Các đề ôn môn lịch sử đảng cộng sản việt nam

Chia sẻ: Chu Văn Kiền | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:35

0
166
lượt xem
68
download

Các đề ôn môn lịch sử đảng cộng sản việt nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Câu 1 : Đ ối tượng nghiên cứu và chức năng cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học như thế nào? Ý nghĩa của việc nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học. - Đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học Chủ nghĩa xã hội khoa học có đối tượng nghiên cứu là: những quy luậtvà tính quy luật chính trị - xã hội của quá trình phát sinh, hình thành và phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa; những nguyên tắc cơ bản, những điều kiện, con đường, hình thức và phương...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Các đề ôn môn lịch sử đảng cộng sản việt nam

  1. Câu 1 : Đối tượng nghiên cứu và chức năng cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học như thế nào? Ý nghĩa của việc nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học. - Đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học Chủ nghĩa xã hội khoa học có đối tượng nghiên cứu là: những quy luậtvà tính quy luật chính trị - xã hội của quá trình phát sinh, hình thành và phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa; những nguyên tắc cơ bản, những điều kiện, con đường, hình thức và phương pháp đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân để thực hiện sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản (và các chế độ tư hữu) lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Sự chuyển biến từ các chế độ tư hữu, từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội... mang tính quy luật khách quan của lịch sử nhân loại. Nhưng vì đó là vấn đề xã hội, quy luật xã hội cho nên nó không tự diễn ra như quy luật tự nhiên mà đều thông qua những hoạt động của con người. Nhân tố Người ở đây lại trước hết là giai cấp công nhân hiện đại. Với ý nghĩa đó, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin khái quát rằng: "Chủ nghĩa cộng sản... là sự biểu hiện lý luận của lập trường của giai cấp vô sản" , là "sự khái quát lý luận về những điều kiện giải phóng của giai cấp vô sản" gắn với giải phóng con người, giải phóng xã hội. Những nội dung lý luận khoa học chung nhất của chủ nghĩa xã hội khoa học mà chủ nghĩa Mác-Lênin nêu ra cần được vận dụng cụ thể, đúng đắn và phát triển sáng tạo ở mỗi nước, trong những giai đoạn và hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Nếu ở đâu biến những lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học thành những công thức giáo điều thì ở đó đã làm mất tính biện chứng - khoa học và cách mạng cũng như giá trị và sức sống của chủ nghĩa xã hội khoa học. Trong hệ thống nội dung lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học có những phạm trù, khái niệm, vấn đề mang tính quy luật rất cơ bản sau đây: "giai cấp công nhân" và "sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân" (gắn với đảng cộng sản"); "hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa" (trong đó đặc biệt là "xã hội xã hội chủ nghĩa"); "cách mạng xã hội chủ nghĩa"; "nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước xã hội chủ nghĩa"; "cơ cấu xã hội - giai cấp, liên minh công nông và các tầng lớp lao động..."; "vấn đề tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội", "vấn đề dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội"; "vấn đề gia đình trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội"; "vấn đề nguồn lực con người trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội"; "thời đại ngày nay"... - Chức năng cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học : Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ trang bị những tri thức khoa học, đó là hệ thống lý luận chính trị - xã hội và phương pháp luận khoa học mà chủ nghĩa Mác-Lênin đã phát hiện ra và luận giải quá trình tất yếu lịch sử dẫn đến hình thành, phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Chức năng này cũng thống nhất với chức năng của triết học Mác-Lênin và kinh tế chính trị học Mác-Lênin, nhưng trực tiếp nhất là trang bị lý luận nhận thức về cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã
  2. hội. Không làm được chức năng này, chủ nghĩa xã hội khoa học sẽ không thể cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp nhận thức về chính trị - xã hội cho người nghiên cứu và hoạt động thực tiễn trong cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là cho các đảng cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa với chức năng lãnh đạo và quản lý xã hội. Thứ hai, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ trực tiếp nhất là giáo dục, trang bị lập trường tư tưởng chính trị của giai cấp công nhân cho đảng cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động - lập trường xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. Chính các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học đã có công lớn là xây dựng hệ thống lý luận phản ánh sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân rồi tuyên truyền, giáo dục trở lại cho giai cấp công nhân hiện đại hiểu về sứ mệnh lịch sử và bản chất của chính mình. Hệ thống lý luận đó đã trở thành hệ tư tưởng của giai cấp công nhân hiện đại. Không có hệ tư tưởng cách mạng và khoa học, không có lập trường và bản lĩnh chính trị xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thì giai cấp công nhân, đảng của nó và nhân dân lao động không thể tiến tới giành chính quyền và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; không thể đấu tranh với các hệ tư tưởng và các hoạt động thù địch chống chủ nghĩa xã hội, chống nhân dân lao động. Thứ ba, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ định hướng về chính trị - xã hội cho mọi hoạt động của giai cấp công nhân, của đảng cộng sản, của nhà nước và của nhân dân lao động trên mọi lĩnh vực, sao cho sự ổn định và phát triển của xã hội luôn luôn đúng với bản chất, mục tiêu xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa; tức là qua từng nấc thang phát triển, tính chất xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thuộc mọi lĩnh vực của xã hội thể hiện ngày càng rõ hơn và hoàn thiện hơn. - ý nghĩa của việc nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học : Về mặt lý luận: Việc nghiên cứu, học tập, vận dụng và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin là phải chú ý cả ba bộ phận hợp thành của nó. Nếu không chú ý nghiên cứu, học tập, vận dụng, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học sẽ làm cho triết học, kinh tế chính trị học Mác-Lênin dễ chệch hướng chính trị - xã hội, trước hết và chủ yếu là chệch hướng bản chất, mục tiêu là xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, giải phóng hoàn toàn xã hội và con người khỏi các chế độ tư hữu, áp bức, bất công, chiến tranh, nghèo nàn lạc hậu và mọi tai họa xã hội khác... mà thực tế lịch sử nhân loại đã từng chứng kiến. Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học còn có ý nghĩa lý luận là: trang bị những nhận thức chính trị - xã hội (như đối tượng, chức năng, nhiệm vụ và phương pháp của chủ nghĩa xã hội khoa học đã nêu trên) cho đảng cộng sản, nhà nước và nhân dân lao động trong quá trình bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội... Vì thế, các nhà kinh điển Mác-Lênin có lý khi xác định rằng, chủ nghĩa xã hội khoa học là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân hiện đại và đảng của nó để thực hiện quá trình giải phóng nhân loại và giải phóng bản thân mình. Cũng như triết học và kinh tế chính trị học Mác- Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học không chỉ giải thích thế giới mà căn bản là ở chỗ cải tạo thế giới (cả tự nhiên, xã hội và bản thân con người) theo hướng tiến bộ, văn minh. Đội ngũ trí thức và thế hệ trẻ nước ta hiện nay là những lực lượng xã hội có trí tuệ, có nhiều
  3. khả năng và tâm huyết trong quá trình cải tạo và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nếu chỉ thuần tuý chú trọng về khoa học và công nghệ, phi chính trị, hoặc mơ hồ về chính trị và vi phạm pháp luật, họ càng không thể góp tài góp sức xây dựng Tổ quốc của mình. Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học chính là việc được trang bị trực tiếp nhất về ý thức chính trị - xã hội, lập trường tư tưởng chính trị và bản lĩnh cho mỗi cán bộ, đảng viên và mọi công dân Việt Nam góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng đề ra. Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học cũng làm cho ta có căn cứ nhận thức khoa học để luôn cảnh giác, phân tích đúng và đấu tranh chống lại những nhận thức sai lệch, những tuyên truyền chống phá của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động đối với Đảng ta, Nhà nước, chế độ ta; chống chủ nghĩa xã hội, đi ngược lại xu thế và lợi ích của nhân dân, dân tộc và nhân loại tiến bộ. Về mặt thực tiễn, bất kỳ một lý thuyết khoa học nào, đặc biệt là các khoa học xã hội, bao giờ cũng có khoảng cách nhất định so với thực tiễn, nhất là những dự báo khoa học có tính quy luật. Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học lại càng thấy rõ những khoảng cách đó, bởi vì chủ nghĩa xã hội trên thực tế, chưa có nước nào xây dựng hoàn chỉnh. Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, cùng với thoái trào của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, lòng tin vào chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa Mác-Lênin của nhiều người có giảm sút. Đó là một thực tế dễ hiểu. Vì thế, nghiên cứu, giảng dạy chủ nghĩa xã hội khoa học càng khó khăn trong tình hình hiện nay và cũng có ý nghĩa chính trị cấp bách. Chỉ có bình tĩnh và sáng suốt, kiên định và chủ động sáng tạo tìm ra những nguyên nhân cơ bản và bản chất của những sai lầm, khuyết điểm, khủng hoảng, đổ vỡ và của những thành tựu to lớn trước đây cũng như của những thành quả đổi mới, cải cách ở các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta mới có thể đi tới kết luận chuẩn xác rằng: không phải do chủ nghĩa xã hội - một xu thế xã hội hoá mọi mặt của nhân loại; cũng không phải do chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học... làm các nước xã hội chủ nghĩa khủng hoảng. Trái lại, chính là do các nước xã hội chủ nghĩa đã nhận thức và hành động trên nhiều vấn đề trái với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác-Lênin... đã giáo điều, chủ quan duy ý chí, bảo thủ, kể cả việc đố kỵ, xem nhẹ những thành quả chung của nhân loại, trong đó có chủ nghĩa tư bản; đồng thời do xuất hiện chủ nghĩa cơ hội - phản bội trong một số đảng cộng sản và sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc thực hiện âm mưu diễn biến hoà bình đã làm cho chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào thoái trào. Thấy rõ thực chất những vấn đề đó một cách khách quan, khoa học; đồng thời được minh chứng bởi thành tựu rực rỡ của sự nghiệp đổi mới, cải cách của các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, chúng ta càng củng cố bản lĩnh kiên định, tự tin tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Do đó, việc nghiên cứu học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, lý luận chính trị - xã hội nói riêng và các khoa học khác... càng là vấn đề thực tiễn cơ bản và cấp thiết.
  4. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống mọi biểu hiện cơ hội chủ nghĩa, dao động, thoái hoá, biến chất trong đảng và cả xã hội, giáo dục lý luận chính trị - xã hội một cách cơ bản khoa học tức là ta tiến hành củng cố niềm tin thật sự đối với chủ nghĩa xã hội... cho cán bộ, học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên và nhân dân. Tất nhiên đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và mở rộng hợp tác quốc tế; tiến hành hội nhập quốc tế, toàn cầu hoá về kinh tế; xây dựng "kinh tế tri thức", thực hiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa... đang là những vận hội lớn, đồng thời cũng có những thách thức lớn đối với nhân dân ta, dân tộc ta. Đó cũng là trách nhiệm lịch sử rất nặng nề và vẻ vang của cả thế hệ trẻ đối với sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa trên đất nước ta. Câu 2 : chủ nghĩa xã hội không tưởng là gì? Làm rõ sự khác nhau về chất chủ nghĩa xã hội không tưởng và chủ nghĩa xã hội khoa học. Chủ nghĩa xã hội không tưởng là những tư tưởng, những học thuyết biểu hiện dưới dạng chưa đầy đủ, chưa chín muồi những nguyện vọng của quần chúng nhân dân muốn xoá bỏ áp bức, bóc lột và mọi bất công của xã hội, mong muốn xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, bác ái, mọi người sống tự do, hạnh phúc. Những tư tưởng đầu tiên của chủ nghĩa xã hội không tưởng xuất hiện từ thời cổ đại phản ánh sự phẫn uất của quần chúng đối với những hành vi áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị và mơ ước của họ về một xã hội công bằng, tốt đẹp hơn. Ch ủ nghĩa xã hội không tưởng với tính cách là một học thuyết ra đời vào thời kỳ hình thành chủ nghĩa tư bản, phê phán xã hội đương thời và hướng tới một xã hội công bằng không có áp bức, bóc lột. câu 2. Trình bày tóm tắt lịch sử tư tưởng XHCN trước Mác. Hãy so sánh và làm rõ sự khác nhau về chất giữa CNXH không tưởng và CNXH khoa tưởng. Trả lời. a- Tóm tắt. +Kn. Về CNXH không tưởng.CNXH không tưởng là những tư tưởng những học thuyết được biểu hiện dưới dạng chưa đầy đủ. Chưa chín muồi những mong muốn, những nguyện vọng của quần chúng nhân dân lao động muốn xoá bỏ mọi áp bức, bóc lộc, bất công của xã hội , muốn xây dựcng một xã hội tốt đẹp , công bằng, bình đẳng, bác ái, đảm bảo cho mọi người được đời sống trong tự do, hạnh phúc. + Những tư tưởng về CNXH không tưởng được xuất hiện từ thời kỳ cổ đại, được phát triển và trở thành một học thuyết vào thời kỳ hình thành CNTB và phát triển tới đỉnh cao là CNXH không tưởng phê phán đầu thế kỷ XI X +Quá trình hình thành và phát triển của CNXH không tưởngNhững tư tưởng XHCN đầu tiên được ra đời từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ đến hết thời kỳ trung cổ( từ thế kỷ V trước công lịch đến hết thé kỷ XV) khi cộng đồng nguyên thuỷ tan rã xã hội bắt đầu diễn ra sự phân hóa giai cấp. Sự ra đời và tồn tại của xã hội chíem hữu nô lệ gắn liền với áp bức bóc lột bất công vô nhân đạo do giai cấp thống trị gây nên từ thực trạng xã hội đó , trong các giai cấp bị áp bức bóc lột đã xuất hiện những tư tưởng muốn phủ định xã hội thối nát đương thời và mong muốn ứơc mơ xây dựng một xã hội tương lai công bằng, bình đẳng , bác ái và hạnh phúc cho quần chúng nhân dân lao động, những tư tưởng XHCN sơ khai được thể hiện qua nội dung những truyền thuyết dân gian , những huyền thoại tôn giáo được lưu truyền trong nhân dân từ đời này qua đời khác ở cả phương tây lẫn phương
  5. Đông Tư tưởng đó được thể hiện ,một mặt là sự phản ánh nỗi bất bình, căm phẫn của đông đảo những người lao động với những hành vi áp bức bóc lột tàn bạo và vô nhân đạo của giai cấp thống trị và muốn phủ định nó mặt khác nó cũng phản ánh những ứơc mơ khát vọng về một xã hôi tương lai tốt đẹp công bằng tự do , nhân đạo và hạnh phúc cho những người lao động. Tuy nhiên những yêu sách ,cách thức, phương pháp con đường đề đạt tới những ước mơ khát vọng đó còn hết sức mơ hồ , ảo tưởng, tản mạn thậm trí còn thể hiện sự bất công muốn quay về với chế độ cộng đồng Nguyên thuỷ xưa , coi đó là “thời kỳ hoàng kim” nhất. +Những tư tưởng XHCN thừ thế kỷ XVI- XI X Đây là thời kỳ ra đời và phát triển CNTB thì những tư tưởng CNXH cũng tiếp tục được phát triển và được biể hiện dưới dạng chín muồi hơn Từ thế kỷ XVI – XVII –Thời kỳ này chủ nghĩa tư bản đã lần lượt ra đời ở một số nước Châu Âu ( Anh, Hà Lan- Pháp ) Sự ra đời của CNTB gắn liền với những hầnh vi cưỡng bức ,chiếm đoạt áp bức bóc lột rất tàn bạo đối với những người lao động . Trong bối cảnh lịch sử ấy đã xuất hiện những nhà CNXH không tưởng mà tiêu biểu là T.Mở (Người Anh) Câmpnenla (Người ý) … Những tư tưởng XHCN của các ông được thể hịên qua những chuyện kể, những tác phẩm văn học mà nội dung của nó một mặt phản ánh những bất công tàn bạocủa xã hội đương thời, mặt khác phác họa ra một mô hình xã hội lý tưởng - Đó là một xã hội thống nhất được tổ chức và quản lý chặt chẽ dựa trên chế độ sở hữu tập thể và lao động tập thể , mọi người đều phải lao động và được hưởng thành quả lao động của mình trong xã hội không còn tình trạng người áp bức bóc lột người, mọi người được sống trong bình đẳng , ấm lo tự do , hạnh phúc … + Đến thế kỷ thứ XVIII xuấthiện những nhà CNXH không tưởng xuất sắc như Mổenly, Mably, GrắcBabớp. Tư tưởng XHCN của các ông đã được đúc kết hệ thống hơn , có tính lý luận hơn , thậm trí trở thành cương lĩnh đấu tranh ,thành kế hoạch khởi nghĩa vũ trang dành chính quyền và những tư tưởng về xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn, nhân đạo hơn. + Bước sang thế kỷ XIV ở các nước tây Âu CNTB đã đạt được bước phát triển mới, đến đây CNXH không tưởng đã phát triển và đạt tới đỉnh cao về lý luận và mang tính phê phán sâu sắc . Tiêu biểu là ba CNXH không tưởng phê phán vĩ đại đó là xanh –xi –mông ( pháp) Phủric(Pháp) và Ooen (Anh) nội dung tư tưởng CNXH của các ông là phê phán và lên án nghiên khắc sự bất công, tàn bạo, những thảm hoạ mà CNTB gây nên đồng thời họ đứng về phía những người lao động , bênh vực cho những người lao động . Đồng thời họ đã phác hoạ ra một mô hình xã hội mới với tương lai tốt đẹp cho người lao động trên các mặt , chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội,giáo dục gia đình… một cách thiên tài . Tư tưởng CNXH ở thời kỳ này đã được thể hiện như một hõ thuyết có tính hệ thống hơn, chặt chẽ hơn song từ giữa thế kỷ Xĩ trở đi, khiđã có CNXH khoa học ra đời thì mọi trào lưu CNXH không tưởng đều trở nên lạc hậu nỗi thời thậm chí phản động về mặt lịch sử. b- So sánh CNXH không tưởng và CNXH khoa học đều là những tư tưởng , học thuyết về giải phóng con ngừoi, giải phóng xã hội khởi những tình trạng áp bức, bóc lột, bất công, tàn bạo, nó đều dựbáo phác hoạ về hướng về một xã hội tương lai tốt đẹp , công bằng bình đẳng, bác ái nhân đạo và tự do hạnh phúc cho quần chúng nhân dân lao động vì một xã hội tương lai tốt đẹp. Sự khác nhau về bản chất giữa CNXH không tưởng và CNXH khoa học . + CNXH không tưởngđược xây dựng chủ yếu từ những ước mơ từ lòng nhân đạo của các nhà tư tưởng tiến bộ đương thời chứ không phải từ những căn cứ thực tiễn và khoa học . Còn CNXH khoa học được xây dựng trên những căn cứ khoa học .Đó là điều kiện kinh tế chín muồi của CNTB và những tinh hoa trí tuệ của nhân loại đã đạt được đầu thế kỷ Xĩ + CNXH không tưởng không giải thích được bản chất của chế độ nô lệ làm thuê, không phát hiện được quy luật vận động của CNTB còn CNXH khoa học đã giải thích được đúng đắn bản chất của chế độ TBCN qua việc phát hiện ra quy luật giá trị thặng dư . Từ đó CNXH khoa học đã có được
  6. những luận cứ khoa học để khảng định sự diệt vong tất yếu của CNTB và sự thắng lợi tất yếu của CNXH. + CNXH không tưởng chưa nhận thứcđược vai trò của quầnchúng nhân dân và cũng chưa nhìn ravị trí to lớn của giai cấp vô sản trong việc xoá bỏ CNTB và kiến tạo một trạt tự xã hội mới còn CNXH khoa học đã nhận thức rõ vai trò to lớn của quần chúng quan trọng hơn là thấy rõ sức mạnh và vị trí trung tâm của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh xoá bỏ xã hội tư bản lỗi thời và xây dựng thành công CNXH văn minh nhân đạo. +CNXH không tưởng chưa vạch ra được phương pháp, con đường lối thoát đúng đắn cho xã họi đương thời. Còn CNXHkhoa học đã chỉ rõ con đường tất yếu và đúng đắn là con đường đấu tranh giai cấp , đấu tranh cách mạng để xoá bỏCNTB thối nát và xây dựng thành công xã hội mới-XHCN và CNCS. Sự khác nhau căn bản nói trên giữa CNXH không tưởng và CNXHkhoa học khẳng định bước phát triển về chất của CNXH khoa học sovới CNXH không tưởng nên CNXH khoa học đã trở thành lý luận khoa học và cách mang là vũ khí tư tưởng sắc bén nhất để hướng dẫn cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản và nhân dân laođộng toàn thế giới trong sự nghiệp giải phóng . 3Những điều kiện và tiền đề khách quan dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học - Điều kiện kinh tế - xã hội Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã phát triển mạnh mẽ gắn liền với sự ra đời và lớn mạnh của nền công nghiệp lớn. Cùng với sự lớn mạnh của giai cấp tư sản, giai cấp công nhân có sự gia tăng nhanh chóng về số lượng và sự chuyển đổi về cơ cấu. Tỷ trọng công nhân công nghiệp đã tăng đáng kể và trở thành bộ phận hạt nhân của giai cấp. Đây là lực lượng công nhân lao động trong khu vực sản xuất then chốt có trình độ công nghệ và kỹ thuật hiện đại nhất. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại sự thống trị áp bức của giai cấp tư sản, biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn ngày càng quyết liệt giữa lực lượng sản xuất có tính chất xã hội ngày càng cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Nhiều cuộc khởi nghĩa, nhiều phong trào đấu tranh đã bắt đầu có tổ chức và trên quy mô rộng khắp. Điều kiện kinh tế, xã hội ấy đòi hỏi phải có lý luận tiên phong dẫn đường, điều mà chủ nghĩa xã hội không tưởng trước đó một vài thập kỷ đã không thể đảm đương; không chỉ đặt ra yêu cầu đối với các nhà tư tưởng của giai cấp công nhân mà còn là mảnh đất hiện thực cho sự sinh thành ra lý luận mới, tiến bộ soi sáng sự vận động đi lên của lịch sử. - Những tiền đề kinh tế - xã hội quyết định cho s ự ra đời của chủnghĩa xã hội khoa học là s ự phát triển của phương thức sản xuấttư bản ch ủ nghĩa và s ự trưởng thành của giai cấp công nhân. + Vào những năm 40 của th ế k ỷ XIX, nền đại công nghiệp ở nhiềunước tư bản ch ủ nghĩa đ ã phát triển mạnh, ch ủ nghĩa tư bản đ ã bộcl ộ r õ bản chất v à những mâu thuẫn vốn c ó của nó. Đ ó l à mâu thuẫngiữa lực lượng sản xuất đ ã được x ã hội ho á cao với ch ế đ ộ chiếm hữutư nhân tư bản ch ủ nghĩa v ề tư liệu sản xuất. Mâu thuẫn đ ó ngàycàng tr ở nên không điều ho à v à được biểu hiện ra ngoài x ã hội lamâu thuẫn giữa giai cấp công nhân v à giai cấp tư sản ngày càng gaygắt.
  7. + Trong thời kỳ này, giai cấp vô sản đã trưởng thành và bướclên vũ đài với tư cách là một lực lượng chính trị độc lập trongcuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản. Tiêu biểu là những cuộckhởi nghĩa của công nhân Liông ở Pháp năm 1831-1834, côngnhân dệt Xilêdi ở Đức năm 1844 và đặc biệt là phong trào Hiếnchương ở Anh (1838-1848) là phong trào cách mạng to lớn đầutiên, thật sự có tính chất quần chúng và có hình thức chính trị.Những phong trào đ ó đã cung cấp những bài học cho sự khái quátl ý luận, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu bức thiết phải xây dựng mộthệ thống l ý luận khoa học, cách mạng để soi đường cho s ự pháttriển của phong trào. - Tiền đề tư tưởng - l ý luận: Ba trào lưu tư tưởng xuất hiện vàoth ế k ỷ XIX như triết học c ổ điển Đức, kinh t ế chính trị học Anh va ch ủ nghĩa x ã hội không tưởng - phê phán Pháp l à những tiền đ ề lyluận cho s ự ra đời của ch ủ nghĩa Mác. Mác v à Ăngghen đ ã tiếp thumột cách c ó phê phán các l ý luận này, khắc phục những hạn ch ế củachúng v à chứng minh bằng khoa học các tiên đoán thiên tài của cácvị tiền bối. - Tiền đề khoa học: những phát kiến về khoa học t ự nhiên, đặcbiệt là học thuyết về tế bào, định luật bảo toàn và chuyển hoánăng lượng, thuyết tiến ho á của Đácuyn đã cung cấp những cơ sở khoa học đ ể khẳng định thêm những nguyên lý của ch ủ nghĩa duyvật biện chứng và ch ủ nghĩa duy vật lịch sử. - Ngoài những tiền đề khách quan, ch ủ nghĩa xã hội khoa học rađời còn do công lao cống hiến của Mác và Ăngghen. Với quan niệmduy vật về lịch s ử và học thuyết giá trị thặng dư của Mác, chủ nghĩa xã hội đã t ừ không tưởng trở thành khoa học.Những tư tưởng cơ bản của ch ủ nghĩa xã hội khoa học đã đượcMác và Ăngghen trình bày trong "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản"- văn kiện có tính chất cương lĩnh đầu tiên của phong trào cộngsản và công nhân quốc tế. - Tiền đề văn hoá và tư tưởng Đầu thế kỷ XIX, nhân loại đã đạt nhiều thành tựu to lớn trên lĩnh vực khoa học, văn hoá và tư tưởng. Trong khoa học tự nhiên, những phát minh vạch thời đại trong vật lý học và sinh học đã tạo ra bước phát triển đột phá có tính cách mạng. Trong triết học và khoa học xã hội, phải kể đến sự ra đời của triết học cổ điển Đức với tên tuổi của các nhà triết học vĩ đại: Hêghen, Phoiơbắc; của kinh tế chính trị học cổ điển Anh: A. Smít và Đ. Ricácđô; của chủ nghĩa xã hội không tưởng - phê phán: H. Xanh Ximông, S. Phuriê và R. Ôoen. Những giá trị khoa học, cống hiến mà các ông để lại đã tạo ra tiền đề cho các nhà tư tưởng, các nhà khoa học thế hệ sau kế thừa. Vấn đề còn lại là ở chỗ ai là người có đủ khả năng kế thừa phát triển những di sản ấy và kế thừa, phát triển như thế nào? - Câu 4. Trình bày những đặc điểm riêng của giai cấp công nhân việt Nam và nêu nh ững ảnh hưởng của nó đến việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân nước ta Trả lời: - Giai cấp công nhân Việt Nam là một bộ phận của giai cấp công nhân quốc tế nhưng do điều kiện ra đời và hoàn cảnh lịch sử nứoc ta nên nó còn mang những đặc điểm riêng đó là: - Giai cấp công nhân việt Nam còn non trẻ ra đởi từ những năm đầu của thế kỷ XX ở một nứoc thuộc địa nửa phong kiến. Đó là giai cấp thuần nhất về tư tưởng , sớm tập trung về lực lượng, không có tầng lớp công nhân quý tộc, sớm tổ chức được chính Đảng của mình . - Giai cấp công nhân Việt Nam được thừa kế truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc hơn nữa nó lại bị ba tầng áp bức nặng nề nên có tinh thần cách mạng .
  8. - Giai cấp công nhân Việt Nam có mối liên hệ khăng khít thường xuyên , chặt chẽ với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức . - Giai cấp công nhân Việt Nam sớm tiếp thu ánh sáng cách mạng tháng mười nga của chủ nghĩa Mác – Lênin, không bị chi phối bởi chủ nghĩa cơ hội , sớm gắn bó mật thiết với phong trầo công nhân quốc tế . - Những đặc điểm trên đây của giai cấp công nhân Việt Nam đã có ảnh hưởng to lớn của nó. Bởi vì : - Do đặc điểm tập trung , sớm thống nhất cả về tư tưởng , tổ chức, sớm tổ chức được chính Đảng của mình, sớm tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lenin nên nó đã nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị tiên phong của dân tộc , đã xây dựng được cương lĩnh chính trị và đường lối cách mạng đứng đắn ngay từ buổi đầu vì vậy luôn giữ vững vai trò độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam. - Do có quan hệ mật thiết và gắn bó với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức nen giai cấp công nhân Việt Nam sớm tập hợp , đoàn kết và không ngừng phát huy sức mạnh của cả dân tộc trên nề tảng liên minh công –nông – tri thức . - + Do gắn bó với phong trào công nhân quốc tế và sớm tiếp thu tư tưởng Mác Lênin nên giai cấp công nhân Việt Nam đã sớm kết hợp và giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và giai cấp , kết hợp được sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại . - + Do không bị ảnh hưởng của chủ nghĩa cơ hội quốc tế II nên giai cấp công nhân Việt Nam luôn giữ vững được tính thống nhất về tư tưởng, đoàn két về tổ chức , vững vàng về chính trị kiên cường và triệt để trong đấu tranh cách mạng . - Chính vì những lẽ trên nên giai cấp công nhân Việt Nam thông qua chính Đảng của mình đã lãnh đạo nhân dân ta hoàn thành triệt để cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước từng bước quá độ lên CNXH. Chính quá trình thực hiện sự mệnh lịch sử đó đối với dân tộc cũng là sự đóng góp vào phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân toàn thế giới. - Tuy nhiên, do sinh ra và trưởng thành ở nước nông nghiệp lạc hậu, bị áp bức bóc lột nặng nề nên giai cấp công nhân Việt Nam còn có những hạn chế như: Trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, chuyên môn nghề nghiệp chưa cao, tác phong , tập quán, thói quen tâm lý còn ảnh hưởng năng lề của người sản xuất nhỏ chính nhưỡng hạn chế đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân. Ngày nay giai cấp công nhân Việt Nam đang lãnh đạo nhân dân ta tiến hành sư nghiệp đổi mới đất nước công nghiệp hoá và hiệnđại hoá đất nước để thực hiện mục tiêu dân giầu nước mạnh , xã hội công bằng văn minh điều đó đòi hỏi giai cấp công nhân Việt Nam cần khắc phục nhanh chóng những hạn chế của mình, phát triển giai cấp công nhân về cả số lượng , chất lượng khôngngừng nâng cao trình độ tư duy, trình độ tổ chức hoạt động thực tiễn … chỉ có như vậy mới đáp ứng được dòi hỏi của thực tiễn , mới hoàn thành được sứ mệnh đối với dân tộc . - Câu 5.1 Vì sao nói Đảng Công Sản là nhân tố quyết định trước tiên trong việc th ực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ? liên hệ với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam . - Trả lời. - A- Đảng cộng Sản – Nhân tố quyết định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là vấn đề khách quan. Để biến sứ mệnh lịch sử đó thành hiện thực thì giai cấp vô sản trước hết phải tổ chức được chính Đảng của mình để lãnh đạo quá trình đấu tranh cách mạng của giai cấp đó là mọt tất yếu. Đảng Cộng Sản là nhân tố quyết định thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân .Bởi vì : - + Đảng Cộng Sản là chính Đảng của giai cấp công nhân ,là đội tiên phong của giai cấp công nhân Đảng đại biểu chung thành lợi ích của giai cấp công nhân nhân dân lao động và cả dân tộc đo đó Đảng Cọng Sản là đọi tiên phong ,là lãnh tụ chính trị của bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân và nhân dân lao động với tư cách là đội tiên phong cách mạng Đảng Cọng Sản là đội ngũ những người tiên tiến giác ngộ nhất , cách mạng nhất được trang bị bởi lý luận cách mạng tiên phong là chủ nghĩa Mác lênin có tinh thần cách mạng kiên cường và triệt để nhất . Với tư cách là lãnh tụ chính trị : Do được trang bị lý luận tiên phong là chủ nghĩa mác Lênin Đảng đã đề ra cương lĩnh đường lối , mục tiêu và phương hướng cách mạng đúng đắn. Đảng thực hiện sự lãnh đạo đối với giai cấp công nhân , nhân dân lao động và cả dân tộc để thực hiện mục tiêu cao cả là giải phóng con người, giải phóng xã hội. - Với tư cách là bọ tham mưu chiến đấu Đảng Cọng Sản còn đóng vai trò là người tổ chức, giáo dục chỉ đạo cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân , nhân dân lao động và cả dân tộc vì mục tiêu giải phóng giai cấp giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ mới - + Sự ra đời của Đảng Cọng Sản xẽ càng mở rộng và tăng cừông hơn sự sâm nhập của chủ nghĩa Mác – Lênin vào các phong trào cách mạng của đôn đảo quân chúng, điều đó càng thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển của sự nghiệp cách mạng mà giai cấp công nhân vừa là động lực vừa là lực lượng lãnh đạo. Như vậy sự ra đời của đảng đánh dấu sự phát triển về chất của phong trào công nhân từ tự phát đến tự giác. Đảng đại diện cho từng bước đi ,mục têu cho toàn bộ phong trào của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
  9. Do đó đảng là nhân tố đảm bảo việc thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân . Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Đảng cộng sản phải luôn vững mạnh về tư tưởng chính trị và tổ chức. Lênin đã khẳng định “đảng là trí tuệ ,danh dự và lương tâm của thời đại’’ b- Liên hệ với vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam . Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên phong chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân ,nhân dân lao động và cả dân tộc đảng láy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng kim chỉ nam cho hành động ,lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức hoạt động đảng. Ngay từ khi ra đời đến nay đảng ta luon lắm vững vai trò lãnh đạo cách mạng nước ta. Trong suốt quá trình cách mạng gần 70 năm qua đảng ta luôn xứng đáng là lực lượng tiên phong cách mạng nhất của dân tộc, đã lãnh đạo nhân dân ta hoàn thành thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và đưa cả nước tưng bừng quá độ lên CNXH. Ngày nay Đảng ta đang lãnh đạo nhân dân ta thực hiện sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước với mục tiêu. Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng , văn minh quyết tâm làm cho CNXH trở thành hiện thực trên đất nước ta. Câu 5.2: Vì sao nói Đảng Cộng Sản là nhân tố đảm bảo cho giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Liên hệ vai trò lãnh đạo của Đảng ta. 1/ Vai trò của Đảng Cộng Sản: Đảng Cộng Sản - tổ chức tiên phong của giai cấp công nhân là nhân tố có ý nghĩa quyết định trước tiên, là nhân tố đảm bảo cho giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Bởi vỉ trong cuộc đấu tranh để giành chính quyền và lãnh đạo xây dựng xã hội mới, giai cấp công nhân không có vũ khí nào quan trọng hơn là tổ chức. Hình thức tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân chính là Đảng Cộng Sản . Đảng Cộng Sản mang tính giai cấp. Bản chất của Đảng Cộng Sản thể hiện ở chỗ nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động cho Đảng Cộng Sản là CN Mac-Lenin, và mục đích lợi ích của đảng là thống nhất với mục đích và lợi ích của giai cấp công nhân. Đảng Cộng Sản vận dụng sáng tạo CN Mac-Lenin, phân tích hoàn cảnh cụ thể trong mỗi giai đoạn CM từ đó đề ra mục tiêu , phương hướng CS đúng đắn, phù hợp với yêu cầu phát triển khách quan của đất nước. Đảng cũng giáo dục, tổ chức lãnh đạo toàn thể nhân dân thực hiện công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Đảng Cộng Sản vừa nắm vai trò tiên phong nâng quần chúng lên giác ngộ ý thức giai cấp , vừa gắn bó máu thịt với giai cấp công nhân, trung thành tuyệt đối với sự nghiệp CM của giai cấp công nhân . Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản , giai cấp công nhân cũng như tầng lớp nhân dân lao động mới phát huy được toàn bộ sức mạnh của chính mình. Thực tế LS cho thấy nếu không tổ chức được một Đảng Cộng Sản lấy CN Mac-Lenin làm nền tảng tư tưởng, trung thành với sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân thì không những giai cấp công nhân không thể vươn tới cuộc đấu tranh giai cấp có ý thức mà cũng không thể trở thành giai cấp lãnh đạo quần chúng bị áp bức bóc lột để lật đổ giai cấp tư sản, cải tạo xã hội theo XHCN. 2/ Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản VN: Trước năm 1930, Đảng Cộng Sản VN chưa ra đời, phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ (PTCN Ba Son, PTCN nhà máy dệt Nam Định) nhưng thất bại do khủng hoảng về đường lối (tự phát). Sau 1930, Đảng Cộng Sản VN ra đời vào ngày 3/2/1930 đã vạch ra cương lĩnh CM VN và lãnh đạo nhân dân ta hoàn thành sự nghiệp CMDTDCND, đưa đất nước quá độ lên CNXH. Đảng ta đã đề ra và lãnh đạo công cuộc đổi mới, đưa đất nước từng bước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng và đang bước vào thời kỳ CNH-HĐH. Như vậy, Đảng Cộng Sản VN đã thể hiện vai trò lãnh đạo , tinh thần phụ trách trước giai cấp và dân tộc khi thắng lợi cũng như lúc khó khăn, khi thành công cũng như lúc sai lầm, khuyết điểm. Mặt khác, Đảng luôn tự đổi mới, hoàn thiện về mọi mặt để đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn CM trong mỗi giai đoạn phát triển mới.
  10. - Câu 6. Trình bày những đặc điểm riêng của giai cấp công nhân việt Nam và nêu nh ững ảnh hưởng của nó đến việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân nước ta - Trả lời: - Giai cấp công nhân Việt Nam là một bộ phận của giai cấp công nhân quốc tế nhưng do điều kiện ra đời và hoàn cảnh lịch sử nứoc ta nên nó còn mang những đặc điểm riêng đó là: - Giai cấp công nhân việt Nam còn non trẻ ra đởi từ những năm đầu của thế kỷ XX ở một nứoc thuộc địa nửa phong kiến. Đó là giai cấp thuần nhất về tư tưởng , sớm tập trung về lực lượng, không có tầng lớp công nhân quý tộc, sớm tổ chức được chính Đảng của mình . - Giai cấp công nhân Việt Nam được thừa kế truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc hơn nữa nó lại bị ba tầng áp bức nặng nề nên có tinh thần cách mạng . - Giai cấp công nhân Việt Nam có mối liên hệ khăng khít thường xuyên , chặt chẽ với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức . - Giai cấp công nhân Việt Nam sớm tiếp thu ánh sáng cách mạng tháng mười nga của chủ nghĩa Mác – Lênin, không bị chi phối bởi chủ nghĩa cơ hội , sớm gắn bó mật thiết với phong trầo công nhân quốc tế . - Những đặc điểm trên đây của giai cấp công nhân Việt Nam đã có ảnh hưởng to lớn của nó. Bởi vì : - Do đặc điểm tập trung , sớm thống nhất cả về tư tưởng , tổ chức, sớm tổ chức được chính Đảng của mình, sớm tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lenin nên nó đã nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị tiên phong của dân tộc , đã xây dựng được cương lĩnh chính trị và đường lối cách mạng đứng đắn ngay từ buổi đầu vì vậy luôn giữ vững vai trò độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam. - Do có quan hệ mật thiết và gắn bó với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức nen giai cấp công nhân Việt Nam sớm tập hợp , đoàn kết và không ngừng phát huy sức mạnh của cả dân tộc trên nề tảng liên minh công –nông – tri thức . - + Do gắn bó với phong trào công nhân quốc tế và sớm tiếp thu tư tưởng Mác Lênin nên giai cấp công nhân Việt Nam đã sớm kết hợp và giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và giai cấp , kết hợp được sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại . - + Do không bị ảnh hưởng của chủ nghĩa cơ hội quốc tế II nên giai cấp công nhân Việt Nam luôn giữ vững được tính thống nhất về tư tưởng, đoàn két về tổ chức , vững vàng về chính trị kiên cường và triệt để trong đấu tranh cách mạng . - Chính vì những lẽ trên nên giai cấp công nhân Việt Nam thông qua chính Đảng của mình đã lãnh đạo nhân dân ta hoàn thành triệt để cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước từng bước quá độ lên CNXH. Chính quá trình thực hiện sự mệnh lịch sử đó đối với dân tộc cũng là sự đóng góp vào phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân toàn thế giới. Tuy nhiên, do sinh ra và trưởng thành ở nước nông nghiệp lạc hậu, bị áp bức bóc lột nặng nề nên giai cấp công nhân Việt Nam còn có những hạn chế như: Trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, chuyên môn nghề nghiệp chưa cao, tác phong , tập quán, thói quen tâm lý còn ảnh hưởng năng lề của người sản xuất nhỏ chính nhưỡng hạn chế đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân. Ngày nay giai cấp công nhân Việt Nam đang lãnh đạo nhân dân ta tiến hành sư nghiệp đổi mới đất nước công nghiệp hoá và hiệnđại hoá đất nước để thực hiện mục tiêu dân giầu nước mạnh , xã hội công bằng văn minh điều đó đòi hỏi giai cấp công nhân Việt Nam cần khắc phục nhanh chóng những hạn chế của mình, phát triển giai cấp công nhân về cả số lượng , chất lượng khôngngừng nâng cao trình độ tư duy, trình độ tổ chức hoạt động thực tiễn … chỉ có như vậy mới đáp ứng được dòi hỏi của thực tiễn , mới hoàn thành được sứ mệnh đối với dân tộ c .
  11. Câu 7.0: Phân tích tính tất yếu, đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ lên CNXH. 1/ Tính tất yếu: TKQĐ lên CNXH là 1 tất yếu lịch sử vì: _ CNTB ra đời tự phát từ XH PK còn XHCN không tự phát ra đời từ XH TB mà quá trình phát triển của CNTB chỉ tạo ra những tiền đề vật chất và kỹ thuật cho CNXH kế thừa. _ Bản thân công cuộc cải tạo XH cũ và xây dựng mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động sau khi đã có chính quyền là 1 quá trình khó khăn và phức tạp. 2/ Đặc điểm và thực chất: a-Đặc điểm : Đặc điểm kinh tế : trong TKQĐ còn tồn tại 1 nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế đó tồn tại đan xen , đấu tranh và chuyển hóa lẫn nhau . Thực tế trong VN ở TKQĐ tồn tại kinh tế nhiều thành phần như: kinh tế nhà nước , kinh tế tư nhân, kinh tế TB cùng tồn tại với nhau. Trong quá trình tồn tại đó có sự chuyển hóa lẫn nhau như các xí nghiệp quốc doanh (xn bông Bạch Tuyết) Ỉ công ty cổ phần (cty cổ phần Bạch Tuyết), các cá thể Ỉ tập thể (HTX) Đặc điểm cơ cấu giai cấp: trong TKQĐ còn tồn tại 1 cơ cấu giai cấp đa dạng gồm nhiều giai cấp , nhiều tầng lớp xã hội với nhau, các giai cấp và tầng lớp xã hội đó tồn tại đan xen đấu tranh và chuyển hoá lẫn nhau. Ở VN trong xã hội tồn tại 1 cơ cấu giai cấp đa dạng: giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức, tiểu TS, TS Các giai cấp này tồn tại chuyển hóa, đấu tranh lẫn nhau. Như khi các khu CN phát triển thu hút nông dân rời bỏ nông thôn vào nhà máy làm công nhân Đặc điểm về mối quan hệ xã hội : ở TKQĐ vẫn còn sự khác biệt khá cơ bản giữa thành thị và nông thôn cũng như giữa các giai cấp và tầng lớp xã hội. Ở VN, mức sống ở thành thị cao, ổn định, còn ở nông thôn thấp và không ổn định. Đặc điểm về mặt VHXH : bên cạnh nền VH mới, hệ tư tưởng mới, lối sống và nhân cách mới thì vẫn còn tồn tại nền VH cũ, hệ tư tưởng cũ, lối sống và nhân cách cũ thậm chí lạc hậu và phản động. b- Thực chất: Thực chất của TKQĐ là "ai thắng ai" giữa 1 bên là giai cấp công nhân và nhân dân lao động đang đưa đất nước lên CNXH với 1 bên giai cấp thống trị đã bị lật đổ nhưng chưa bị tiêu diệt hoàn toàn về mặt giai cấp, chúng vẫn còn âm mưu khôi phục lại những gì đã mất. + Chính phủ : là cơ quan hành pháp cao nhất, quản lý, điều hành mọi công việc của đất nước. + TAND & Viện kiểm soát nhân dân : thực hiện quyền độc lập trong việc kiểm soát và xét xử theo đúng pháp luật . 3/ Các đoàn thể, các tổ chức xã hội - chính trị của nhân dân: _ Đó là các tổ chức đại biểu cho lợi ích và nguyện vọng chân chính của các cộng đồng xã hội khác nhau. Các tổ chức đó có nhiệm vụ: + Giáo dục, động viên, chăm lo, bảo vệ lợi ích chính đáng của các thành viên của tổ chức mình. + Góp phần thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội , đóng góp ý kiến xây dựng đường lối chính sách của đảng, nước . Liên minh chính trị của các đoàn thể nhân dân là Mặt trận tổ quốc VN hoạt động theo phương thức hiệp thương dân chủ, là cơ sở của chính quyền nhà nước . 4/ Mối quan hệ giữa các bộ phận trong HTCT: Đảng Cộng Sản là đội tiên phong của giai cấp công nhân , là đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả các dân tộc. Đảng là bộ phận hợp thành vừa là lực lượng lãnh đạo HTCT XHCN. Nhà nước XHCN là tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí quyền lực
  12. của nhân dân; thay mặt và chịu trách nhiệm trước nhân dân quản lý toàn bộ hoạt động đời sống XH; mặt khác nó chịu sự lãnh đạo và thực hiện đường lối chính trị của giai cấp công nhân. Liên minh chính trị của các đoàn thể nhân dân là Mặt trận tổ quốc VN hoạt động theo phương thức hiệp thương dân chủ, là cơ sở của chính quyền nhà nước. - Câu 7:Tại sao nói quá độ lên CNXH ở Việt Nam bỏ qua chế độ TBCN là một tất yếu lich sử ? - Trả lời: - Quá độ lên CNXH ở Việt Nam là phù hợp với quy luật phát triển biện chứng của lich sử Lênin đã chỉ rõ ‘’tất cả các dân tộc đều sẽ đi nên CNXH đó là điều không tránh khỏi “.Sự quá độ đó còn phù hợp với xu hướng chung của thời đại ngày nay –Thời đại mà nội dung chủ yếu là sự quá độ từ CNTB nên CNXH. - Nước ta quá độ lên CNXH không qua chế độ TBCN là sự lựa chon có tính lịch sử phù hợp với diều kiện đặc điểm tình hình đất nước phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. - 1.lịch sử đã chứng minh:từ khi thực dân pháp xâm lược nước ta đến na1930 các phong trào cứu nước của nhân dân ta theo ý thức hệ phong kiến tiểu tư sản đều bị thất bại. Năm 1930 đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời đã lãnh đạo dân tộc ta đi từ thắng lơịi này đến thắng lợi khác và điđến thắng lợi hoàn toàn . Sự khảo ngiêm dó của lịch sử dân tộc đã khẳng định: Muấn cứu nước và giải phóng dân tộc thì chỉ có thể là con đường cách mạng vô sản. - Từ năm 1930 Đảng CS Việt Nam ra đời đã dương cao ngọn cờ đọc lập dân tộc và CNXH, dưới ngọn cờ ấy ,Đảng đã đoàn kết được cả dân tộc ,phát huy cao độ truyền thống bất khuất của dân tộc ,lãnh đạo nhân dân ta ròng rã suất nửa thế kỉ đấu tranh dành độc lập thống nhất tổ quốc. - 2-Sau khi hoàn thành cơ bản nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ của nhân dân đảng đã lãnh đạo nhân dân ta quá độ lên CNXH như vậy chính ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH đã động viên được sức mạnh to lớn của cả dân tộc tranh thủ được sự đồng tình giúp đỡ Quốc tế to lớn nhất là các nước XHCN. Cuộc chiến đấu hi sinh của dân tộc ta không chỉ vì dộc lập dân tộc của tổ quốc mà còn vì CNXH. Do vậy sự lựa chọn con đường quá độ lên CNXH không qua chế độ TBCN là phù hợp với ý chí nguyện vọng của nhân dân. Đó là sự lựa chọn phù hợp với chiều hướng phát triển của lịch sử ,là khát vọng của nhân dân ta. - 3-Cách mạng nước ta do đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo,Đảng có cơ sở xã hội vững chắc trong nhân dân đây là nhân tố bên trong quyết định con đường quá độ lên CNXH ở nước ta 4- các thế lực phản động tay sai cho đế quốc, thực dân ở nứơc ta vừa non kém về tổ chức, không có chỗ đứng trong nhân dân. Do đó nhân dân ta quyết không đi theo con đường phản dân hại nước của chúng. Như vậy điều kiện lịch sử và những tiền đề nói trên khẳng định quá độ lên CNXH ở nước ta là một tất yếu lịch sử ,là sự lựa chọn duy nhất đúng. Tuy nhiênmuốn cho CNXH trở thành hiện thực , chúng ta còn phải trải qua nhiều gian nan thử thách .Hiện nay CNXH hiện thực thế giới đang lâm vào khủng hoảng song Đảng và nhân dân ta vẫn bình tĩnh, cân nhắc và khảng định con đường XHCN đã chọn là duy nhất đúng đắn. { Tính tất yếu của TKQĐ từ CNTB lên CNXH. + Thời kỳ quá độ lên CNXH bắt đầu từ khi gia cấp công nhân giành đưcj chính quyền nhà nước, thiết lập được chính quyền của giai cấp mình và sử dụng chính quyền đó làm công cụ cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. + Thời kỳ quá độ là tất yếu đối với tất cả các nước đi lên CNXH, bởi vì:
  13. Thứ nhất: CNXH và CNTB là hai chế độ xã hội khác nhau căn bản về chất. Do vậy, CNXH không nảy sinh trong lòng XHTB. CNTB chỉ mới tạo ra những tiền đề cần thiết cho nó. Nó chỉ bắt đầu nẩy sinh và phát triển sau khi giai cấp công nhân có chín quyền nhà nước và sử dungj chính quyền đó làm công cụ cải tạo, xây dựng xã hội mới. Mặt khác, dù đã có chính quyền nhà nứơc thì cũng không thể có ngay CNXH được, mà phải trải qua một quá trình đấu tranh, xây dựng khó khăn, lâu dài. Thứ hai: Xây dựng CNXH là một công việc khó khăn, phức tạp, chưa từng có trong lịch sử. Do đó, cần có thời gian mới có thể thực hiện được những thay đổi căn bản trên mọi lĩnh vực của đời sôngs xã hội Thứ ba: CNXH ( giai đoạn thấp của CNCS) từ CNTB phát triển lên. Vì vậy, nhất là thời kỳ đầu, nó vẫn còn mang những dấu vết, tàn tích tiêu cực của xã hội. Do đó, cần phải có một thời kỳ dài mới có thể khác phục được, đặc biệt là những tiêu cực trên lĩnh vực đạo đức, văn hoá, tinh thần, lối sống. Thực tiễn xây dựng CNXH hiện thực đã chứng minh rằng cần phải có một thời kỳ lịch sử tương đối dài mới có thể hoàn thành được một cách triệt để những mục tiêu của CNXH. + Thời kỳ qúa độ kết thúc khi CNXH đã được xác lập vững chắc, "đã phát triển trên cơ sở của chính nó" + Thời kỳ qúa độ bắt buộc đối với tất cả các nước đi lên CNXH chỉ khác nhau về độ dài và tính chất gay go phức tạp nhiều hay ít. Đối với những nước, như nước ta, quá độ CNXH bỏ qua chế độ TBCN, thời kù qúa độ chắc chắn phải rất dài và rất gay go, phức tạp. * Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ lên CNXH + Đặc điểm của thời kỳ qúa độ lên CNXH. Đặc điểm tổng quát thời kỳ qúa độ lên CNXH là sự tồn tại đan xem lẫn nhau giữa những yếu tố, bộ phận của cả hai kết cấu kinh tế - xã hội cũ và mới (CNTB và CNXH). Đặc điểm này thể hiện trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội: Kinh tếm, xã hội, văn hoá- tinh thần. Trên lĩnh vực kinh tế: Nền kinh tế trong thời ký qúa độ là nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều loại hình sở hữu khác nhau. Các thành phần kinh tế vừa thống nhất, vừa đầu tranh, cạnh tranh với nhau rất phức tạp. Trên lĩnh vực xã hội: Xã hội trong thời kỳ qúa độ còn tồn tại nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, thậm chí đối lập nhau về lợi ích cơ bản. Mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp không chỉ có liên minh, đoàn kết hữu nghị, bình đẳng mà còn có đấu tranh, cạnh tranh, bất bình đẳng. Trên lĩnh vực văn hoá tinh thần: Bên cạnh hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, nền văn hoá mới XHCN đang được xây dựng và ngày càng phát triển, còn tồn tại những tàn tư của nền văn hoá cũ, hệ tư tưởng cũ lạc hậu. + Thực chất của thời kỳ quá độ lên CNXH.
  14. Đặc điểm của thời kỳ qúa độ lên CNXH quy định thực chất của nó là thời kỳ qúa độ chín trị: Xã hội còn phân chia giai cấp, còn đấu tranh giai cấp, còn nhà nước. Nhà nứơc trong thời kỳ qúa độ "không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản". Tuy nhiên, nó đang trong quá trình biến đổi từng bước để xoá bỏ đối kháng giai cấp, đấu tranh giai cấp và bất bình đẳng xã hội. Đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên CNXH chủ yếu diễn ra giữa một bên là giai cấp công nhân liên minh với các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao Động để đưa đất nước lên CNXH với một bên là giai cấp tư sản đã bị đánh đổ nhưng chưa bị tiêu diệt hẳn và các thế lực phản động chống pháp sự nghiệp xây dựng CNXH, đi ngượi lại lợi ích của tổ quốc và của nhân dân. Lênin : "Thời kỳ quá độ ấy không thể nào lại không phải là một thời kỳ đấu tranh giữa CNTB đang giãy chết và CNCS đang phát sinh, hay nói cách khác, giữa CNTB đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hẳn và CNCS đã phát inh nhưng vẫn còn rất non yếu". Đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ nhằm giải quyết vấn đề "ai thắng ai" giữa CNXH và CNTB. Cuộc đấu tránh này diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và diễn ra trong điều kiện mớ, với những nội dung mới, bằng những hình thức và phương pháp mới. Đối với những nước kém phát triển như nước ta đấu tranh giai cấp trong thời kỳ qúa độ lên CNXH còn là sự đấu tranh giữa hai con đường: Con đường TBCN và con đường XHCN. Trong thời kỳ quá độ đấu tranh giai cấp là tất yếu. Tuy nhiên cũng không nên cương điệu nó quá mức. Cường điệu hoá đấu tranh giai cấp hoặc phủ nhận sạch trơn đấu tranh giai cấp trong thời kỳ qúa độ lên CNXH đều dẫn đến những sai lầm. * Giai cấp nông dân và tâng lớn trí thức + Giai cấp nông dân là giai cấp những người lao động sản xuất vật chất trong nông nghiệp (kể cả lâm nghiêp, ngư nghiệp), trực tiếp sử dụng một loại tư liệu sản xuất cơ bản và đặc thù là đát, rừng, biển để sản xuất ra nông sản. Giai cấp nông dân có đặc điểm: Cách thức sản xuất phấn tán, kỹ thuật lạc hâụ; có thành phần không thuần nhất, không cố kết chặt chẽ về sản xuất, về tổ chức và về tư tưởng; vốn có bản chất lao động, đồng thời có tính chất tư hữu nhỏ; không có hệ tư tưởng riêng mà tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội; nông dân chiếm số đông trong dân số nhiều nước trên thế giới, vừa là lực lượng sản xuất quan trọng , vừa là lực lượng xã hội có tiềm năng cách mạng to lớn. + Tầng lớn trí thức là tầng lớn những người lao động trí óc- phức tạp - sáng tạo, với trình độ học vấn cao, anh hiểu sâu và rộng lĩnh vực lao động của mình. Tầng lớp trí thức có đặc điểm: Phương thức lao động của họ chủ yếu là lao động trí tuệ cá nhân; không có hệ tư tưởng riêng, không đại biển cho một PTSX riêng nào; có cơ cấu không thuần nhất và thường là không có sự cố kết chặt chẽ về tổ chức trong xã hội nhất định; vừa mang tính giai cấp, vừa mang bản sắc dân tộc rõ nét; có tinh thần dân chủ, cách mạng có khả năng đấu tranh cho tiến bộ, công bằng xã hội. }
  15. - Câu 8.1. Trình bày những điều kiện quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân . - Trả lời. - Cơ sở khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đó là. - A- Do địa vị kinh tế – xã hội của giai cấp công nhân . - Dưới CNTB, giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp TBCN nó ra đời phat triển cùng với sự hình thành phát triển của nèn đại công nghệp TBCN dưới CNTB, giai cấp công nhân là bộ phận quan tọng nhất trong cac bộ phận cấu thành của lực lượng sản xuất của xã hôi tư bản họ đại diện cho lựclượng sản xuất tiên tiến nhất với trình độ xã hội ngày càng cao nhưng CNTB lại được xây dựng trên nền tảngcủa chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất mà giai cấp tư sản là đại diện bởi thế ở phương thức sản xuất TBCN luôn luôn tồn tại mâu thuẫn giữa lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa ngày càng cao (mà giai cấp công nhân là người đại diện) với quan hệ sản xuất có tính chất chiếm hữu tư nhân (mà giai cấp tư sản là người đại diện ) Đây là mâu thuẫn cơ bản vốn có và không thể khắc phục được nếu không xoá bỏ ché độtư bản. Biểu hiện về mặt chính trị – xã hội của mâu thuẫn cơ bản đó là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản . Sự vận động phát triển của những mâu thuẫn trên tất yếu dẫn đến cách mạng XHCN đưa tới sự sup đổ của CNTB và thắng lợi của CNXH . - Do không có tư liệu sản xuất họ phải bán sức lao động làm thuê bị hà tư bản chiếm đoạt giá trị thặng dư , bị lệ thuộc hoàn toàn vào quá trình phân phối các kết quả lao động của chính họ. - Trong tất cả các giai cấp đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp công nhân là thực sự cách mạng vì nó là sản phẩm của nền đại công nghiêp, đại diện cho nền sản xuất với trình độ xã hội hoá ngày càng cao và nó lao động trong nền đại công nghiệp với trình độ công nghệ ngày càng hiện đại và sản xuất ra tuyệt đại của cải cho xã hội. - Giai cấp công nhân do có lợi ích cơ bản thống nhất với lợi ích của đông đảo nhân dân lao động nên họ có đầy đủ khả năng tập hợp , đoàn kết được đông đảo nhân dân lao động để thực hiện quá trình giải phóng giai cấp , giải phóng xã hội . - B- Những đặc điểm xã hội – chính trị của giai cấp công nhân .Từ địa vị kinh tế – xã hội trên giai cấp công nhân đac quy định những đặc điểm xã hội –chính trị của giai cấp công nhân những đặc điểm đó là : - - Là giai cấp tiên tiến nhất ( cả về chính trị , kinh tế, tư tưởng, văn hoá ). - - Là giai cấp có tích triệt để cách mạng nhất ( triệt để trong đấu tranh xoá bỏ chế độ cũ và triệt để trong xây dựng một trật tự xã hội mới tiến bộ hơn – CNXH và CNCS) - Là giai cấp có tính tổ chức kỷ lụât cao. Do điều kiện của sản xuất đại công nghiệp có được tôi luyện trong đấu tranh cách mạng do đó họ có khả năng tập hợp, đoàn kết tổ chức và lãnh đạo cuộc đáu tranh cách mạng của đông đảo quần chúng lao động nhằm xoá bỏ CNTB và từng bước xây dựng thành công xã hội mới. - Là giai cấp có bản chất quốc tế cao cả. Đó là giai cấp công nhân có cùng địa vị kinh tế – xã hội cùng một kẻ thù, cùng một mục tiêu, lý tưởng. Điều này tạo nên sức mạnh đoàn kết quốc tế hùng hậu nhất của giai cấp công nhân .Từ sự phân tích về địa vị kinh tế - -xã hội và những đặc điểm xã hội –chính trị của giai cấp công nhân chính đó là những cơ sở khách quan để khẳng định giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là đấu tranh để thủ tiêu chế độ TBCN và từng bước xây dựng thành công xã hội mới- XHCNvà CNCS trên phạm vi toàn thế giới. - Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử đó giai cấp công nhân phải tự tổ chức ra chính đảng của mình, tiến hành cuộc cách mạng XHCN thiết lập chuyên chính vô sản ,thực thưc hiện quá trình cải tạo xã họi cũ và xây dựng xã hội mới XHCN và CNCS
  16. 9. Hai xu hướng của sự phát triển các dân tộc và biểu hiện của hai xu hướng khách quan đó trong thời đại ngày nay Nghiên cứu vấn đề dân tộc và phong trào dân tộc trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản, V.I. Lênin đã phát hiện ra hai xu hướng khách quan của sự phát triển các dân tộc. Xu hướng thứ nhất, do sự thức tỉnh, sự trưởng thành của ý thức dân tộc mà các cộng đồng dân cư muốn tách ra để xác lập các cộng đồng dân tộc độc lập. Trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa, ở các quốc gia gồm nhiều cộng đồng dân cư có nguồn gốc tộc người khác nhau. Khi mà các tộc người đó có sự trưởng thành về ý thức dân tộc, ý thức về quyền sống của mình, các cộng đồng dân cư đó muốn tách ra thành lập các dân tộc độc lập. Vì họ hiểu rằng, chỉ trong cộng đồng độc lập, họ mới có quyền quyết định vận mệnh của mình mà quyền cao nhất là quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển. Trong thực tế, xu hướng này đã biểu hiện thành phong trào đấu tranh chống áp bức dân tộc, thành lập các quốc gia dân tộc độc lập. Xu hướng này nổi lên trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản và vẫn còn tác động trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Xu hướng thứ hai, các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau. Xu hướng này nổi lên trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học và công nghệ, của giao lưu kinh tế và văn hoá trong xã hội tư bản đã làm xuất hiện nhu cầu xoá bỏ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc, tạo nên mối liên hệ quốc gia và quốc tế rộng lớn giữa các dân tộc, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau. Hai xu hướng này vận động trong điều kiện của chủ nghĩa đế quốc gặp nhiều trở ngại. Bởi vì, nguyện vọng của các dân tộc được sống độc lập, tự do bị chính sách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc xoá bỏ. Chính sách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc đã biến hầu hết các dân tộc nhỏ bé hoặc còn ở trình độ lạc hậu thành thuộc địa và phụ thuộc của nó. Xu hướng các dân tộc xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng bị chủ nghĩa đế quốc phủ nhận. Thay vào đó họ áp đặt lập ra những khối liên hiệp nhằm duy trì áp bức, bóc lột đối với các dân tộc khác, trên cơ sở cưỡng bức và bất bình đẳng. Vì vậy, chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, chỉ trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, khi chế độ người bóc lột người bị xoá bỏ thì tình trạng dân tộc này áp bức, đô hộ các dân tộc khác mới bị xoá bỏ và chỉ khi đó hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc mới có điều kiện để thể hiện đầy đủ. Quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH là sự quá độ lên một xã hội thực sự tự do, bình đẳng, đoàn kết hữu nghị giữa người và người trên toàn thế giới. Hai xu hướng khách quan của phong trào dân tộc do V.I. Lênin phát hiện đang phát huy tác dụng trong thời đại ngày nay với những biểu hiện rất phong phú và đa dạng. * Xét trong phạm vi các quốc gia XHCN có nhiều dân tộc: Xu hướng thứ nhất biểu hiện trong sự nỗ lực của từng dân tộc để đi tới sự tự chủ và phồn vinh của bản thân dân tộc mình. Xu hướng thứ hai tạo nên sự thúc đẩy mạnh mẽ để các dân tộc trong cộng đồng quốc gia xích lại gần nhau hơn, hoà hợp với nhau ở mức độ cao hơn trong mọi lĩnh vực của đời sống. Ở các quốc gia XHCN, hai xu hướng phát huy tác động cùng chiều, bổ sung, hỗ trợ cho nhau và diễn ra trong từng dân tộc, trong cả cộng đồng quốc gia và đến tất cả các quan hệ dân tộc. Sự xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng giữa các dân tộc sẽ tạo điều kiện cho từng dân tộc đi nhanh tới sự tự chủ và phồn vinh. Bởi vì, nó sẽ tạo điều kiện cho dân tộc đó có thêm những điều kiện vật chất và tinh thần để hợp tác chặt chẽ hơn với các dân tộc anh em; đồng thời nó cho phép mỗi dân tộc không chỉ sử dụng tiềm năng của các dân tộc mình mà còn có sự gắn kết hữu cơ với tiềm năng của các dân tộc anh em trong một nước để tiến lên phía trước. Sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc trong cùng quốc gia có nghĩa là những tinh hoa, những giá trị của các dân tộc đó thâm nhập vào nhau, bổ sung, hoà quyện vào nhau để tạo thành những giá trị chung. Tuy nhiên, sự hoà
  17. quyện đó không xoá bỏ sắc thái của từng dân tộc, không xoá nhoà những đặc thù dân tộc; ngược lại, nó bảo lưu, gìn giữ và phát huy những tinh hoa, bản sắc của từng dân tộc. Trong chế độ XHCN, cả hai xu hướng trên đều loại trừ các tư tưởng và hành vi kỳ thị dân tộc, chia rẽ dân tộc, tự ti dân tộc, dân tộc hẹp hòi, xung đột dân tộc. Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã khẳng định: “Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố, phát triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta. Sự tăng cường tính cộng đồng, tính thống nhất là một quá trình hợp quy luật, nhưng tính cộng đồng, tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo trong bản sắc của mỗi dân tộc”. Mọi sự vi phạm quan hệ biện chứng giữa hai xu hướng khách quan nêu trên đều dẫn đến những hậu quả tiêu cực. * Xét trên phạm vi thế giới, sự tác động của hai xu hướng khách quan thể hiện rất nổi bật. Bởi vì: Thời đại ngày nay là thời đại các dân tộc bị áp bức đã vùng dậy, xoá bỏ ách đô hộ của chủ nghĩa đế quốc và giành lấy sự tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình, bao gồm quyền tự lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc, quyền bình đẳng với các dân tộc khác. Đây là một trong những mục tiêu chính trị chủ yếu của thời đại – mục tiêu độc lập dân tộc. Xu hướng này biểu hiện trong phong trào giải phóng dân tộc thành sức mạnh chống chủ nghĩa đế quốc và chính sách của chủ nghĩa thực dân mới dưới mọi hình thức. Xu hướng này cũng biểu hiện trong cuộc đấu tranh của các dân tộc nhỏ bé đang là nạn nhân của sự kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, đang bị coi là đối tượng của chính sách đồng hoá cưỡng bức ở nhiều nước tư bản. Như vậy, độc lập tự chủ của mỗi dân tộc là xu hướng khách quan, là chân lý thời đại, là sức mạnh hiện thực tạo nên quá trình phát triển của mỗi dân tộc, sẽ làm tiêu tan tất cả những gì cản trở nó. Thời đại ngày nay còn có xu hướng các dân tộc muốn xích lại gần nhau để trở lại hợp nhất thành một quốc gia thống nhất theo nguyên trạng đã được hình thành trong lịch sử. Xu hướng đó tạo nên sức hút các dân tộc vào các liên minh được hình thành trên những cơ sở lợi ích chung nhất định. Các dân tộc có những lợi ích mang tính khu vực, dựa trên yếu tố gần nhau về địa lý, giống nhau về môi trường thiên nhiên, tương đồng về một số giá trị văn hoá, trùng hợp nhau về lịch sử và hiện tại trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung bên ngoài. Đặc biệt vào những năm 90 của thế kỷ XX, xu hướng "tập đoàn hoá" ở các khu vực của thế giới tăng lên rõ rệt không chỉ do tác động của lợi ích kinh tế mà còn do sức thúc đẩy của các lợi ích chính trị. Hơn nữa, sự liên minh đó còn tạo nên sức hút trên toàn cầu nhằm tập trung giải quyết những vấn đề chung của cả nhân loại như: chống nguy cơ chiến tranh hạt nhân, chống ô nhiễm và bảo vệ môi trường sinh thái, khắc phục nạn đói xảy ra thường xuyên ở nhiều nơi trên thế giới, kế hoạch hoá sự phát triển dân số và bảo vệ sức khoẻ... Lợi ích toàn cầu có tác động sâu xa gắn bó loài người trong một quá trình vận động thống nhất, bởi vì các dân tộc quốc gia trên thế giới hiện nay còn đang ở trình độ phát triển khác nhau và đang cần sự hỗ trợ nhau để cùng tiến bộ. Nhận rõ điều này, mỗi dân tộc, quốc gia phải biết thực hiện chính sách độc lập tự chủ để mở cửa hội nhập vào dòng vận động chung của nhân loại; đồng thời phải tìm được giải pháp hữu hiệu để gìn giữ, phát huy bản sắc của dân tộc mình. Dựa trên sự phân tích hai xu hướng khách quan của phong trào dân tộc trong thời đại hiện nay, Đảng ta đã khẳng định: “Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại” là nguyên tắc thống nhất của đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. { Sự phát triể của CNTB làm nảysinh hai xu hướng củaphong trào dân tộc + Xu hướng thứ nhất:Thức tỉnh, phát triển đời sống dân tộc và phong trào dân tộc, thành lập các quốc gia dân tộc độc lập. Xu hướng chiếm ưu thế vào giai đoạn đầu của CNTB.
  18. + Xu hướng thứ hai: Mở rộng tăng cường các mối quan hệ giữa các dân tộc, phá vỡ những hàng rào dân tộc, quốc tế hoá đời sống xã hội. Xu hướng này chiếm ưu thế trong giaia đoạn ĐQCN Hai xu hướng trên là hai xu hướng khách quan, tiến bộ của phong trào dân tộc. Dưới CNTB hai xu hướng này đã không giải quyết được thoả đáng. Bằng nhiều thủ đoạn (kể cả vũ lực)giai cấp tư sản đã duy trì tình trạng bất bình đẳng giữa các dân tộc, phủ nhận quyền tự quyết của các dân tộc chậm phát triển. Tình hình trên đã thúc đẩy các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc đứng lên đấu tranh tự giải phóng. - Vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có mối quan hệ gắn bó hữu cơ. - Vấn đề dân tộc bao giờ cũng mang tính giai cấp. Trong dân tộc luôn luôn có một giai cấp tiên tiến, đại biểu cho lợi ích dân tộc. Giải quyết vấn đề dân tộc đèu xuất phát từ quan điểm, lợi ích của giai cấp cầm quyền . - Cơ sở kinh tế của nạn áp bức, thu hàn giữa các dân tộc là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, chế độ người bóc lột người. Nguồn gốc áp bức bóc lột giai cấp và dân tộc chính là CNTB - C. Mác viết “Hãy xoá bỏ nạn người bóc lột người thì nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng xẽ được xóa bỏ Nạn người bóc lột người thì nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng xẽ được xoá bỏ. Khi mà nạn áp bức giai cấpp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì đồng thời quan hệ thù địch giữa các dân tộc cũng mất theo. Trong thời đại đế ĐQCN cùng với nạn áp bức, bóc lột giai cấp, nạn áp bức bóc lột dân tộc ngày càng trở nên nặng nề. Do đó cuộc đấu tranh bảo vệ nề độc lập dân tộc. Chống áp bức dân tộc không tách rời cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động . Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xoá bỏ chế độ áp bức, bóc lột của CNTB do đó sẽ xoá bỏ nạn áp bức thù hằn giữa các dân tộc. Giai cấp công nhân muốn giải phóng mình thì đồng thời phải tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng toàn xã hội, toàn dân tộc. Vì vậy vấn đề dân tộc thực sự là một bộ phận của cách mạng vô sản và giải quyết vấn đề dân tộc cần đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân. } Câu 10. Trình bày tính tất yếu và những nội dung cơ bản của liên minh Công – Nông – Tri th ức trong cách mạng XHCN Trả lời. A- Tính tất yếu của liên minh Công – Nông- Tri thức a- Cách mạng XHCN là cuộc cách mạng toàn diện triệt để, sâu sắc nhất trog lịch sử. Nó đòi hỏi lòng dũng cảm , trí thông minh, sức sáng tạo của hàng triệu quần chúng cách mạng , nếu chỉ bằng lực lượng của bản thân giai cấp công nhân thì sự nghiệp cách mạng XHCN không thể hoàn thiện được. Giai cấp công nhân phải thực hiện sự liên minh với các lực lượng cách mạng khác. Giai cấp nông dân và taafng lớp tri thức dưới CNTB họ là những người lao động , bị áp bức, bóc lột tiến hành cuộc đấu tranh để tự giảiphóng. Nhưng tự mình nông dân và trí thức cũng không tự giải phóng được, qua quá trình đấu tranh họ đã tìm thấy ở giai cấp công nhân một lực lượng cách mạng to lớn, người bạn trung thành lên đã tự nguyện liên minh và chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Liên minh Công – Nông- Trí thức là cơ sở xã hội to lớn, là động lực cách mạng quyết định sự thành bại của cách mạng XHCN trong sự nghiệp đấu tranh và giữ chính quyền nhà nước. Trong sự nghiệp xây dựng CNXH – Trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ, giai cấp công nhân , nông dân ngày càng đợc trí thức hoá, vai trò của tri thức ngày càng tăng và hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng CNXH. Vây Liên minh Công – Nông – Tri thức là yêu cầu khách quan là nhân tố đảm bảo cho việc thực hiện công nghiệp hóa- hiện đại hoá đất nước
  19. Trong sự nghiệp xây dựng CNXH, Liên minh Công Nông – Tri thức là cơ sở xã hội vững trắc để giai cấp công nhân giữ vững vai trò lãnh đạo, củang cố tăng cường nhà nước XHCN, đảm bảo sự phát triển kinh tế – xã hội theo định hướng XHCN. b- Những nội dung cơ bản của liên minh công nông – Tri thức. Liên Minh công – Nông – Tri thức là khối liên minh chiến lược của cách mạng XHCN, liên minh toàn diện trên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội. - Liên minh chính trị là sự liên minh nhằm củng cố, giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cọng Sản . Nhà nước XHCN, phát huy cao độ quyền làm chủ của nhân dân lao động mà nòng cốt của liên minh Công – Nông – Tri thức, giữ vững an ninh chính trị, ổn định xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ Quốc XHCN - - Liên minh kinh té: Là sự quan hệ , hợp tác trao đổi về kinh tế giữa công nhân , giai cấp nông dân và tầng lớp tri thức giữa kinh tế công nghiệp với nông nghiệp và dịch vụ kỹ thuật công nghệ làm cho sản xuất phát triển năng xuất lao động xã hội tăng , chất lượng sản phẩm ngày càng cao, có khả năng thoả mãn ngày càng cao nhu cầu vật chất , tinh thần của toàn xã hội. Sự phát triển kinh tế vững mạnh là cơ sở đảm bảo cho việc củng cố, tăng cường khối liên minh Công – Nông – Tri thức trong cách mạng XHCN. - - Liên minh văn hoá - xã hộilà liên minh nhằm xây dựng một nên văn hoá mới đậm đà bản sắc dân tộc đồng thời phải hiện đại hoá, hòa nhập với quá trình quốc tế hoá đời sống xã hội trong đó trí thức có vai trò hết sức quan trọng. Câu 11. Trình bầy nội dung cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác–Lênin. Nêu ph ương hướng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta hiện nay. Trả lời. a- Xuất phát từ những quan điểm Mác xít và sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn trong việc giải quyết vấn đề dân tộc. Lênin đã khái quát cương lĩnh dân tộc :”các dân tộc hoàn toàn bìnhđẳn, các dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại” 1-Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng :Đây là quyền thiêng liêng và mục tiêu phấn đấu của các dân tộc. + Bảo đảm cho mọi dân tộc (dù lớn hay nhỏ, trình độ phát triển cao hay thấp) đều có quyền lợi nghĩa vụ ngang nhau trong quan hệ xã hội cũng như trong quan hệ quốc tế, xoá bỏ mọi đặc quyền, dắc lợi, mọi áp bức trong quan hệ giữa các dân tộc. + Một quốc gia có nhiều thành phần dân tộc, quyền bình đẳnggiữa các dân tộc không chỉ được đảm bảo về mặt pháp lý mà quan trọng hơn là phải thể hiện trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Phấn đấu khắc phục những chênh lệch về trình độ phát triển các mặt do lịch sử để lại. + Đấu tranh cho quyền bình đẳng giữa các dân tộc phải gắn với đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc Sôvanh, hẹp hòi, chủ nghĩa phát xít và gắn đấu tranh xây dựng trật tự kinh tế thế giới. 2. Các dân tộc được quyền tự quyết + Quyền tự quyết của các dân tộc trước hết là quyền tự do phân lập về mặt chính trị – Thành lập một quốc gia dân tộc độc lập Tự quyết định vân mệnh và hướng phát triển của dân tộc mình, không phụ thuộc vào dân tộc khác. + Quyền tự quyết định của các dân tộc còn hơn quyền các dân tộc tự nguyện liên hiệp thành liên bang các dân tộc trên cơ sở bình đẳnggiúp đỡ nhau cùng tiến bộ. + Khi xem xét, giải quyết quyền dân tộc tự quyết phải đứng trên lập trường của giai cấp công nhân ủng hộ các phong trào dân tộc tiến bộ và đấu tranh chống những âm mưu, thủ đoạn lợi dụng chiêu bài “quyền tự quyết” thực hiện ly khai đi vào quỹ đạo của CNTB. 3- Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc .
  20. Đây là nội dung cơ bản trong cương lĩnh dân tộc, nó phản ánh sự thống nhất về bản chất của phong trào đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng dân tộc. Đồng thời là cơ sở vững chắc đảm bảosự đoàn kết trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Nó phản ánh bản chất quốc tế của giai cấp công nhân. b- Việt nam là một quốc gia đa dân tộc (54thành phần dân tộc ) các dân tộc ít người phân bố rải rắc khắp địa bàn cả nước, các dân tộc sống xen kẽ là chủ yếu, từng chung sống cới nhau lâu đời, gắn bó với quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Đều có ý thức về một nước Việt Nam thống nhất. Tuy nhiên các dân tộc còn vó sự chênh lệch về trình dộ phát triển kinh tế – xã hội khá lớn Ngay từ khi ra đời Đảng Cọng Sản Việt Nam đã xã định vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc là vấn đề mang ý nghĩa chiến lược. Trong các giai đoạn cách mạng Đảng. Nhà nước đã giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp cũng như tiềm năng từng dân tộc, tiến hành sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và đưa đất nước quá độ lên CNXH. - Trong giai đoạn cách mạng hiện nay Đảng ta chủ chương thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết giúp đỡ giữa các dân tộc. Tạo điều kiện để các dân tộc phát triển cùng với sự phát triển của cả cộng đồng dân tộc. Tôn trọng lợi ích truyền thống của các dân tộc, chống mọi biểu hiện kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Xây dựng các chính sách kinh tế – xã hội phù hợp đặcthù các vùng, các dân tộc - + Tôn trọng lợi ích , truyền thống của đồng bào các dân tộc, hình thành nền văn hóa hiện đại dân tộ c . - + Tăng cường bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc ít người - + Giữ vững truyền thống đoàn kết và đấu tranh cách mạng trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Chống mọi tư tưởng và hành vi phá hoại sự đoàn kết dân tộc. Câu 26. Nội dung cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin? Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà n ước ta? * Nội dung cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác -Lênin. Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin được Lênin nêu ra vào đầu thế kỷ XX với nội dung: "Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc được quyền tự quyết; liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại" (Lênin: toàn tập, NXB Tiến Bộ, M, 1980, tập 25, tr.375). + Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng - Các dân tộc dù là lớn hay nhỏ, dù trình độ phát triển cao hay thấp đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau. Không dân tộc nào được giữ đặc quyền, đặc lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá... - Trong quan hệ xã hội cũng như trong quan hệ quốc tế, không một dân tộc nào có quyền đi áp bức, bóc lột các dân tộc khác. - Trong một quốc gia nhiều dân tộc, quyền bình đẳng dân tộc phải được thể chế hoá bằng pháp luật, được pháp luật bảo vệ và phải được thể hiện trong thực tế tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, phấn đấu khắc phục sự chênh lệch và trình độ phát triển kinh tế, văn hoá do lịch sử để lại. - Bình đẳng là quyền thiêng liêng đồng thời là mục tiêu phấn đấu của các dân tộc. Thực hiện quyền bình đẳng dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền tự quyết định dân tộc và xây dựng mối quan hệ hữu nghĩ, hợp tác giữa các dân tộc.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản