Các chỉ tiêu phân tích kỹ thuật

Chia sẻ: Nguyen Thanh Thanh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:1

1
390
lượt xem
171
download

Các chỉ tiêu phân tích kỹ thuật

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Quy mô thị trường được dùng để đo lường sức mạnh của một thị trường đang thăng tiến hay suy giảm, và được đo lường bằng chỉ số TRIN. TRIN (TRaders' Index) là tỷ số của quy mô cổ phiếu suy giảm bình quân so với quy mô cổ phiếu thăng tiến bình quân.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Các chỉ tiêu phân tích kỹ thuật

  1. Các chỉ tiêu phân tích kỹ thuật 1. Quy mô thị trường. Quy mô thị trường được dùng để đo lường sức mạnh của một thị trường đang thăng tiến hay suy giảm, và được đo lường bằng chỉ số TRIN. TRIN (TRaders' Index) là tỷ số của quy mô cổ phiếu suy giảm bình quân so với quy mô cổ phiếu thăng tiến bình quân. Richard Amrs đã phát triển chỉ số TRIN (hay chỉ số Arms) như là một dụng cụ để nhận ra mức độ mua bán quá mức của thị trường. Bởi vì phương pháp tính toán của chỉ số TRIN, nên chỉ số TRIN có một mối quan hệ nghịch đảo với thị trường. thông thường, một chỉ số TRIN đang tăng nghĩa là thị trường đang có xu hướng giảm giá và một chỉ số TRIN đang giảm nghĩa là thị trường đang có xu hướng tăng giá. Công thức: Ví dụ: Có 2000 loại chứng khoán đã tăng giá, 1000 loại chứng khoán giảm giá, trong khi đã tăng 40,000 triệu cổ phiếu, và giảm 20,000 triệu cổ phiếu. TRIN = (2,000:1,000)/(40,000:20,000) = 1,00. Tương tự cho cột 2 và cột 3 chỉ số TRIN lần lượt là 1,40 và 0,75.. Nhận xét: TRIN > 1 Thị trường giảm.
  2. TRIN
  3. môi giới bằng cách dùng khoản đầu tư làm thế chấp. Cũng như khi mua bằng TK ký quỹ, rất dễ để khoản thua lỗ trở nên mất kiểm soát vì NĐT phải đáp ứng yêu cầu về mức ký quỹ duy trì tối thiểu là 25%. Nếu TK của NĐT rơi xuống dưới mức này, NĐT sẽ nhận được yêu cầu đóng tiền ký quỹ; NĐT buộc phải nộp thêm tiền mặt vào TK hoặc thanh lý số chứng khoán đang nắm giữ.  Nếu tổng khối lượng bán khống tăng lên, theo dự đoán của người bán khống giá thị trường sẽ giảm đi.  Mặt khác khi giao dịch bán khống được tất toán (nhà đầu tư mua lại để trả cho công ty chứng khoán) mức cầu phát sinh do việc mua cổ phiếu sẽ đẩy giá lên. 4. Giao dịch lô lớn Giao dịch lô lớn là giao dịch có khối lượng từ 20,000 chứng khoán trở lên của nhà đầu tư có tổ chức, nên giao dịch lô lớn có tính chất dẫn dắt thị trường. Lô giao dịch:  Giao dịch lô lẻ (số lượng từ 1 đến 9 cổ phiếu).  Giao dịch lô chẵn (số lượng từ 10 đến 19.990 cổ phiếu, chứng chỉ quỹ).  Giao dịch lô lớn (giao dịch thoả thuận) giao dịch có số lượng ≥ 20.000 cổ phiếu, chứng chỉ quỹ. Không quy định đơn vị giao dịch đối với giao dịch thỏa thuận trái phiếu  Nếu giao dịch lô lớn do người mua khởi xướng, sẽ khiến cho giá thị trường tăng lên.  Nếu giao dịch lô lớn do người bán khởi xướng sẽ là giao dịch giá xuống. Gọi X là tỷ lệ giá lên/giá xuống của giao dịch lô lớn: + Nếu X > 1: Xu thế giá lên. + Nếu X < 1: Xu thế giá xuống. 5. Sủ dụng phương pháp số dư trên tài khoản giao dịch  Số dư có trên tài khoản giao dịch : Số dư có xuất hiện khi nhà đầu tư bán chứng khoán mà không rút tiền ra khỏi tài khoản giao dịch với hy vọng tiếp tục tái đầu tư.
  4. Các nhà phân tích kỹ thuật xem số dư có trên tài khoản giao dịch là sức mua tiềm năng. Khi số dư này giảm xuống là xu thế của giá xuống. Khi số dư này tăng lên là xu thế của giá lên. Số liệu tổng hợp về tình hình tài khoản giao dịch của nhà đầu tư được công bố trên một số tạp chí tài chính.  Số dư nợ trên tài khoản giao dịch: Số dư nợ trên tài khoản giao dịch phản ánh thái độ của một số nhà đầu tư có kiến thức chuyên và kỹ năng chuyên sâu trong việc thực hiện các giao dịch kí quỹ ( Giao dịch kí quỹ là giao dịch là việc mua hoặc bán chứng khoán trong đó nhà đầu tư không có hoặc chỉ có một phần tiền hoặc chứng khoán, phần còn lại do công ty chứng khoán cho vay). Khi số dư nợ gia tăng sẽ là dấu hiệu của xu thế giá lên, vì nhà đầu tư vay mượn nhiều để mua chứng khoán, sức mua trên thị trường tăng lên. Ngược lại khi số dư nợ giảm xuống sẽ là dấu hiệu bán ra vì những người đầu tư khôn ngoan này muốn kết thúc một chu kì giao dịch. Đồng thời, nó cũng phản ánh sự giảm sút của luồng vốn sẵn sàng tham gia vào thị trường và sẽ là dấu hiệu của xu thế giá xuống.  Thực tế thì các nhà đầu tư thường theo dõi lượng tiền tại các quỹ đầu tư, hoặc số dư tài khoản của các nhà môi giới. Các quỹ hỗ tương thường nắm giữ một phần giá trị của danh mục đầu tư dưới dạng tiền mặt vì thứ nhất, quỹ luôn cấn tiền mặt để đảm bảo khả năng thanh toán cho các CK do những người chủ quỹ bán lại cho quỹ và thứ hai là tiền thu được từ hoạt động kinh doanh CK của quỹ có thể chưa được đầu tư kịp thời. Một quỹ hỗ tương có lượng tiền mặt cao có thể được coi là một chỉ dẫn đầu tư giá tăng cho nhà đầu tư, bởi vì khả năng mua vào tiềm tàng của nó rất cao và ngược lại một tỷ suất tiền mặt thấp nghĩa là các quỹ này đã mua vào rất nhiều nên khả năng mua vào tiếp là rất nhỏ mà khả năng bán ra rất cao như là chỉ dẫn đầu tư giá hạ cho nhà đầu tư. 6. Tỷ lệ giữa quyền lựa chọn mua và quyền lựa chọn bán (Put/Call option) Quyền chọn bán (Call option): Cho phép người nắm giữ quyền được bán cổ phiếu với một giá cụ thể trong một khoảng thời gian xác định khi cổ phiếu có dấu hiệu giá xuống. Quyền chọn mua (Put option): Cho phép người nắm giữ quyền được mua cố phiếu với một giá cụ thể trong một khoảng thời gian xác định khi cổ phiếu có dấu hiệu giá lên.  Khi tỷ số Put/Call option (mua/bán)
  5.  Khi tỷ số Put/Call option (mua/bán) >1 thị trường đang có xu hướng tăng giá.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản