yếu lược) và Vạn Kiếp tông bí truyền thư (đã thất lạc). Ông còn được người dân Việt   tôn sùng như bậc thánh, nên còn được gọi là Đức thánh Trần. Ông tên thật là Trần Quốc Tuấn (Ông ), là con trai của An Sinh Vương Trần Liễu, cháu gọi vua Trần Thái Tông  bằng chú, quê  ở  làng Tức Mặc, huyện Mỹ  Lộc, tỉnh Nam  Định. Năm sinh của  ông không rõ  ràng, có tài liệu   cho là năm 1228, có tài liệu thì cho là năm 1230, hay 1232[cần dẫn nguồn]. Ông vốn có tài quân sự, lại là tôn thất nhà Trần, do đó trong cả 3 lần quân Nguyên – Mông tấn công Đại Việt,   ông đều được vua Trần cử làm tướng chống trận. Đặc biệt ở kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ 2 và   thứ  3,  ông  được vua Trần Nhân Tông phong làm Tiết chế các  đạo quân thủy bộ. Dưới tài lãnh  đạo của  ông,   quân dân Đại Việt chiến thắng ở Chương Dương, Hàm Tử, Vạn Kiếp, Bạch Đằng, đuổi quân Nguyên – Mông   ra khỏi nước.
  7. Sau khi kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ 3 thành công, ông về trí sĩ ở trang viên của mình tại Vạn   Kiếp.   Tuy   nhiên,   các   vua   Trần   vẫn   thường   xuyên   đến   vấn   kế   sách. Ông mất ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (tức ngày 5 tháng 9 năm 1300), thọ khoảng 70 tuổi. Nhân dân đương   thời lập đền thờ ông gọi là Đền Kiếp Bạc. + Võ Nguyên Giáp (sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911) là đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam,   người đã chỉ huy quân đội thắng Pháp trong trận Điện Biên Phủ. Ông được xem như một người có tài khi dẫn  dắt một quân  đội nhỏ   đánh bại một cường quốc.[1] Chiến thắng của quân Việt Minh tại  Điện Biên Phủ   đã   chấm dứt chủ nghĩa thực dân,  đập tan huyền thoại bất khả chiến bại của phương Tây và thúc giục tinh thần  của các lực lượng chống thực dân trên toàn thế giới.[2]  Ở Việt Nam,  ông  được gọi là người anh cả của Quân   đội   nhân   dân[3] Võ Nguyên Giáp sinh ở làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nhà nho   nghèo, con của  ông Võ Quang Nghiêm (Võ Nguyên Thân). [4] Võ Quang Nghiêm là  một nho sinh thi cử  bất   thành về  làm hương sư  và thầy thuốc  Đông y, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, bị Pháp   bắt,   đưa   về   giam   ở   Huế   và   mất   trong   tù. Ông Giáp đã xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam từ 34 người vào tháng 12 năm 1944 thành một đội quân   với hơn một triệu người năm 1975. ông đã lãnh đạo quân đội tốt trong cả hai cuộc chiến tranh chống Pháp và   chống Mỹ. Tên tuổi ông gắn liền với chiến thắng trong trận Điện Biên Phủ Với hơn 50 năm tham gia hoạt động chính trị, trong đó có 30 năm là Tổng tư lệnh quân đội, ông có uy tín lớn   trong   Đảng   Cộng   sản   Việt   Nam   và   trong   quân   đội   nhân   dân   Việt   Nam. Kỷ niệm 60 năm ngày phát hành số  đầu tiên, Thời báo châu  Á (Times Asia)  đã  ra số   đặc biệt giới thiệu các   “Anh hùng châu  Á”, gồm các nhân vật làm thay  đổi cục diện châu lục trong những thập kỷ  gần  đây. Những  nhân vật được giới thiệu gồm Mahatma Gandhi, Jawaharlal Nehru, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thiền sư Thích  Nhất Hạnh,…[12] Ông là một nhà vận dụng tài giỏi chiến thuật chiến tranh du kích. Ông cũng là người lập kế hoạch và trực tiếp   chỉ   huy   trận   đánh   Điện   Biên   Phủ   và   thắng   Pháp   năm   1954. Các chiến dịch  ông  đã  tham gia với tư  cách là  tư  lệnh chiến dịch, Bí Thư  Đảng  Ủy trong kháng chiến chống  Pháp:  • Chiến dịch Việt Bắc (thu đông 1947)  • Chiến dịch Biên giới (tháng 9­10 năm 1950)  • Chiến dịch Trung Du (tháng 12 năm 1950)  • Chiến dịch Đồng Bằng (tháng 5 năm 1951)  • Chiến dịch Đông Bắc (năm 1951)  • Chiến dịch Hòa Bình (tháng 12 ăm 1951)  • Chiến dịch Tây Bắc (tháng 9 năm 1952)  • Chiến dịch Thượng Lào (tháng 4 năm 1953)  • Chiến dịch Điện Biên Phủ (tháng 3­5 năm 1954)  Chiến thắng trong chiến dịch  Điện Biên Phủ mang  đậm dấu ấn của  ông trong việc tạo thế, tổ  chức hậu cần,   thay  đổi chiến thuật. Sau chiến dịch này, Hiệp  Định Genève về   Đông Dương  được ký kết,  đặt dấu chấm hết   cho   sự   có   mặt   của   người   Pháp   ở   Việt   Nam   sau   hơn   80   năm. Câu 7: Du khách hỏi bạn: Tại sao lịch sử Việt Nam lại gắn liền với những cuộc chiến tranh? Người Việt có hiếu   chiến   quá   không?   Bạn   hãy   giải   thích   và   chứng   minh   một   sự   thật   ngược   lại. Gợi ý trả lời: Lịch sử loài người là lịch sử của các cuộc chiến tranh, và lịch sử Việt Nam cũng không ngoại lệ.  Con người trong quá  trình phát triển  đều muốn  đem lại lợi  ích cho bản thân và cộng  đồng, song  điều  đó  lại  xâm phạm  đến lợi  ích của một cộng  đồng khác; Con người với những  ý thức hệ  khác nhau sẽ  dẫn  đến mâu   thuẫn và để giải quyết triệt để mâu thuẫn là làm những cuộc chiến tranh. Việt Nam với vị trí địa lý thuận lợi, giàu tài nguyên khoáng sản, rừng vàng biển bạc nên các cường quốc trên  thế giới luôn “dòm ngó” muốn chiếm được để mở rộng ảnh hưởng. Quả vậy thời kỳ chiến tranh lạnh, Mỹ, Nga  
  8. và Trung Quốc đều coi Việt Nam là nơi khẳng định vị trí của mình  ở  Đông Nam  Á nói riêng và ở  Châu Á nói   chung. Người Việt Nam hoàn toàn không phải là một dân tộc hiếu chiến mà vì lý do lịch sử như trên đã trình bày nên   bắt buộc người Việt phải chiến đấu bảo vệ độc lập tự do, bảo vệ quyền được sống, được mưu cầu hạnh phúc.   Đó là chiến tranh vệ quốc, chiến tranh chính nghĩa chiến đấu vì chân lý “không có gì quý hơn độc lập tự  do”   như Bác Hồ vô vàn kính yêu đã từng nói. Câu 8: Hệ thống phòng thủ có vẻ đơn sơ này thật ra đã góp phần vào việc ngăn chặn bước tiến của Liên quân   Pháp – Tây Ban Nha từ năm 1858 đến 1859 tại Đà Nẵng. Anh/ Chị cho biết đoạn văn trên nói đến hệ thống   phòng thủ nào? Gợi ý trả lời: thành Điện Hải Thành Điện Hải là nơi để lại dấu tích hào hùng về một thời chống thực dân Pháp của nhân dân Đà Nẵng dưới   sự  chỉ  huy của Nguyễn Tri Phương.  Đây cũng là   đồn lũy quan trọng góp phần  đánh bại cuộc tấn công của   thực dân Pháp vào  Đà  Nẵng những năm 1858 – 1860. Một tượng  đài uy nghi của Tướng quân Nguyễn Tri  Phương đã được dựng tại đây, để ghi nhớ một giai đoạn lịch sử hào hùng của thành phố. Thành  Điện Hải trước là   đồn  Điện Hải, xây dựng năm 1813 (Gia Long thứ  12) gần cửa biển  Đà  Nẵng. Năm  1823 (Minh Mạng thứ 4) cho dời đồn Điện Hải vào bên trong đất liền, trên một gò đất cao. Đồn được xây bằng   gạch.   Năm   1835   (Minh   Mạng   thứ   15)   đồn   đổi   tên   là   thành   Điện   Hải. Năm 1840, Tham tri Bộ  công Nguyễn Công Trứ  vào xem xét hệ  thống phòng thủ   ở   Đà  Nẵng, sau  đó  có  đề  nghị tăng cường phòng thủ các thành Điện Hải, An Hải. Năm 1847 (Thiệu Trị thứ 7), thành Điện Hải được mở rộng có chu vi 556m, thành cao hơn 5m, chung quanh là   hào sâu 3m. Thành có 2 cửa, một cửa mở về phía Nam (cửa chính), một cửa mở về phía Đông. Trong thành  có hành cung, có kỳ đài, các cơ sở chứa lương thực, đạn dược, thuốc súng và được trang bị 30 ụ súng đại bác   cỡ lớn. Thành xây bằng gạch theo đề án thiết kế kiểu Vauban, hình vuông. Hiện nay, di tích thành  Điện Hải tọa lạc tại phường Thạch Thang, quận Hải Châu. Tường thành phía Tây,  Đông và các góc tương đối còn nguyên vẹn. Cửa thành phía Nam đã mất và phía Bắc đã hư hại. Gần đây, di  tích   thành   Điện   Hải   được   trùng   tu,   gia   cố,   phục   hồi   lại   nguyên   trạng. Thành  Điện Hải là một dấu  ấn ghi nhớ truyền thống  đấu tranh chống Pháp của nhân dân  Đà Nẵng và nhân   dân cả  nước, quyết tâm giữ  vững nền độc lập dân tộc, bảo vệ  lãnh thổ.  Đây cũng là  đồn lũy quan trọng góp  phần đánh bại cuộc tấn công của thực dân Pháp vào Đà Nẵng những năm 1858 – 1860. Một tượng đài uy nghi  của Tướng quân Nguyễn Tri Phương  đã   được dựng tại  đây,  để  ghi nhớ  một giai  đoạn lịch sử  hào hùng của   thành phố. Thành Điện Hải đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia ngày 16.11.1988, được   gắn bia di tích ngày 25.8.1998.   Câu 9:Một số thành tựu của các học trò đất Quảng được gắn liền với danh xưng tôn quý do  hân dân tỉnh nhà vinh danh trong tinh thần khuyến học. Đó là các danh xưng: Ngũ Phụng Tề Phi, Tứ Hùng, Tứ   Kiệt, Tứ Hổ, Tứ Tuyệt. Anh/Chị cho biết họ và tên của những học trò dược vinh danh Ngũ Phụng Tề Phi Gợi ý trả lời: + Ngũ phụng tề  phi: có nghĩa là năm con phượng cùng bay lên là danh hiệu do vua Tự  Đức phong tặng cho  năm vị đại khoa cùng đỗ  trong một khoa thi năm 1898, và cùng thuộc tỉnh Quảng Nam, đó là một điều hiếm   có trong một tỉnh. Năm vị ấy là: • Tiến sĩ Phạm Liệu (Trường Giang, huyện Điện Bàn)  • Tiến sĩ Phan Quang (Phúc Sơn, huyện Quế Sơn)  • Tiến sĩ Phạm Tuấn (Xuân Đài, huyện Điện Bàn)  • Phó bảng Ngô Lý còn gọi là Ngô Chuân (Cẩm Sa, huyện Điện Bàn)  • Phó bảng Dương Hiển Tiến (Cẩm Lậu, huyện Điện Bàn)  Thật ra, đất Quảng Nam xưa còn có Thập Ngũ Phụng Tề Phi trong một khoa thi hương năm 1900 (Canh Tý)   có 32 thí sinh đỗ cử nhân trong đó, người Quảng Nam chiếm hết 15 người mà thủ khoa là Huỳnh Thúc Kháng.
  9. + Tứ Hùng:  + Tứ Kiệt:  + Tứ  Hổ: Sau thành công của Ngũ  Phụng Tề  Phi,  đến năm thứ  13  đời vua Thành Thái, khoa thi Tân Sửu   (1901), Quảng Nam cũng có bốn vị đỗ  đạt lớn  được mệnh danh là Tứ hổ Trung Kỳ gồm: Nguyễn Đình Hiến,   Võ Vỹ, Nguyễn Mậu Hoán và Phan Châu Trinh. + Tứ Tuyệt:    Câu 10: Các nguồn này hợp lưu với nhau – Hội thuỷ­  để  trước khi ra biển cả  qua Cửa  Đại (  Đại Chiêm Hải   Khẩu). Hội An nằm trên con sông hợp lưu – hội thuỷ đó. Anh/Chị cho biết đó là những con sông nào? Gợi ý trả lời: sông Chợ Củi – Thu Bồn (phía Tây); sông Cổ Cò (phía Bắc); sông Trường Giang –  hợ   Được   (phía   Nam)   hội   thủy   tại   Hội   An   chảy   qua   Cửa   Đại   trước   khi   chảy   ra   biển   Đông. (Đọc thêm) Sông Thu Bồn là một dòng sông ở  tỉnh Quảng Nam Việt Nam: Sông bắt nguồn từ khối núi Ngọc   Linh (Nam Quảng Nam­Bắc Kon Tum); phần thượng lưu này  được gọi là  Đak Di. Sông chảy ngược lên phía   Bắc qua các huyện trung du của tỉnh Quảng Nam như Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức. Khi đi   qua đây, sông nhận thêm nhiều chi lưu là các sông, suối nhỏ. Đoạn chảy qua Tiên Phước và Hiệp Đức được   gọi là sông Tranh. Bắt đầu khi đi qua địa phận Quế Sơn, Duy Xuyên, sông mới bắt đầu được gọi là Thu Bồn.  Ở  Quế  Sơn, sông  đổi sang hướng Tây Nam­Đông Bắc. Khi chảy qua ranh giới giữa Duy Xuyên và  Đại Lộc,   Thu Bồn nhận chi lưu lớn nhất ở tả ngạn, đó là sông Vu Gia. Sông đổ ra biển Đông ở cửa Đại. Cách cửa Đại   không xa ngoài khơi là  cù  lao Chàm. Trước khi ra biển, sông tạo ra một số  phân lưu như  sông Ba Chươm,  sông Cổ Cò, sông Đình, sông Đò, sông Hội An. Bên sông Thu Bồn có  nhiều di tích lịch sử  của vương quốc Chăm Pa cổ  xưa, như  thánh  địa Mỹ  Sơn (Duy  Xuyên), Trà Kiệu (kinh đô cổ của Chăm Pa), cảng thị cổ Hội An (tả ngạn sông Thu Bồn, cách cửa Đại 4 km). Vùng cửa sông Thu Bồn là một vùng đất ngập nước, có nhiều cồn, với hai hệ sinh thái là rừng nhiệt đới và cỏ   biển. Hiện chính quyền tỉnh Quảng Nam đang làm các thủ tục đề nghị UNESCO công nhận vùng hạ lưu sông  Thu Bồn, khu phố cổ Hội An và Khu Bảo tồn biển cù lao Chàm là khu dự trữ sinh quyển quốc tế. Lưu vực sông Thu Bồn phần thượng lưu là nơi được cho là có nhiều vàng sa khoáng. Việc khai thác vàng thủ   công, khai thác sỏi và cát  ở   đây  đã  làm  ô nhiễm nước sông và gây xói mòn  đất.[1] Trên thượng nguồn sông   Thu Bồn có hai công trình thủy điện đã và đang được xây dựng, đó là Sông Tranh 1 và Sông Tranh 2. Hạ lưu sông Thu Bồn là vùng đất ngập nước rộng lớn, nhất là khu vực xã Cẩm Thanh, Cẩm Kim và vùng lân   cận với hơn 500ha diện tích mặt nước. Các nhánh sông Ba Chươm, sông Cổ Cò, sông Đình, sông Đò nối với  sông Thu Bồn tạo ra nhiều cồn, gò như Thuận Tình, cồn Tiến, cồn 3 xã, gò Hí, gò Già…, với các hệ sinh thái  (HST) điển hình vùng nhiệt đới, như rừng ngập mặn và cỏ biển. Trong đó, đáng chú ý là rừng dừa nước dọc bờ  các kênh rạch, quanh năm xanh tốt, tạo cho khu vực  đất ngập nước hạ  lưu sông Thu Bồn một sinh cảnh rất   đặc biệt cho miền Trung – Hội An mà ở Việt Nam, chúng ta chỉ có thể tìm gặp ở miền Tây Nam Bộ. Trên các   cồn gò và các vực nước chung quanh các dãy dừa nước từ  vùng triều thấp trở  xuống còn có hệ  sinh thái cỏ  biển (seagrass ecosystem)­ hệ sinh thái đặc thù trong vùng đất ngập nước, chỉ có ở vùng nhiệt đới và ôn đới  ấm. Chúng là những loài thực vật bậc cao, sống chìm trong môi trường nước, tồn tại và phát triển quanh năm,   thích nghi trong môi trường luôn có dòng chảy,  sóng gió nhờ hệ thống thân ngầm vùi sâu trong trầm tích.  Theo nhiều người dân  địa phương, trước thập niên 1980, diện tích dừa nước  ở  vùng Cửa  Đại lên  đến hàng   trăm héc ta, trong đó có rừng dừa Bảy Mẫu trải rộng trên địa bàn các thôn 1, 2, 3 và 8 của xã Cẩm Thanh, gắn   liền với các sự kiện lịch sử hào hùng của quân và dân Hội An trong những năm kháng chiến cứu nước. Đáng  tiếc là sau này, diện tích rừng dừa nước bị thu hẹp dần, nay chỉ còn gần 70ha.  Dọc triền sông phía ngoài dừa nước, trên các cồn gò ở gần khu vực Cửa Đại, chúng ta còn gặp hệ sinh thái cỏ   biển với sự ưu thế tuyệt đối của loài cỏ lươn (Zostera japonica) có lá khá dài đến 40­50cm, phân bố trên 30ha,   bao phủ  gần hết các vùng triều thấp ven triền sông của xã  Cẩm Thanh, làm thành tấm thảm màu xanh khi  triều xuống. Một loài cỏ xoan khác là Halophila beccarii làm thành các thảm mịn ven bờ và phát triển lên đến   vùng nước lợ  dọc các kênh rạch.  Ở  vài nơi, hai loại cỏ  này  đan xen vào nhau rất lý  thú, như  ở  thôn 2, Cẩm  
  10. Thanh. Về phương diện sinh vật, các hệ sinh thái nêu trên có sự đa dạng sinh học rất cao, là nơi cư trú, sinh sống của   nhiều loài động vật biển có giá trị, nhất là các loài tôm, cua, ghẹ và động vật thân mềm. Các thảm cỏ biển là  nơi   sinh   sống   và   bắt   mồi,   ẩn   nấp   của   ấu   thể   nhiều   loài   hải   sản. Vùng biển cù lao Chàm và lưu vực Thu Bồn – Cửa  Đại có mối giao lưu thủy vực trực tiếp thường xuyên qua   chế độ thủy triều, sóng gió và dòng chảy; đồng thời cù lao Chàm chịu tác động rất mạnh của nước và phù sa  sông Thu Bồn trong mùa mưa lũ. Vì vậy, về phương diện sinh vật và môi trường, có thể nói lưu vực sông Thu   Bồn – Cửa  Đại và  cù  lao Chàm có  mối liên quan mật thiết với nhau. Trước hết, các hệ  sinh thái ngập mặn  đóng vai trò như một máy lọc sinh học, nó tích tụ  và phân hủy chất thải, lắng đọng trầm tích, làm trong sạch  nguồn nước trước khi về  với biển. Nhờ  vậy, các rạn san hô và  đa dạng sinh học cù lao Chàm  được bảo vệ,   tránh sự xâm nhập của trầm tích lắng đọng gây chết, giảm độ phủ của trầm tích bùn nhuyễn và các tác động   có hại từ nguồn nước sông Thu Bồn. Cạnh đó, trứng và con non các loài thủy sinh vật có giá trị kinh tế cao từ   Khu Bảo tồn biển cù lao Chàm, theo các quy luật sinh thái tự nhiên, chúng tiếp cận ngay vào hệ sinh thái ngập   mặn để bổ sung cho đa dạng sinh học vùng hạ lưu Thu Bồn – Cửa Đại, kể cả các loài di cư xa như cá chình,   cá mòi lên tận thượng nguồn Vu Gia – Thu Bồn. Ngược lại, hệ sinh thái dừa nước, đặc biệt là các thảm cỏ biển   với độ bao phủ thường xuyên từ 50 – 100% (kết quả khảo sát tháng 7, 8­2007) là nơi cư trú sinh vật có tính đa  dạng sinh học cao, nơi nuôi dưỡng ấu thể, nguồn giống các loài sinh vật biển có giá trị. Câu 11:  Tháng bảy có chiếu Vua ra  Cấm quần không đáy người ta hãi hung Không đi thì chợ không đông  Đi thì phải mượn quần chồng sao đang Câu ca dao này xuất hiện vào thời vua nào? Nêu lý do lịch sử của vấn đề này. Gợi ý trả lời: Bài ca dao nầy có liên quan đến một sắc chỉ của vua Minh Mạng triều nhà Nguyễn  về việc cải cách y phục cho nhất thống từ Bắc chí Nam. Ngoại trừ một vài khác biệt không đáng kể về một số  chữ  không quan trọng trong bài,  điểm khác biệt quan trọng trong các bài  được sưu tập,  đó  là  thời gian xuất   hiện của “Chiếu vua” : Tháng Ba? Tháng Sáu? Tháng Tám? Tháng Chín? Hay tháng Chạp? Như ta đã biết, vua Minh Mạng đã 2 lần hạ chiếu cải dịch y phục :  * Lần thứ nhất là vào tháng Mười năm Mậu Tý (1828), Minh Mạng thứ 9. * Lần thứ hai là vào tháng Chín năm Đinh Dậu (1837), Minh Mạng thứ 18. Lần nầy, như trong Đại Nam Thực  Lục đã ghi, ta thấy lệnh có vẻ gay gắt hơn nhiều và bắt buộc các quan đầu tỉnh từ  Tổng Đốc, Tuần phủ, Bố   chánh, Án sát phải theo dõi việc thực hiện.   (Đọc thêm) Cái váy của người đàn bà đất Bắc không biết xuất hiện từ  bao giờ, nhưng đến khi nhà Minh xâm   lăng Việt Nam vào năm 1414, thì  ngay sau  đó  “bọn Hoàng Phúc muốn bắt dân ta  đồng hóa với người Tàu,   cấm con trai con gái không  được cắt tóc,  đàn bà  con gái phải mặc  áo ngắn quần dài theo kiểu người Tàu,   nghĩa   là   không   được   mặc   váy   như   trước   .   .   .”   (ĐLQT,   tr.206). Váy là  đồ mặc che nửa thân người phía dưới của người đàn bà xứ Bắc ngày xưa. Nó có hình thức gần giống  như cái skirt (Mỹ) hay cái jupe (Pháp) của người phụ nữ Tây phương thường mặc. Và đúng như người bình dân   của ta đã mô tả trong một câu đố như sau: Vừa bằng cái thúng mà thủng hai đầu, Bên ta thì có, bên Tàu thì không.   Đến năm Cảnh Trị thứ 3 (1665) đời vua Lê Huyền Tông (1663­1671), nhà vua lại ra sắc dụ cấm đàn bà con  gái mặc quần theo kiểu Tàu mà trở lại mặc váy theo y phục truyền thống của dân tộc.
  11. Vậy là, sau 250 năm, người đàn bà xứ Bắc lại mặc váy như trước thời kỳ bị quân Minh xâm lược bắt phải đồng   hóa theo kiểu ăn mặc của đàn bà Tàu. Đó là tình trạng ở  đất Bắc tức từ Thanh Hóa trở ra. Tình trạng ở phía  nam   đèo   Ngang   tức   từ   Quảng   Bình   trở   vào   lại   khác. Số là, vào năm 1558, Nguyễn Hoàng được vua Lê cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa rồi sau đó cho kiêm nhiệm   trấn thủ đất Quảng Nam. Nguyễn Hoàng lúc đầu còn phải ra vào đất Bắc để phục vụ cho vua Lê, nhưng đến   năm 1559 cuối đời vua Lê Thế Tông (1573­1599), Trịnh Tùng xưng vương hiệu là Bình An Vương lập nên phủ   Chúa và  vua Lê  chỉ  còn hư  vị  thì  ngay năm sau (1600), Nguyễn Hoàng cũng lo củng cố  và  xây dựng  đất   Thuận Hóa rồi sau  đó  là   đất Quảng Nam  để   đối  đầu với chúa Trịnh  ở   đất Bắc.  Đến khi Nguyễn Hoàng mất  (1613), con là Nguyễn Phúc Nguyên (1613­1635) lên thay, Nguyễn Phúc Nguyên tự bổ nhiệm quan lại để cai   trị   đất  Đàng Trong, không còn nhận quan lại của vua Lê  và  chúa Trịnh gởi vào nữa. Tuy nhiên,  đến  đời   chúaNguyễn Phúc Trú  (1725­1738) các chúa Nguyễn vẫn chỉ  xưng quận công hay quốc công và  vẫn tuân  theo một số  luật lệ  và  phong tục của  đất Bắc.  Đến  đời Nguyễn Phúc Khoát (1738­1765), Khoát mới xưng  vương gọi là Võ Vương (1744)  đúc  ấn quốc vương,  định triều nghi và  đưa ra một số cải cách  để chứng tỏ sự  tách   biệt   hoàn   toàn   với   đất   Đường   Ngoài,   chẳng   hạn: “Vào khoảng năm 1744 chúa Võ Vương ở phương Nam bắt dân gian cải cách y phục. Theo giáo sĩ Koffler thì  chúa bắt bỏ lối quần áo thô bỉ của người đường ngoài, mà châm chước theo lối quần áo của người Tàu. Có lẽ   từ  bấy giờ, người  đàn bà  đường trong bắt  đầu mặc  áo gài khuy và mặc quần, mà không mặc  áo thắt vạt và   mặc   váy   như   người   đường   ngoài   nữa.”   (VNVHSC,   tr.173) Vậy có thể nói, từ đời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát trở về sau, cách ăn mặc của người Đàng Trong lại giống   như cách ăn mặc của người Đàng Ngoài thời kỳ trước khi vua Lê Huyền Tông ra lệnh bỏ lối phục sức theo kiểu  nhà Minh, hay nói một cách khác, trong lúc phụ nữ Đàng Trong dưới quyền chúa Nguyễn mặc quần dài 2 ống   thì người phụ nữ Đàng Ngoài dưới quyền vua Lê chúa Trịnh lại mặc váy. Đến khi nhà Nguyễn dựng đế nghiệp (1802), để thống nhất việc ăn mặc cho cả nước, vua Minh Mạng (1820­ 1840) đã hai lần ra sắc dụ bắt dân chúng Đàng Ngoài phải thay đổi cách ăn mặc theo người Đàng Trong. Việc   cải đổi y phục của vua Minh Mạng đã gặp phải sức kháng cự của người dân Đàng Ngoài bằng hành động bất   tuân phục và đặt ra những bài hò vè để chế diễu phản đối. Trong   tác  phẩm   Đất   Lề   Quê   Thói,   tác  giả   Nhất  Thanh  Vũ   Văn  Khiếu  đã   viết  về   vấn  đề   này  như   sau: “Người xứ Bắc vốn không qui phục nhà Nguyễn . . . lại gặp phải chính sự hà khắc cấm đoán cả về y phục, trái   với lẽ thường, dân mất váy lần này có câu ca rằng: Tháng chín có chiếu vua ra: Cấm quần không đáy người ta hãi hùng. Không đi thì chợ không đông, Đi ra bóc lột quần chồng sao đang. Có quần ra quán bán hàng, Không quần đứng nấp đầu làng trông quan ” (Đất Lề Quê Thói, tr. 207­208)   Bài ca dao ở trên có nhiều dị bản. * Trong Văn Học Bình Dân, Nguyễn Trúc Phượng cũng sao lục giống như bài trên nhưng câu đầu hoàn toàn   khác: Chiếu vua mồng sáu tháng ba * Trong Tục Ngữ Phong Dao (tập 2) cuả Nguyễn Văn Ngọc và Thi Ca Bình Dân Việt Nam (tập 2) của Nguyễn  Tấn Long và Phan Canh , bài ca dao nầy được ghi lại như sau : Tháng sáu có chiếu vua ra, Cấm quần, cấm áo đôi ta ngặt ngùng. Không đi thì chợ không đông, Đi ra bóc lột quần chồng mà mang.
  12. *  Trong Xã  Hội Việt Nam của Lương  Đức Thiệp, bài ca dao  được sao lục gần giống như  của Vũ  Văn Khiếu   trong Đất lề Quê Thói nhưng “tháng Chín” được đổi ra “tháng Tám”: Tháng Tám có chiếu vua ra . . . * Trong Chuyện Cà Kê, Lãng Nhân Phùng Tất Đắc cũng sao lục giống như bài của Vũ Văn Khiếu trong Đất Lề  Quê Thói. • Trong một bài biên khảo nhan đề “Thi Ca Trào Phúng Việt Nam” đăng trong Thằng Mõ Nam Cali, giai phẩm   Xuân Giáp Thân, 2004, tác giả Vọng Đông lại chép là “tháng Chạp” : Tháng Chạp có chiếu vua ra . . . Như vậy là, trong câu  đầu của bài ca dao nói về  thời gian ban hành lệnh cấm mặc váy đã có những sai biệt   như sau: *   Chiếu   vua   mồng   sáu   tháng   Ba   (   theo   Nguyễn   Trúc   Phượng) *   Tháng   Sáu   có   chiếu   vua   ra   (theo   Nguyễn   Văn   Ngọc   ,   Nguyễn   Tấn   Long) *   Tháng   Tám   có   chiếu   vua   ra   (theo   Lương   Đức   Thiệp) *   Tháng   Chín   có   chiếu   vua   ra   (theo   Phùng   Tất   Đắc   và   Vũ   Văn   Khiếu) *   Tháng   Chạp   có   chiếu   vua   ra   (theo   Vọng   Đông) Bài ca dao nầy có liên quan  đến một sắc chỉ của vua Minh Mạng triều nhà Nguyễn về việc cải cách y phục   cho nhất thống từ  Bắc chí Nam. Ngoại trừ  một vài khác biệt không đáng kể về một số chữ không quan trọng   trong bài,  điểm khác biệt quan trọng trong các bài  được sưu tập,  đó  là thời gian xuất hiện của “Chiếu vua” :   Tháng   Ba?   Tháng   Sáu?   Tháng   Tám?   Tháng   Chín?   Hay   tháng   Chạp? Chúng   ta   thử   lần   theo   các   trang   sử   để   tìm   ra   sự   thật. Theo Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu : Năm Mậu Tý (1828) Minh Mạng thứ 9 “Tháng 10, truyền đổi cách ăn mặc từ sông Gianh trở ra Bắc”. (quyển 3,   trang   74) Năm Đinh Dậu (1837), Minh mang thứ 18, “Tháng 9 . . . thân dụ dân tự Hà Tĩnh trở ra phải đổi cách ăn mặc”  (quyển   3,   trang   112) Theo Biên Niên Lịch Sử  Cổ  Trung  Đại Việt Nam (Từ   đầu  đến giữa thế  kỷ  XIX) của Viện Sử  Học Hà Nội, sự  kiện   nầy   đã   được   ghi   như   sau   : 1828 (Mậu Tý) :“Tháng 10 Âm Lịch, Nhà nước ra lệnh cho nhân dân Bắc Thành từ Thanh Nghệ trở ra Bắc phải   thay đổi y phục cho phù hợp với y phục của nhân dân từ sông Gianh trở vào Nam. Lại ấn định, từ Mùa Xuân   1829   y   phục   của   nhân   dân   phải   thay   đổi   đồng   loạt   trong   cả   nước.”   (trang   436). 1837 (Đinh Dậu) : “Tháng 9 âm lịch . . . . Ra lệnh cho nhân dân từ Hà Tĩnh trở ra phải đổi trang phục nữ mặc   quần không được mặc váy. Lệnh nầy đã được ban hành từ năm 1827 (?), sau 10 năm nhân dân chưa thi hành,   nên   lệnh   nầy   được   nhắc   lại.” Theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 184 ghi lại chiếu dụ của vua Minh Mệnh ban hành vào   năm   Minh   Mệnh   thứ   18,   năm   Đinh   Dậu   (1837)   như   sau: “Từ sông Gianh ra Bắc, trước đây vẫn còn ăn mặc theo hủ tục. Trẫm đã ra lệnh đổi y phục như từ Quảng Bình   trở  vào để  phong tục thuần nhất. Lại ban hạn rộng rãi để  ai nấy có thì giờ khâu may. Nhưng đến nay, kể  đã   ngoài 10 năm, mà ở Đàng Ngoài bọn ngu phu, ngu phụ vẫn cứ chần chừ chưa chịu đổi thay. Từ Quảng Bình   trở vào Nam, hết thảy đã ăn mặc theo lối nhà Hán, nhà Minh, mũ mãng, áo quần đều chỉnh tề, tươm tất. Dân   Bắc Kỳ cứ ăn mặc theo lối cũ. Đàn ông, con trai đóng khố, đàn bà, con gái mặc áo vạt khép vào nhau, dưới thì  mặc váy. Như vậy đẹp xấu ra sao, mọi sự đã rõ. Một số nơi đã theo thói hay. Nhưng nhiều nơi vẫn duy trì hủ   tục, phải chăng cố ý trái lệnh của Trẫm. Nay truyền cho các viên tổng đốc, tuần phủ, bố chánh, án sát các tỉnh   phải giải thích, khuyên nhủ cho dân biết rõ ý của Trẫm. Lại ban hạn trong năm nay tất cả phải thay đổi quần   áo.   Nếu   năm   tới   còn   có   kẻ   nào   ngoan   cố   áo  quần,  phải   trị   tội   thật   nặng”(chép  theo  Hoàng  Hải   Thủy)
  13. Trong   tác   phẩm   Xã   Hội   Việt   Nam,   tác   giả   Lương   Đức   Thiệp   đã   nhắc   đến   vấn   đề   này   như   sau: “Dưới triều vua Tự Đức cũng có lệnh cấm đàn bà đường ngoài mặc váy. Câu ca dao sau đây đã đánh dấu việc   cải   cách   y   phục   này: Tháng   tám   có   chiếu   vua   ra Cấm   quần,   cấm   áo   người   ta   ngại   ngùng Không   đi   thì   chợ   không   đông Đi   ra   bóc   lột   quần   chồng   mà   mang Có   quần   thì   ra   đứng   đàng Không   chồng   (?)   ta   đứng   đầu   làng   nghé   quan” (XHVN,   tr.252) Như đã được trình bày ở trên, sự kiện thay đổi y phục xảy ra vào thời vua Minh Mạng (1820­1840) chứ không   phải dưới thời vua Tự Đức (1848­1883) như Lương Đức Thiệp đã nói đến trong tác phẩm Xã Hội Việt Nam của   ông. Trong Chuyện Cà Kê, Lãng Nhân Phùng Tất  Đắc ghi “ . . . (1828) Minh Mệnh thứ  9, trong tháng 9 có  chiếu   cấm dân Bắc mặc váy . . .”. Như  trên  đã  dẫn, chiếu cấm mặc váy  được ban ra vào tháng 10 năm Mậu Tý,   Minh   Mệnh   thứ   9   chứ   không   phải   tháng   9   như   Lãng   Nhân   đã   ghi. Như vậy, bước  đầu ta có thể  kết luận: thời gian “mồng sáu, tháng Ba”, “tháng Sáu”, “tháng Tám” hay “tháng  Chạp” là không phù hợp với lịch sử. Chỉ còn lại tháng Chín hay tháng Mười mới đúng. Đến đây, có một điều chúng ta cần bàn. Như ta đã biết, vua Minh Mạng đã 2 lần hạ chiếu cải dịch y phục : * Lần thứ nhất là vào tháng Mười năm Mậu Tý (1828), Minh Mạng thứ 9. * Lần thứ hai là vào tháng Chín năm Đinh Dậu (1837), Minh Mạng thứ 18. Lần nầy, như trong Đại Nam Thực Lục đã ghi, ta thấy lệnh có vẻ gay gắt hơn nhiều và bắt buộc các quan đầu tỉnh từ Tổng Đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát phải theo dõi việc thực hiện. Nay ta thử xét về âm vận của thể thơ đã được dùng trong bài ca dao. Đây là một bài ca dao làm theo thể thơ lục bát. Trong âm luật thơ lục bát, chữ thứ 2 của câu lục (câu 6 chữ) phải là âm bằng, trừ trường hợp câu lục được ngắt nhịp ở chữ thứ 3 thì chữ thứ 2 của câu lục thường phải là âm trắc. Thí dụ: Mai cốt cách, tuyết tinh thần – Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười ; Đau đớn thay phận đàn bà – Lời rằng bạc mênh cũng là lời chung . . . (Kiều – Nguyễn Du). Nếu xét theo âm luật như trên thì câu lục phải là : “Tháng Mười có chiếu vua ra . . .” nghe vừa xuôi tai lại vừa hợp với sự kiện lịch sử như vừa được dẫn ở trên. Vậy thì tại sao trong tất cả các bản được sưu tập xưa nay lại không có bản nào ghi lại là “Tháng Mười có chiếu vua ra”? Như vậy, theo tôi, có thể là câu ca dao trên chỉ xuất hiện sau khi vua Minh Mạng thấy rằng sắc lệnh lần trước (tháng Mười năm Mậu Tý,1828) không được thi hành đúng mức, vậy nên, 10 năm sau nhà vua đã phải ra lệnh gắt gao hơn (tức lệnh vào tháng Chín năm Đinh Dậu – 1837) lệnh lại bắt buộc các quan đầu tỉnh theo dõi sát nên trong dân chúng mới có sự phản ứng bằng bài ca dao như trên. Cái hiện tượng các quan phải theo dõi việc thi hành đã bị dân chúng vạch trần trong câu cuối : Không quần ra đứng đầu làng trông quan! Và như vậy, bài ca dao trên chỉ có thể xuất hiện sau khi vua Minh Mệnh ban chiếu Cải dịch y phục cho dân Đàøng Ngoài lần thứ hai vào tháng 9 năm Đinh Dậu (1837) và câu ca dao đúng phải là : “Tháng Chín có chiếu vua ra . . .” Dân chúng Bắc Thành , nhất là từ Thanh Nghệ trở ra, xưa mặc váy chứ không mặc
  14. quần (hai ống) như dân chúng Nam Hà thời các chúa Nguyễn. Đến thời Minh Mạng nhà vua bắt dân chúng Bắc Hà mặc quần 2 ống, tức không cho mặc váy, nên bị dân chúng phản ứng bằng bài ca dao mỉa mai nói trên. Đồng thời với bài ca dao trên đây, ở vùng Thanh Nghệ còn lưu truyền bài vè sau đây: Bước sang năm mới bình yên, Chiếu vua hạ truyền: Cải dịch y phục, Quan huyện đã giục, Lý trưởng, mục, tiên, Lệnh vua đã truyền, Bắt dân mặc cả. ..... Mai phiên chợ Trai, Phải mượn quần chồng. Đã cực trong lòng, Lại thêm xấu hổ. Không đời mô chộ Ăn mặc ra ri. Anh bước chân ra đi, Không quần mà có áo. Bắt từ ông lão, Cho đến gái thanh tân, Thân lại lập thân Một người hai bộ. ..... Như ở trên ta đã thấy, đối với dân gian, viết sử không phải chỉ là ghi lại sự kiện : “Tháng Chín có chiếu vua ra: Cấm quần không đáy” mà phần quan trọng chính là phần phê phán, phần nói lên cảm tưởng, thái độ của dân gian đối với sự kiện : “người ta hãi hùng”, “Có quần ra quán bán hàng, Không quần ra đứng đầu làng trông quan!”. Chính cái phần phê phán, cái phần cảm tưởng này mới giúp ích nhiều cho các nhà xã hội học, các nhà sử học về sau. (Trích trong Tản Mạn Về Ca Dao Lịch Sử) ĐÀO ĐỨC NHUẬN Câu 12: Năm 1883 triều đình Huế ký hoà ước Quý Mùi với thực dân Pháp, công nhận quyền bảo hộ của Pháp trên toàn cõi Việt Nam. Xin bạn cho biết Pháp ký dưới triều vua nào? Gợi ý trả lời: Ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi (1883), Tự Ðức mất, trị vì được 36 năm, thọ 55 tuổi, miếu hiệu là Ðức Tôn Anh Hoàng đế. Triều đình Huế phải ký hoà ước Quý Mùi (1883) rồi hoà ước Patơnốt (1885), đất nước bị chia làm ba kỳ dưới sự bảo hộ của thực dân Pháp. Câu 13: Từ năm 939 đến khi kết thúc chế độ phong kiến Việt Nam 1945, có bao nhiêu triều đại? Cho biết tên 2 triều đại đánh dấu sự phát triển rực rỡ của Phật giáo? Gợi ý trả lời: 10 triều đại. 2 triều đại đánh dấu sự phát triển rực rỡ của Phật giáo: Nhà Lý và nhà Trần Bước đầu nền độc lập tự chủ – Khúc – Ngô – Đinh – Lê
  15. Họ Khúc đặt nền móng tự trị Các nhà Ngô – Đinh – Lê Tình hình kinh tế, văn hóa thời Ngô – Đinh – Lê Di sản văn hóa tiêu biểu Nhà Lý (1010 – 1225) Lý Bát Đế Chính quyền nhà Lý Phát triển kinh tế Phát triển văn hóa xã hội Nhân vật tiêu biểu Di sản văn hóa tiêu biểu Nhà Trần (1225 – 1400) Giai đoạn hưng thịnh của nhà Trần Giai đoạn suy vong Kinh tế – xã hội dưới thời Trần Phát triển văn hóa Nhân vật – di tích tiêu biểu Nhà Hồ – Giai đoạn thuộc Minh (1400 – 1428) Nhà Hồ Giai đoạn thuộc Minh Cuộc kháng chiến chống Minh Nhà Hậu Lê (1428 – 1527) Chính trị – xã hội Đại Việt dưới đời các vua Lê
  16. Kinh tế Phát triển văn hóa Nhân vật tiêu biểu Di sản văn hóa tiêu biểu Nhà Mạc – Nam Bắc Triều (1527 – 1592) Nhà Mạc được thành lập Cuộc nổi dậy của nhóm Phù Lê Thế cuộc Nam Bắc Triều Đại Việt – thời kỳ phân liệt Trịnh Nguyễn (1600 – 1777) Quá trình phân ly hai Đàng Các vấn đề chính trị – kinh tế Các vấn đề xã hội – văn hóa Di tích, danh thắng tiêu biểu Nhà Tây Sơn (1771 – 1802) Tình hình Đại Việt trong ba thập niên cuối thế kỷ XVIII Triều đại Quang Trung Cuộc đối đầu Tây Sơn – Nguyễn ánh Di tích tiêu biểu Nhà Nguyễn (1802 – 1858) Chính quyền nhà Nguyễn Phát triển kinh tế xã hội Các vấn đề tư tưởng – văn hóa
  17. Di tích tiêu biểu Câu 14: Kể tên 3 vị vua yêu nước dưới triều Nguyễn ( 1802 – 1945) đã bị thực dân Pháp lưu đày. Gợi ý trả lời: • Vua Hàm Nghi sinh năm 1872, mất năm 1943, là cháu gọi vua Tự Đức là chú (có cùng cha với vua Đồng Khánh nhưng vua Đồng Khánh là con nuôi của vua Tự Đức), lên ngôi năm 1884 nhưng bị Pháp truất phế 1 năm sau đó vì mưu lược chống họ, có 1 con trai và 2 con gái. Sau khi bị truất phế vua Hàm Nghi tiếp tục việc chống Pháp nhưng bị bắt vào năm 1888 và bị Pháp đày sang Algérie. • Vua Thành Thái sinh năm 1879, mất năm 1955, là con trai thứ bảy của vua Dục Đức (người làm vua chỉ trong 3 ngày), lên ngôi năm 1889 nhưng bị Pháp truất phế vào năm 1907 vì chống lại họ, có 16 con trai và nhiều con gái. Vào năm 1916 vua Thành Thái (cùng con là vua Duy Tân) bị Pháp đày sang đảo Réunion, nhưng được đón trở lại Việt Nam vào năm 1947. • Vua Duy Tân sinh năm 1899, mất năm 1945, là con trai thứ năm của vua Thành Thái, lên ngôi năm 1907 nhưng chỉ lo việc chống Pháp nên bị họ truất phế và đày sang đảo Réunion (cùng với cha là vua Thành Thái) vào năm 1916, có 3 con trai và 1 con gái. Câu 15: Năm 2008 đánh dấu 150 năm ngày quân và dân Đà Nẵng kháng Pháp (1858- 2008), bạn có thể nêu tên một đoạn thành lũy cũ chứng tích của công cuộc kháng chiến chống Pháp hào hùng đó tại thành phố Đà Nẵng. Gợi ý trả lời: Thành Điện Hải, một di tích lịch sử quan trọng của thành phố Đà Nẵng, đã từng là tiền đồn chống thực dân Pháp ngay từ bước đầu khi chúng đặt chân lên đất nước chúng ta. Thành Điện Hải nằm ở tả ngạn sông Hàn, về phía tây, tại vùng Trẹm thuộc phường Thạch Thang, được xây dựng lần đầu tiên dưới thời Gia Long, sau đó xây lại và dời đến địa điểm hiện còn ngày nay. Vào mùa xuân năm Quí Dậu, niên hiệu Gia Long thứ 12 (1813), vua cho đắp đài Điện Hải và bảo An Hải, đài ở bên tả cửa biển Đà Nẵng, bảo ở bên hữu, sau khi đài xây xong, đến tháng 5/1813 vua Gia Long tuần du Quảng Nam, đến Đà Nẵng xem xét việc bố phòng đài Điện Hải, vua còn ra lệnh cho vét sông Hà Thân (sông Hàn), cử Nguyễn Văn Như làm Án thủ cửa biển Đà Nẵng và sai quân đóng 35 chiếc thuyền tam bản để phòng thủ. Vua Gia long phải vất vả xa giá vào Đà Nẵng chỉ với mục đích xem thành Điện Hải và tổ chức lực lượng thuỷ quân để phòng thủ, chứng tỏ nhà vua rất quan tâm đến hải cảng này. Sở dĩ như vậy bởi vì trước đây, trong những ngày còn bôn ba dựng nghiệp vua đã thấy được vị trí chiến lược quan trọng của Đà Nẵng, chính vua đã ra lệnh cho Nguyễn Văn Trương điều quân chiếm Quảng Nam, Đà Nẵng làm bàn đạp để tiến chiếm Phú Xuân. Tháng 4 năm Tân Dậu (1801) khi thuyền vua vừa mới đến Cù lao Chàm, Gia Long lập tức chỉ dụ cho Nguyễn Văn Trương đem quân đến Đà Nẵng chờ lệnh rồi thuyền của vua cũng đến ngay Đà Nẵng để hội quân cùng các tướng lãnh bàn kế hoạch đánh Tây Sơn. Gia Long nắm rất rõ vị trí Đà Nẵng từ Vũng Thùng cho đến phòng tuyến Cu Đê, vì vậy khi lên ngôi, nhà vua chủ trương tăng cường phòng thủ duyên hải đặc biệt là Đà Nẵng, cho đắp đài Điện Hải và bảo An Hải để trấn giữ và chọn một vị tướng tài ba giao nhiệm vụ quan trọng này, người đó là Nguyễn Văn Thành.
  18. Ba năm đánh Đà Nẵng từ 1858-1860 với tinh thần chiến đấu dũng cảm của quân dân ta, thực dân Pháp chẳng những đã không thực hiện được kế sách “đánh nhanh thắng nhanh” chiếm Đà Nẵng nhằm mở đường ra Huế mà còn bị hao tổn lực lượng, quân lính phần chết trận, phần chết dịch rất nhiều, cuối cùng phải rút khỏi Đà Nẵng ngày 23/3/1860 để lại trên bán đảo Sơn Trà một nghĩa trang với ngót một nghìn ngôi mộ. Sau khi quân địch rút khỏi Đà Nẵng, vua Tự Đức đã ra lệnh sửa lại thành Điện Hải và đổi tên là Đồn Điện Hải. Hơn một trăm năm đã trôi qua, thành Điện Hải vẫn tồn tại với thời gian, vẫn im lìm nằm bên đường Trần Phú như một chứng tích lịch sử thầm nhắc nhở mọi người hãy nhớ về những năm tháng đau thương nhưng anh dũng của nhân dân thành phố Đà Nẵng trong cuộc chiến chống xâm lược bảo vệ quê hương, đất nước. Hiện nay, thành Điện Hải đã được công nhận là di tích lịch sử-văn hoá quốc gia và đang được trùng tu phục chế. (Đọc thêm) Mảnh đất phía đông sông Hàn này đã một thời được các vua nhà Nguyễn cho xây dựng thành trì – gọi là thành An Hải, cùng với thành Điện Hải ở phía tây giữ nhiệm vụ bảo vệ cảng biển Đà Nẵng. Sau đợt tấn công của liên quân Pháp – Tây Ban Nha vào rạng sáng ngày 1/09/1858 vào Đà Nẵng, thành An Hải và Điện Hải đã bị hư hại nặng. Đến nay, mặc dù dấu vết thành An Hải hầu như không còn nữa, nhưng dấu ấn của cuộc kháng chiến hào hùng ngày xưa vẫn còn lưu giữ trong lòng người dân bao thế hệ qua câu chuyện truyền khẩu. Câu 16: Dọc theo tả ngạn sông Hàn thuộc thành phố Đà Nẵng ngày nay, trước thời kỳ Pháp thuộc có 5 xứ. bạn hãy kể tên cụ thể của 5 xứ đó. Gợi ý trả lời: 5 xứ đó là Hải Châu, Phước Ninh, Thạch Thang, Nam Dương, Nại Hiên Tây Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông Thấy nước xanh như tàu lá, Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn Thấy phố xá nghinh ngang Kể từ ngày Tây lại đất Hàn, Ðào sông Cù Nhĩ, tìm vàng Bồng Miêu. Dặn tấm lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu, Ở nuôi thầy mẹ, sớm chiều cũng có anh (Đọc thêm) Bến đò Hà Thân xưa thuộc địa phận làng An Hải, nay là phường An Hải Tây, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Ngày trước, qua lại các bến đò có nhiều loại ghe thuyền, dân gian gọi là đò. Đò con có hai mái do một người chèo, lớn hơn một chút do hai người chèo – chèo lái và chèo mũi. Đò trung thì ba mái chèo gồm chèo lái, chèo khoang và chèo mũi. Đò lớn phải đến bốn người chèo, hơn thuyền trung một chèo dốc. Sông Hàn, tức Hàn Giang, là tên gọi một đoạn sông chảy trong nội thành thành phố Đà Nẵng, từ ngã ba sông giữa huyện Hòa Vang, quận Hải Châu và quận Ngũ Hành Sơn tới vịnh Đà Nẵng, tại chỗ giáp ranh giữa quận Hải Châu và quận Sơn Trà. Sông có dòng chảy từ Nam lên Bắc. Có 6 cây cầu qua sông Hàn tại nội thành Đà Nẵng, trong đó nổi bật nhất là cầu Tuyên Phước, cầu Sông Hàn. Hai bên bờ sông Hàn có hai tuyến đường Bạch Đằng Đông và Bạch Đằng Tây được xem là hai tuyến phố đẹp nhất thành phố này. Cửa sông Hàn là nơi có cảng Tiên Sa. Đoạn từ ngã ba sông nói trên ngược về phía thượng nguồn tới chỗ cầu Đỏ, được gọi là sông Mỹ Lệ. Đoạn tiếp theo về phía thượng nguồn gọi là sông Cầu Đỏ. Sông Cầu
  19. Đỏ do hai sông Yên và sông Túy Loan (còn gọi là sông Thủy Loan) hợp lại mà thành ở xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang. Sông Yên là một phân lưu của sông Vu Gia chảy từ bên huyện Đại Lộc của tỉnh Quảng Nam sang. Còn sông Túy Loan bắt nguồn từ phía Tây huyện Hòa Vang, chảy về phía Đông; đến xã Hòa Phong thì nhận hai chi lưu là sông Lỗ Đông ở hữu ngạn từ phía Tây Nam Hòa Vang chảy tới và một sông nhỏ bên tả ngạn. Câu 17: Vào triều đại nào trong lịch sử Việt Nam, Phật giáo được phát triển hưng thịnh nhất? Gợi ý trả lời: Nhà Lý. Trong suốt chặng đường hai ngàn năm hiện hữu trên đất Việt, đạo Phật đã hoà chung cùng bước thăng trầm lịch sử dân tộc. Tinh thần phóng khoáng, siêu việt giáo lý Phật được các bậc Tổ đức Thiền Sư kết hợp với bản sắc văn hoá cổ truyền yêu cuộc sống quê hương đất nước của nhân dân Việt Nam. Trong trang sử vàng đó phải kể đến thời kỳ “hoàng kim” Phật giáo thời Lý. Dưới triều đại Lý, cuộc kháng chiến chống Tống xâm lược (1075-1077) đã kết thúc thắng lợi. Nho giáo đang có những tác động cố vươn lên chiếm địa vị tư tưởng quần chúng, nhưng uy tín của Phật giáo không vì thế mà kém sút, ngược lại đã phát triển tới đỉnh cao bởi lòng sùng kính của các vị Vua anh minh với sự đóng góp trí tuệ vào công cuộc xây dựng đất nước của các Thiền Sư, Quốc Sư. Các Vua Nhà Lý Sùng Kính Phật Giáo 1. Lý Thái Tổ (974-1028) Vua tên húy Công Uẩn miếu hiệu Thái Tổ, sinh ngày 12/02 Giáp Tuất (08/03/974) mất ngày 03/03 Mậu Thìn (31/03/1028) thọ 55 tuổi, vốn xuất thân từ chốn Thiền môn, được Quốc Sư Vạn Hạnh giúp đỡ làm quan triều Lê tới chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Ông là người thông minh nhân ái, có chí lớn lập được nhiều chiến công, năm 35 tuổi (15/03/1009) được tôn là Vua khai sinh vương triều Lý, đổi niên hiệu Thuận Thiên, dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Ngay khi lên ngôi đã có chính sách rất trọng đãi Phật giáo: ban phẩm phục cho Tăng Ni, xây dựng 8 ngôi Chùa mới: Chùa Hưng Thiên Ngự, Vạn Tuế, Thắng Nghiêm, Thiên Vương Cẩm Y, Long Hưng, Thánh Thọ, Thiên Quang, Thiên Đức. Năm 1014, Tăng thống Thẩm Văn Uyển lập giới đàn ở Chùa Vạn Tuế. Năm 1016, độ một ngàn dân kinh đô Thăng Long xuất gia Năm 1019, lại một lần nữa độ dân làm Tăng sĩ, cũng năm này sai sứ thần Phạm Hạc và Đạo Thanh qua Trung Quốc thỉnh Đại tạng. Năm 1024, lập Chùa Chân Giáo. Năm 1026, Vua sắc lệnh đúc chuông Chùa Hưng Thiên, Đại Giáo, Thắng Nghiêm. 2. Lý Thái Tôn (1000-1054) Vua húy Phật Mã, còn có tên là Đức Chính, con trưởng Thái Tổ, sinh 26/06 Canh Tý (29/07/1000), mất 01/10 Giáp Ngọ (03/11/1054) thọ 55 tuổi, được đăng quang nối ngôi Thái Tổ từ 1028-1054, làm Vua 27 năm, trị vì trong giai đoạn thịnh trị; là người nhân từ, sùng kính đạo Phật, chú ý đến đời sống nhân dân, coi trọng việc mở mang kinh tế. Khi Thái Tổ lên ngôi, được phong là “Khai Thiên Đại Vương.” Dưới thời Vua soạn bộ “Kinh thư” làm nền tảng pháp luật triều đình, thơ “Truy tán Thiền Sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi”, bài kệ “Thị chư Thiền Lão tham vấn Thiền Thiền chỉ.” Tháng 8 Thiên Thành thứ 4 (1031), chiến thắng Chiêm Thành, sắc lập dựng 95 ngôi Chùa để tạ ân, miễn thuế cho dân một năm. Năm 1034, đổi niên hiệu Thông Thuỵ, dựng thêm tàng Kinh Trùng Hưng, thỉnh Đại
  20. Tạng Kinh (lần thứ 3 nước Việt thỉnh Đại tạng ở Trung Hoa) Năm 1036, chép sao Đại tạng để ở kho Trùng Hưng. Năm 1049, sắc dựng Chùa Diên Hựu và Nhất Trụ theo thế hoa sen. Vua Thái Tông là đệ tử đắc pháp của Thiền Lão (đời thứ 7 phái Vô Ngôn Thông) 3. Lý Thánh Tông (1023-1072) Vua húy Nhật Tôn, là con trưởng Thái Tông, sinh ngày 25/02 Quý Hợi (19/03/1023), mất ngày Canh Dần Tháng giêng năm Nhâm Tý (tháng 02/1072), thọ 50 tuổi, làm Vua 18 năm; là Vua thông minh nhân từ, chủ trương khoan giảm luật hình, coi nhẹ nghề nông, mở mang việc học, là người đầu tiên xây dựng văn miếu, mở khoa thi, sùng kính đạo Phật. Bài “Cố Động Thiên công chúa, vị ngục lại” (nhìn công chúa Động Thiên, bảo lính ngục) và bài “gặp tiết đại hàn bảo các quan tả hữu” là những bản chiếu chỉ mang tính nhân đức từ bi của Vua. Năm 1056, lập Chùa Sùng Khánh, xây “Tư Thiên Báo Thắng Tháp” gọi tắt là Tháp Báo Thiên, 12 tầng (1 trong 4 kỳ quan Phật giáo nhà Lý): Tháp Báo Thiên, Chuông Quy Điền, tượng Quỳnh Lâm, Vạc Phổ Minh. Năm 1057, tạc tượng Di Đà ở Tiên Du. Năm 1058, xây Tháp Tường Long ở Đồ Sơn, Hải Phòng. Năm 1069, tôn vinh Thiền Sư Thảo Đường làm Quốc Sư, lập Thiền phái Thảo Đường ở Việt Nam tại Chùa Khai Quốc (Trấn Quốc). Vua là thế hệ thứ 2 dòng Thiền này. Năm 1070, lập văn miếu ở Thăng Long, dựng Chùa Nhị Thiên Vương. Năm 1071, viết chữ “Phật” ở núi Tiên Du cao 1 trượng 6 thước. 4. Lý Nhân Tông (1066-1128) Vua húy Càn Đức, con trưởng Thánh Tông và Nguyên Phi Ỷ Lan, sinh 25/01 Bính Ngọ (23/02/1066), mất tháng 12 Đinh Mùi (từ 4 đến 31/01/1027), thọ 62 tuổi, tức vị 56 năm (1072-1128). Ông là vị Vua kiệm ước, nhân ái và có tài. Lê Quý Đôn viết về Vua: “xứng đáng là vị anh quân đời Lý”; được các bề tôi giúp đỡ, nhân dân ủng hộ, dẹp tan âm mưu xâm lược của quân Tống, quan tâm đến công việc nhà nông, xuống chiếu cấm giết trâu bò; đối với văn học lập Quốc Tử Giám, mở khoa thi Tam trường. Vua rất sùng kính Phật giáo, là tác giả bài truy tán Thiền Sư Vạn Hạnh; truy tán Thiền Sư Sùng Phạm, tán Giác Hải Thiền Sư, Thông Huyền đạo nhân. Trước lúc băng hà Vua để lại “Lâm chung di chiếu” mang tính nhân từ, kiệm ước, khiêm cung của một hoàng đế Phật tử. Năm 1081, sai sứ Lương Dụng Luật qua Tống thỉnh Kinh. Năm 1086, dựng Chùa Lâm Sơn, xây dựng Tháp đá tại Quế Dương (Bắc Ninh) Năm 1098, sai sứ nguyễn Văn Tính qua Tống thỉnh Kinh. Năm 1105, dựng 3 Tháp đá ở Chùa Lâm Sơn. Năm 1112, khánh thành Tháp Sùng Thiện Diên Linh ở Đại Sơn (Hà Nam) Năm 1114, dựng lầu Thiên Phật. Năm 1118, Vua Chiêm Thành và Chân Lạp sai sứ mang lễ vật đến triều cống, Vua mở hội lễ Phật lớn. Ngoài 4 vị tiên đế, các vị Vua sau như Thần Tôn, Anh Tôn, Cao Tôn, Huệ Tôn cũng rất sùng kính Phật. Vua Lý Huệ Tôn năm 1224 truyền ngôi cho công chúa Chiêu Thánh, xuất gia tại Chùa Chân Giáo với pháp danh Huệ Quang Đại Sư. Chính Trị, Văn Hoá, Thẩm Mỹ, Chùa Chiền, Kinh Điển, Phật Giáo Thời Lý Các Thiền Sư Vạn Hạnh, Thiền Sư Tăng Thống Huệ Sinh, Đạo Hạnh, Quốc Sư Minh Không, Chân Không, Viên Thông thuộc phái Tỳ Ni Đà Lưu Chi; Quốc Sư Thông Biện,

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản