Các loại hình công ty chứng khoán phổ biến trên thế giới

Chia sẻ: vgiang_02

2001, 20h00 Khi bắt đầu làm quen với việc kinh doanh chứng khoán, việc đầu tiên chúng ta phải làm là mở tài khoản tại một công ty chứng khoán. Khi ấy, chúng ta sẽ gặp một loạt các thuật ngữ "bí hiểm" như: full-service brokerage firms, discount firms, wire houses, boutique firms… Vậy những thuật ngữ trên có ý nghĩa như thế nào và chúng khác nhau ra sao? Các công ty môi giới chứng khoán hiện nay trên thế giới được chia thành 2 nhóm chính (classified into two main categories): full-service brokerage firms (tạm dịch là công ty...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Các loại hình công ty chứng khoán phổ biến trên thế giới

 

  1. Các loại hình công ty chứng khoán phổ biến trên thế giới 1
  2. Bài 1. Các loại hình công ty chứng khoán phổ biến trên thế giới Các loại hình công ty chứng khoán phổ biến trên thế giới VASC/UBCK, 06/06/2001, 20h00 Khi bắt đầu làm quen với vi ệc kinh doanh chứng khoán, việc đầu tiên chúng ta phải làm là mở tài khoản t ại một công ty chứng khoán. Khi ấy, chúng ta sẽ gặp một lo ạt các thu ật ng ữ "bí hiểm" như: full-service brokerage firms, discount firms, wire houses, boutique firms… Vậy những thuật ngữ trên có ý nghĩa như thế nào và chúng khác nhau ra sao? Các công ty môi giới chứng khoán hiện nay trên thế giới được chia thành 2 nhóm chính (classified into two main categories): full-service brokerage firms (tạm dịch là công ty "tổng hợp") và discount firms ( công ty "chuyên doanh"). Khi quyết định sử dụng dịch vụ của một công ty "chuyên doanh", b ạn chỉ có thể nhận được 2 loại dịch vụ duy nhất là thực hi ện l ệnh (order execution) và thanh toán (clearance) khi lệnh mua/bán (buy/sell order) của bạn đã được "khớp" (matched) với 1 hoặc nhiều lệnh khác. Một trong những ưu điểm chính của các công ty "chuyên doanh" là phí hoa hồng (commissions) sẽ thấp hơn khoảng từ ẳ cho đến 2/3 so với trường h ợp các công ty "tổng hợp" (commissions paid for services of discount firms are from a quarter to two-thirds lower than those of full-service firms). B ạn ch ỉ nên sử dụng dịch vụ của các công ty này khi bạn là m ột nhà đầu t ư nh ạy bén, có khả năng nắm bắt cũng như phân tích thông tin một cách nhanh nhạy và chính xác. Một số công ty chuyên doanh hiện đang rất nổi tiếng hiện nay là Charles Schwab, Lombard… Các công ty "tổng hợp", ngoài việc cung cấp 2 loại dịch vụ kể trên, còn cung cấp các dịch vụ khác như: phát hành các bản nghiên c ứu tình hình đầu tư (investment research reports) do các chuyên viên phân tích c ủa 2
  3. phòng nghiên cứu (research department analysts) soạn thảo, cung cấp dịch vụ quản lý tài sản (asset management), tư vấn đầu tư (investment advice), giúp lập các dự toán tài chính (financial planning), tư vấn các biện pháp giảm hoặc tránh thuế (tax shelters)… cho khách hàng. Ngày nay, cụm t ừ "dịch vụ môi giới" (brokerage service) đang dần dần được thay bằng thuật ngữ "các dịch vụ tài chính" (financial services) do các dịch vụ mà nhà môi giới cung cấp cho khách hàng ngày càng được mở rộng (the range of services offered by brokers expands). Các công ty "tổng hợp" này được chia làm nhiều loại như sau: * Wire houses: là các công ty cung cấp rất nhiều loại hình công cụ đầu tư (a wide array of investment vehicles) cho khách hàng và đối tượng chủ yếu của các công ty này là những nhà đầu tư cá nhân (individual investors), mặc dù họ cũng phục vụ các nhà đầu tư có tổ ch ức (institutional investors) và tiến hành mua bán cho chính mình (trade for their own inventories). Merrill Lynch, Dean Witter Reynolds, Shearson/Hutton, Prudential Bache, Smith Barney… là những công ty thuộc loại này. * Specialized firms: là những công ty chỉ chuyên cung cấp dịch vụ liên quan đến một hoặc một số rất ít các công cụ đầu tư. Lebenthal & Co. là một công ty rất nổi tiếng chuyên cung cấp các dịch vụ liên quan đến trái phiếu đô thị (municipal bonds)… * Carriage trade houses: đây là từ chuyên dùng để chỉ các công ty "đóng đô" tại thành phố New York (New York-based firms). Khách hàng của các công ty này đều được lựa chọn kỹ càng và đều là khách "s ộp" (their clients are very select and well-heeled). Muốn mở tài khoản tại các công ty chứng khoán này, bạn nhất thiết phải được sự giới thi ệu c ủa các khách hàng hiện tại (recommendation of existing clients). Dịch vụ do các công ty này cung cấp đều được cá nhân hóa cao độ (their services are highly personalized) để phù hợp với từng khách hàng. Các tên tuổi lớn như Morgan Stanley, Donaldson Lufkin, Bear Stearns… đều thuộc dạng này. * Boutique firms: đây là từ dùng để chỉ các công ty vừa có đặc điểm của một carriage trade firm vừa có đặc điểm của một wire house. D ịch vụ 3
  4. do các công ty này cung cấp cũng mang tính chất cá nhân hóa nh ư các carriage trade houses. Đối tượng của các công ty này là nh ững nhà đ ầu t ư có thu nhập trung bình (middle-income-bracket investors). Một số các công ty thuộc dạng này là Grunthal, Butcher and Singer, F.S. Mosely… Mỗi mô hình công ty chứng khoán đều có những ưu nh ược điểm riêng của nó. Hiệu quả đạt được ở chỗ bạn vận dụng các mô hình này nh ư th ế nào vào tình hình thực tế của công ty mình. Bài 2. Phân tích - Dự báo giá cổ phiếu Nhà đầu tư cần phải nắm vững những vấn đề bản chất nhất của phân tích và dự báo giá cổ phiếu, và do đó phải xem xét toàn di ện, tổng thể các nội dung chính yếu sau: 1. Tiến hành phân tích CP trên thị trường với mục tiêu là đưa ra dự báo về giá CP và xu hướng giá CP trong tương lai, tìm khả năng sinh lời cao. Đó là một trong những nội dung quan trọng - xác định giai đoạn nào của chu kỳ CP tăng trưởng - giúp nhà đầu tư cân nhắc để đi đến quy ết đ ịnh đầu tư CK có hiệu quả nhất. 2. Đầu tư vào CP, với tính chất sinh lợi và rủi ro cao, nhà đầu tư thường sử dụng một lượng tiền khá lớn hoặc cực lớn để kinh doanh CK, do đó, họ rất quan tâm việc dự báo diễn biến giá CP. Nếu d ự đoán giá c ả diễn biến đúng, sẽ mang lại thành công lớn; và ngược lại, sẽ thua thiệt, thậm chí có khi dẫn đến phá sản. Chính vì v ậy, phân tích CP đã tr ở thành một ngành kinh doanh lớn và có xu hướng ngày càng phát triển - theo đòi hỏi ngày càng cao của nhà đầu tư - vì thị trường ngày càng phát triển đa dạng và phức tạp hơn. 4
  5. 3. Muốn phân tích CP để dự báo tốt về diễn biến giá cả CP, nhà đầu tư cần phải xem xét, nghiên cứu và tìm ra câu trả lời thoả đáng các vấn đề cụ thể: a/ Các CP nào sẽ lên giá - vì sao? b/ Các CP đó lên giá bao nhiêu - do đâu? c/ Trong thời gian bao lâu, thì các CP đó đạt mức tăng nh ư v ậy - vì đâu? Phải phân tích và tìm ra một ưu thế cạnh tranh nh ất định so với các đối thủ khác như: độc quyền về công nghệ, phát minh sáng ch ế, chi ếm lĩnh thị trường hoặc phương pháp quản lý khoa học, chặt ch ẽ, nâng cao hiệu quả kinh doanh v.v... 4.Trong giai đoạn thử nghiệm này, hầu hết chỉ có sự tham gia c ủa các nhà đầu tư cá nhân, sau 43 phiên giao dịch, giá liên t ục tăng quá cao, v ượt xa giá trị thực của CP (có loại CP giá th ị trường h ơn 3 l ần so m ệnh giá CP) - với tác động của quan hệ cung - cầu th ị trường và tâm lý nhà đ ầu t ư - xu hướng giá còn tiếp tục tăng và giá tăng, gi ảm xen k ẽ, d ẫn đ ến r ủi ro và lợi nhuận xen kẽ, thực sự cuộc chơi "đỏ, đen", người được kẻ mất trong kinh doanh CK. Hãy cảnh giác với thị trường! 5. Vấn đề quan trọng là phải xác định và lựa chọn CP tăng trưởng - nghĩa là cổ phiếu đó có thể tiếp tục tăng trưởng trong tương lai, theo các tiêu chí sau: a/ Đưa ra các sản phẩm mới hoặc dịch vụ mới, độc đáo, có sức thu hút trên thị trường, có khả năng chiếm lĩnh thị trường, đạt tốc độ tăng trưởng trong thời gian dài; b/ Có chu kỳ doanh thu ổn định, tăng một cách liên tục đều đặn; 5
  6. c/ ở trong giai đoạn của chu kỳ tăng trưởng để có l ợi nhu ận cao trong một thời gian dài; d/ ở vị thế dẫn đầu trong ngành hoạt động và có chiến lược phát tri ển thích hợp, dự đoán đúng xu hướng phát triển trong tương lai; e/ Có lợi nhuận trên vốn cao hơn 15%, sử dụng một ph ần lợi nhuận còn lại sau khi đã chi trả cổ tức để tăng vốn ch ủ sở c ủa các c ổ đông - tái đầu tư phát triển; f/ Có số nợ ít, hoặc ít nhất là có tỷ số nợ/vốn cố định khoảng< 20% nguồn vốn daì hạn, sẽ gặp khó khăn tài chính trong quá trình tăng trưởng. 6. Căn cứ vào các tiêu chí trên, cần phân tích kỹ những loại cổ phiếu đang lưu hành - tính hoàn thiện chưa đủ. Mỗi loại cổ phi ếu: Sam, Ree, Hap- mang sắc thái riêng, từng tiêu chí "đậm, nhạt" khác nhau - n ổi lên là: công nghệ, sản phẩm, thị trường, tái đầu tư, lợi tức, tỷ số nợ và các tổ chức quản lý.vv..., đặc biệt là chiến lược phát triển trong tương lai. Cảnh giác với thị trường, vì thị trường vẫn hoạt động chỉ với 4 loại CP giao dịch, đầu tư gắn liên với đầu cơ, giá tiếp tục biến động. C ần tìm ra các giới hạn khác nhau của các loại cổ phiếu đó - xác định mức độ tín nhiệm và sịnh lời để có chiến lược đầu tư cụ thể đối với từng loại cổ phiếu, bảo đảm lợi nhuận và thu nhập hợp lý là v ấn đ ề khó khăn và gi ải quyết đúng đắn của các nhà đầu tư, tránh rủi ro thua thiệt. 7/ Trong thực tế kinh doanh CK, việc dự báo biến động giá và xu hướng giá ngắn hạn có nhiều thành công hơn và chính xác h ơn d ự báo xu hướng dài hạn, vì tính nhạy cảm và phức tạp của thị trường chứng khoán. Do đó, phải dự đoán và xử lý các vấn đề sau: a/ Trong dài hạn, đầu tư CP sẽ mang lại lợi tức vượt xa các loại đ ầu tư khác, yếu tố quyết định nhất và duy nhất đến giá CP là lợi nhuận và chất lượng CP là quan trọng nhất; 6
  7. b/ Trong ngắn hạn, đầu tư CP có thể ảnh hưởng đến tình hình tài chính của nhà đầu tư; c/ Lợi nhuận và rủi ro luôn tỷ lệ với nhau, lợi nhuận cao thì r ủi ro càng lớn; d/ Mức độ biến động của CP lớn hơn nhiều so với trái phi ếu, lãi su ất tăng sẽ ảnh hưởng đến giá trái phiếu; đ/ Danh mục đầu tư đa dạng sẽ ít rủi ro h ơn danh mục đầu tư t ập trung; e/ Lạm phát là mối đe doạ lớn nhất đối với các khoản đầu tư dài h ạn. Đó là những vấn đề kinh tế - tài chính và nguyên tắc kinh doanh phức tạp, có tính tổng hợp - ảnh hưởng do nhiều yếu tố khác nhau kể cả trình độ hiểu biết của các chuyên gia phân tích CK cũng như nhà đầu tư. 8/ Phân tích cơ bản CP nhằm cung cấp thông tin để đánh giá tri ển vọng tăng trưởng và lợi nhuận trên cơ sở dự báo tương lai của TCPH, của ngành hoạt động, của nền kinh tế quốc dân và trong tương lai c ủa c ả n ền kinh tế thế giới. Nó bao gồm các nội dung: a/ Đánh giá môi trường kinh doanh tương lai; b/ Dự báo thu nhập tương lai của TCPH; c/ Dự báo mức giá CP. Do đó, phân tích cơ bản là phương pháp ti ếp cận dài hạn, còn có nhiều biến số phải tính đến và không bi ết tr ước ch ắc chắn được. 9/ Phân tích kỹ thuật CP nhằm nghiên cứu những diễn biến hay hành vi thị trường - thông qua việc nghiên cứu các mô hình giao dịch và các hành vi hiện tại của thị trường, vốn đã phức tạp - để có thể biết được một cách sâu sắc các hành vi có thể xảy ra trong tương lai c ủa th ị tr ường. Những thông tin về một CP, hoặc một ngành, hoặc một th ị trường đ ều có 7
  8. thể được các nhà đầu tư nghiên cứu, xem xét, và do đó, nó phản ánh vào trong giá, cổ tức, lợi nhuận và mô hình giao dịch. Nhà đầu tư có thể đầu tư vào một TCPH khi phân tích c ơ b ản và phân tích kỹ thuật cùng đưa ra kết luận chung về xu hướng biến đ ộng c ủa giá và của TTCK. Bài 3. Cẩm nang cho nhà đầu tư mới vào nghề Trên thị trường chứng khoán (TTCK) có nhiều nhà đầu tư giao dịch cổ phiếu (CP) xuất phát từ nhưng mẹo do bạn bè mách bảo, các cú điện thoại của nhà môi giới hay nhưng đề xuất của một nhà phân tích nào đó. Họ thường mua CP khi thị trường đang trong giai doạn nóng bỏng, đến lúc thị trường trở lạnh, họ rất dễ hoảng loạn, bán tháo số CP n ắm gi ữ đ ể rồi hứng chịu một khoản thua lỗ. Đó là câu chuyện rất điển hình v ề những nhà đầu tư mới vào nghề. Đầu tư chứng khoán về cơ bản là một quá trình bao gồm 4 bước nh ư sau: Bước 1: Chọn lựa CP Bước đầu tiên trong việc chọn lựa một CP là bắt đầu theo dõi di ễn biến các CP. Đặt một CP vào danh sách theo dõi (Watch list) sẽ làm tăng sự chú ý của bạn đối với CP đó. Thật hiếm khi bạn tìm đ ược m ột CP nào đó rồi mua ngay tức thì. Một danh sách quan sát là mấu ch ốt đ ể lựa ch ọn CP thành công. Nếu bạn theo trường phái phân tích kỹ thuật, thì khi đó diễn biến giá CP là lý do chính của việc lựa chọn một CP đó để theo dõi. Còn nếu bạn theo trường phái phân tích cơ bản, thì tin t ức v ề thu nh ập hay bất kỳ một tin tức nào khác về công ty lại là lý do chính đ ể b ạn quan 8
  9. tâm đến CP này. Một khi CP đã nằm trong danh sách theo dõi, b ạn có th ể so sánh diễn tiến giá cả của CP đó với diễn tiến giá c ả c ủa các CP khác. Bạn cũng có thể tìm thấy các thông tin khác liên quan đến CP đó nh ằm giúp bạn có cơ sở để ra quyết định. Nhà đầu tư theo trường phái phân tích kỹ thuật có thể quan tâm đến việc tìm kiếm các thông tin có tính kỹ thuật về CP. Li ệu CP có di ễn bi ến giá cả giống như trong quá khứ không? Xu hướng giá CP trong 13 tuần, 26 tuần hay 52 tuần gần đây nhất là đi lên hay đi xu ống? So v ới lúc b ắt đ ầu được đưa vào danh sách, CP đó tăng hay giảm bao nhiêu phần trăm? Nhà đầu tư theo trường phái phân tích cơ bản sẽ tìm kiếm tin tức, các bản bảo cáo thu nhập, báo cáo ngành hay báo cáo của nhà phân tích nhằm tìm kiếm thông tin. Tuy nhiên, khi chọn lựa CP để theo dõi, cách t ốt nh ất là các nhà đầu tư nên kết hợp các thông tin về phân tích cơ bản lẫn phân tích kỹ thuật để xem liệu CP đó có đáng được theo dõi hay không. May mắn lắm bạn cũng chỉ chọn được 2 đến 3 CP tốt trong s ố 10 l ần chọn. Bởi vậy, bạn đừng ngạc nhiên khi thấy các CP giảm giá sẽ chiếm đa số trong danh sách theo dõi. Cần lưu ý rằng, ch ỉ nên đưa nh ững CP t ốt nhất trong danh sách theo dõi vào danh mục đầu tư của bạn. Bước 2: Chấp nhận vị thế Chấp nhận vị thế là công việc khá đơn giản, bạn chỉ cần liên hệ với nhà môi giới và thực hiện giao dịch. Tuy nhiên cũng c ần l ưu ý m ột s ố điều. Trước tiên là loại giao dịch mà bạn thực hiện: đoản hay trường (short or long). Mặc dù xu hướng chung của giá CP là di lên nh ưng b ất kỳ ai dã từng mắc phải một vị thế thua lỗ đều có thể hiểu rằng, trong ngắn hạn CP có nhiều khả năng đi xuống hơn là đi lên. Nhìn chung, b ạn nên tránh nhưng vị thế đoản (vị thế bán non). Chúng ngốn rất nhi ều th ời gian và công sức nhưng cơ hội dành cho vị thế đoản lại rất hiếm hoi. N ếu b ạn thực hiện vị thế đoản, bạn cần phải giám sát vị thế đó cẩn thận gấp đôi so với vị thế trường. Kế đến là việc chọn lựa nhà môi giới. Nếu bạn là một nhà đầu tư tư nhân 9
  10. bạn có lẽ chỉ cần đến một nhà môi giới phần dịch vụ (discount broker). Đây là nhà môi giới cung cấp dịch vụ cơ bản nhất cho bạn, tức là chỉ thực hiện lệnh giúp bạn và ăn hoa hồng. Bước 3: Giám sát vị thế Giám sát các vị thế đã thực hiện là phần quan trọng nh ất của quá trình đầu tư. Tất cả những thông tin và sự điều tra nghiên cứu đ ưa b ạn đ ến chỗ ra quyết định giao dịch. Giám sát vị thế là lúc bạn theo dõi và đánh giá quyết dịnh đầu tư của mình. Khi vị thế đó nằm ở vị trí bấp bênh giữa lỗ và lãi, bạn cần phải hết sức chú ý đến nh ững vị th ế này. Khi CP mà b ạn chọn tăng giá đều đều và bạn có cơ sở để tin rằng, đó là CP tốt thì b ạn nên tính đến chuyện mua thêm CP này. Nếu CP mà b ạn ch ọn gi ảm giá liên tục bạn cũng nên cân nhắc bán đi CP đó nhằm hạn chế thua lỗ. Bước 4: Kết thúc vị thế Nhà đầu tư thường bán CP khi giá CP đạt đến mức giá m ục tiêu (target price) hay CP không diễn biến theo như mong đợi của anh ta. Tuy nhiên, rất nhiều nhà đầu tư không biết bán khi nào và bán nh ư th ế nào đ ể kết thúc một vị thế và mang lại kết quả tốt nhất. Thông th ường, b ạn nên bán CP khi những nhân tố cơ bản cho thấy sự sa sút đáng kể, chắng hạn như, thu nhập và lợi nhuận công ty giảm sút trong nhi ều năm li ền, th ị phần thu hẹp dần do cạnh tranh gay gắt hay nội bộ ban giám đ ốc luôn l ục đục... Bài 4. Những cơ sở căn bản của Phân tích kỹ thuật Nhà phân tích kỹ thuật trên thị trường chứng khoán là nh ững người có thể dự đoán giá cổ phiếu trong tương lai bằng việc phát hiện ra xu h ướng giá trong quá khứ. Cùng với mong muốn góp s ức để nâng cao tính chuyên 10
  11. nghiệp của thị trường. Xin gửi tới bạn đọc bài viết trên VnBourse về những cơ sở căn bản của phân tích kỹ thuật. Biểu đồ phân tích kỹ thuật. Kỹ thuật dùng biểu đồ phân tích kỹ thuật đã rất phổ bi ến từ cu ối th ế kỷ 19, do Charles H. Dow khởi xướng. Sau đó, quan điểm của ông đã trở thành "Lý thuyết Dow" ("Dow Theory"), cho rằng những biến động thị trường với mọi xu hướng đều có thể được dự đoán trước trên cơ s ở bi ến động giá cổ phiếu trên các biểu đồ. Cơ sở của việc phân tích là tìm cách xác định giá của cổ phiếu trong tương lai bằng việc nhận diện và đo lường giá trị cổ ph ần. Các lý thuy ết về phân tích kỹ thuật cho rằng, các hành vi thị trường trong quá kh ứ t ự nó sẽ xác định giá tương lai. Biểu đồ phân tích kỹ thuật gồm hai trục biểu thị giá và th ời gian. M ỗi một cổ phần, thị trường và chỉ số niêm yết trên bảng giao dịch đ ều đ ược biểu thị bằng một biểu đồ minh hoạ sự biến động giá chứng khoán qua các thời kỳ; mỗi một đồ thị (đường) là tập hợp các điểm ch ỉ giá đóng c ửa (closing price) ngày giao dịch. Đồng thời, có một sự liên h ệ giữa giá m ở cửa, giá đóng cửa, giá cao nhất / thấp nhất. Phân tích biểu đồ có thể được áp dụng cho từng chứng khoán riêng l ẻ cũng như một danh mục đầu tư. Các nhà phân tích sử dụng kỹ năng nghiên cứu kỹ thuật các biểu đồ chỉ số để nhận định thị trường đang ở trạng thái "thị trường bò" hay "thị trường gấu". Với các biểu đồ, các nhà đầu tư có thể đưa ra đánh giá tương tự về công ty mà mình lựa chọn. Xu hướng. Sử dụng biểu đồ để nhận diện xu hướng hiện tại: xu hướng phản ánh tỷ lệ biến đổi trung bình của giá cổ phiếu qua thời gian. Các xu hướng tồn tại trong mọi trạng thái thời gian và mọi thị trường. Các nhà 11
  12. đầu tư hàng ngày có thể xây dựng được xu hướng của cổ phiếu mà họ mua (bán) trong vòng vài phút. Về dài hạn, các nhà đầu t ư quan sát các xu hướng tồn tại trong nhiều năm. Các xu hướng được phân loại: tăng, giảm, hoặc không đổi. Theo xu hướng tăng, một cổ phiếu hồi phục thường là với một giai đoạn "quá độ" giữa tính ổn định và những biến động giảm. Do vậy, nó s ẽ hình thành lên hàng loạt những đỉnh cao hơn và đáy th ấp h ơn trên bi ểu đ ồ cổ phiếu, và người ta dự đoán rằng, khả năng tăng giá cổ phiếu là có thể. Theo xu hướng giảm, một cổ phiếu suy yếu thường là với một giai đoạn "quá độ" giữa tính ổn định và biến động tăng. Do vậy, nó s ẽ hình thành lên hàng loạt những đỉnh thấp hơn và đáy th ấp h ơn trên bi ểu đ ồ c ổ phiếu, và người ta dự đoán rằng, khả năng giảm giá cổ phiếu là có thể. Xu hướng không đổi biểu thị bằng sự dao động lên xuống trong một thời gian dài giữa các giới hạn tăng giảm trực quan. Sự biến động giá trên biểu đồ là không rõ ràng và giá cổ phiếu sẽ không thay đ ổi (ho ặc thay đ ổi không đáng kể). Xu hướng có khả năng ổn định theo thời gian. Một cổ phiếu với xu hướng tăng (giảm) (về giá) sẽ tiếp tục tăng (giảm) cho đến khi có biến động về giá trị hoặc các trạng thái xảy ra. Người "đọc" biểu đồ ph ải đ ịnh vị được các đỉnh và đáy - những điểm biểu th ị sự ch ấm dứt kh ả năng h ồi phục hay suy yếu. Lựa chọn tại một điểm gần đỉnh hoặc đáy có thể rất có lợi. Một châm ngôn nói rằng, "xu hướng là bạn của anh". Với các nhà kinh doanh và các nhà đầu tư, tuyên ngôn này có ý nghĩa là, bạn sẽ đạt thành công hơn nếu lựa chọn vị thế cổ phiếu theo xu hướng ph ổ bi ến, h ơn là đi ngược lại với nó. Khối lượng. 12
  13. Khối lượng cổ phiếu giao dịch đánh giá mức độ tham gia c ủa các nhà đầu tư. Các biểu đồ cổ phiếu cho thấy khối lượng thông qua đồ thị hình cột dưới các ô giá. Thông thường trong các biểu đồ này, các đường màu xanh chỉ các ngày giá lên và những đường màu đỏ là những ngày giá xuống. Các nhà đầu tư và kinh doanh có thể đánh giá được lãi mua và bán bằng việc theo dõi số lần giá lên xuống trong một đường và mức độ bi ến đ ộng c ủa chúng so với những ngày giá biến động theo chiều hướng ngược lại thì như thế nào. Cổ phiếu mua vào với lãi cao hơn khi bán ra được gọi là đang trong tr ạng thái “tích luỹ”, và ngược lại, trường hợp lãi khi bán ra cao h ơn khi mua vào được gọi là đang trong quá trình “phân phối”. “Tích luỹ” và “phân phối” thường dẫn tới sự biến động của giá cả. Hay nói cách khác, các c ổ phiếu đang trong trạng thái tích luỹ thường sẽ tăng giá chỉ một thời gian ngắn sau khi hành vi mua bắt đầu. Và ngược lại, những cổ phi ếu đang được lưu thông thường rớt giá một thời gian sau khi bán ra. Một cổ phiếu có thể hồi phục được hay không đòi hỏi sự tham gia “nhiệt tình” của các nhà đầu tư. Khi sự hồi phục của một cổ phi ếu không hấp dẫn được các nhà đầu tư mới thì nó sẽ rất dễ rớt giá. Các nhà đ ầu t ư và kinh doanh sử dụng các tiêu chí như trạng thái cân bằng kh ối lượng đ ể đánh giá số lượng người tham gia đang chậm lại hay tiến triển nhanh h ơn các động thái của giá cả. Các cổ phiếu giao dịch thường ngày với một khối lượng trung bình. Khối lượng này có thể xác định được tính lỏng của các cổ phi ếu đó. Nhà kinh doanh có thể rất dễ dàng mua và bán các cổ phiếu có tính lỏng cao. Những cổ phiếu không có tính lỏng cao đòi hỏi chi phí giao dịch rất lớn và thường không thể nhanh chóng loại bỏ ra khỏi một danh mục đầu tư. Những phép phân tích biểu đồ cổ phiếu không thể áp dụng cho cổ phiếu không có tính lỏng cao. 13
  14. Việc giá cổ phiếu gia tăng đột biến kéo theo một khối lượng giao dịch cao hơn rất nhiều so với mức trung bình là có lợi cho s ự ti ếp t ục bi ến động của giá cổ phiếu theo chiều hướng đó. Nh ưng sau m ột th ời gian dài tăng giảm, các cổ phiếu thường có một ngày có khối lượng giao dịch rất lớn, đạt mức đỉnh điểm. Trong những ngày này, người mua, hoặc người bán cuối cùng sẽ là những người được lợi nhất. Sau đó, giá trị c ủa c ổ phiếu đó sẽ thay dổi theo chiều hướng ngược lại vì sẽ không còn có đủ lượng người tham gia giao dịch để làm cho giá biến chuy ển theo chi ều hướng đó Mô hình và chỉ số Làm thế nào bạn có thể biến những đường vô tận biểu thị các dữ liệu trên biểu đồ thành một dạng logic mà không cần sự can thiệp của các thao tác kỹ thuật ? Các biểu đồ cho phép các nhà đầu tư và kinh doanh nh ận biết hành vi giá cả thị trường cả trong quá khứ và hiện tại để làm cơ sở hợp lý cho việc dự báo cũng như đưa ra các quyết định khôn ngoan. Nó gần giống như công cụ trực giác, trái ngược với quan điểm của các nhà phân tích giá trị. Biểu đồ cổ phiếu có khả năng tác động tới các chức năng của cả hai bán cầu não về tư duy logic và tính sáng tạo. Quan đi ểm này đã gây tranh cãi trong giới phân tích đầu tư trong suốt thế kỷ qua. Dạng "nguyên thuỷ" của việc đọc các biểu đồ là phân tích mô hình. Phương thức này khá phổ biến qua các lý thuyết của Charles Dow và cuốn Technical Analysis of Stock Trends (viết ngay sau Chiến tranh th ế giới II). Dạng hiện đại hơn là phân tích chỉ số, một phương pháp khảo sát sử dụng các công cụ toán học trong đó các yếu tố cơ bản của giá và số lượng được xem xét thông qua một loạt các phép tính nh ằm dự đoán mức tăng giảm tiếp theo của giá cả. Phép phân tích mô hình có độ chính xác cao do các đ ồ th ị có xu h ướng lặp đi lặp lại sự hình thành các đường. Những mô hình này từ lâu đã được 14
  15. phân loại thành khuynh hướng đầu cơ giá lên và đầu cơ giá xu ống. Có một số mô hình được nhiều người biết đến như Đầu và Vai (HEAD and SHOULDERS), Tam giác (TRIANGLES), Hình ch ữ nhật (RECTANGLES), Hai đỉnh (DOUBLE TOPS), Hai đáy (DOUBLE BOTTOMS), và Hình cờ (FLAGS). Hơn nữa, các chi tiết của đồ thị nh ư các khe hở giá (GAPS) và đường chỉ xu hướng (TRENDLINES) được coi là có ảnh hưởng đáng kể đến quá trình diễn biến tiếp theo của giá. Phép phân tích chỉ số sử dụng các phép tính toán h ọc đ ể đánh giá m ối quan hệ giữa tình hình diễn biến giá ở thời điểm hiện tại với quá kh ứ. Hầu hết các chỉ số có thể được phân chia thành các nhóm theo khuynh hướng và giao động. Các chỉ số theo khuynh hướng phổ biến là các ch ỉ s ố trung bình biến đổi (MOVING AVERAGES), khối lượng cân bằng (ON BALANCE VOLUME) và MACD. Chỉ số giao động thông thường bao gồm STOCHASTICS, RSI và tỷ lệ thay đổi (RATE OF CHANGE). Ch ỉ s ố theo xu hướng thường phản ứng chậm hơn so với chỉ số giao động. Các chỉ số này đi sâu vào phân tích quá khứ để dự đoán tương lai. Ch ỉ s ố giao động nhạy cảm hơn với các thay đổi giá cả trong ngắn h ạn, giao đ ộng qua lại giữa mức OVERBOUGHT và OVERSOLD. Cả hai phương pháp mô hình và chỉ số đều có thể đánh giá được tâm lý thị trường. Các nhà đầu tư và giao dịch trên thị trường h ằng ngày có xu hướng hành động theo tâm lý chung khi giá cả biến động. Họ có khuynh hướng bộc lộ các đặc tính cố hữu mà lặp đi lặp lại nhiều lần. Vi ệc gi ải thích rõ biểu đồ có sử dụng hai công cụ phân tích quan trọng này đã cho thấy những chấn động tâm lý trong giới đầu tư mà rốt cục thì cũng có th ể hiểu được là do sự biến động của giá cả. . Bài 5: Lựa chọn cổ phiếu theo nguyên tắc CAN SLIM William J. ONeil là một mẫu nhà đầu tư chứng khoán thành công tại Mỹ. Khởi nghiệp bằng nghề kế toán viên, ông nhanh chóng bị cuốn vào 15
  16. cơn sốt cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, để rồi với những công th ức đầu tư của riêng mình, ông đã trở thành một nhà “phù thuỷ” tại Wall Street khi thu về hàng triệu USD lợi nhuận mỗi năm từ cổ phiếu. Hi ện William là chủ tịch kiêm giám đốc điều hành hãng nghiên cứu đầu tư William J. ONeil & Company do chính ông thành lập 300 USD là khoản tiền đầu tiên William “rót” vào th ị trường ch ứng khoán với cổ phiếu của Procter & Gamble khi còn phục vụ trong Không lực hoàng gia. Có trong tay tấm bằng cử nhân tài chính của Đại học Southern Methodist, William khởi động sự nghiệp đầu tư của mình trên cương vị một nhà môi giới chứng khoán tại Los Angeles. Biết kinh nghiệm còn ít ỏi, William đã dành rất nhiều thời gian để nghiên cứu về thành công của các “bậc tiền bối” trên thị trường chứng khoán. Và rồi, n ỗ lực của ông đã được đền đáp. William nghiên cứu và đúc k ết đ ược 7 y ếu tố cần thiết để nhận dạng những cổ phiếu hiện còn ít được giới đầu tư chú ý nhưng lại chính là những tài sản sinh lời lớn trong t ương lai. B ảy yếu tố đó được biết đến với cái tên CAN SLIM. William tâm sự: “Trên thị trường chứng khoán có đến hàng ch ục nghìn cổ phiếu niêm yết nên nhiều nhà đầu tư đôi khi rất lúng túng trong việc lựa chọn đối tượng để đầu tư. Vấn đề quan trọng đối với họ là “ch ọn mặt gửi vàng”, nghĩa là phải tìm ra một số loại cổ phiếu thực sự có khả năng sinh lời để đầu tư. Nhận định của William hoàn toàn phù hợp với một th ực tế hiện nay là rất nhiều nhà đầu tư không biết các công ty được niêm yết cổ phi ếu trên thị trường chứng khoán đang hoạt động như thế nào và đầu t ư vào c ổ phiếu của các công ty nào sẽ có lãi? Dưới tác động của “hiệu ứng đám đông”, họ bắt chước nhau, cùng đổ xô đi mua những cổ phiếu đang tăng giá. Nhiều người mua cổ phiếu rồi mà vẫn chưa có trong tay những tài liệu và phương pháp cần thiết để tìm hiểu về mức độ sinh lời c ủa c ổ phiếu đó. Là cha đẻ của phương pháp phân tích và lựa chọn cổ phiếu hiệu quả CAN SLIM, William J. ONeil đã mang lại tốc độ tăng trưởng bình quân 16
  17. 40%/năm cho các tài khoản đầu tư cá nhân được ông tư vấn. Nhi ều chuyên gia đánh giá đây là một trong những phương pháp hiệu quả nhất trong vô vàn các công cụ phân tích chứng khoán hiện nay. “CAN SLIM thể hiện sự kết hợp hài hoà giữa phương pháp phân tích cơ bản với phương pháp phân tích kỹ thuật đầu tư chứng khoán”- John Neff, m ột cây đ ại th ụ của phố Wall, cho biết. CAN SLIM là tập hợp bảy chữ cái đầu tiên của bảy y ếu tố mà theo William là rất hiệu quả khi đánh giá cổ phiếu: C: Current Quaterly Earnings Per Share (lãi ròng trên m ỗi c ổ phiếu của quý gần nhất) William nhận định rằng, hầu hết các cổ phiếu tốt đều có sự gia tăng lợi nhuận so với cùng quý năm trước đó và tỷ lệ tăng càng cao thì chứng tỏ cổ phiếu càng có nhiều triển vọng. Theo ông, các nhà đ ầu t ư tr ước khi bỏ tiền ra mua cổ phiếu cần xem xét tới sự gia tăng mạnh mẽ lợi nhuận của cổ phiếu đó, cụ thể là mức tăng trưởng của lãi ròng trên mỗi cổ phiếu trong 3 tháng gần nhất. Nhưng phải tìm hiểu sự gia tăng lợi nhuận này ở đâu và nh ư th ế nào? William cho rằng nhà đầu tư có thể nghiên cứu các báo cáo tài chính có kiểm toán của công ty niêm yết, cùng với việc thăm dò các các kênh thông tin khác như báo chí, người quen... Điều quan trọng là các nhà đ ầu t ư c ần coi trọng độ tin cậy và tính đồng nhất của thông tin, ch ẳng h ạn có th ể có điều gì đó không đúng, nếu doanh thu của công ty tăng 20%, trong khi lãi ròng chỉ tăng 5%. A: Annual Earnings Increases (sự gia tăng lãi ròng hàng năm) Theo ONeil, cổ phiếu tốt là cổ phiếu có mức gia tăng lợi nhuận đều đặn trong vòng 5 năm trước đó. Các nhà đầu tư cần đặc bi ệt l ưu ý t ới các cổ phiếu có mức gia tăng lợi nhuận hàng năm ổn định và đạt trên 25%, tuy 17
  18. nhiên nên chú ý tới chu kỳ kinh doanh của từng ngành, t ừng công ty. Theo ONeil, tiêu chí này có thể giúp bạn loại bỏ khoảng 80% các cổ phiếu tồi. Để có được sự chính xác về mức gia tăng lợi nhuận, nhà đầu tư cần nghiên cứu tất cả các thông tin liên quan đến công ty mà h ọ mu ốn đ ầu t ư. Các thông tin này bao gồm lịch sử và đặc điểm của công ty, tình hình tài chính, các chi tiết của đợt phát hành cổ phiếu và tổ chức bảo lãnh phát hành cổ phiếu. Nhà đầu tư có thể tìm các thông tin này trong B ản thông cáo phát hành, trong Báo cáo tài chính của công ty hoặc từ các công ty d ịch vụ tư vấn đầu tư. Các quyết định đầu tư ch ỉ nên đưa ra khi b ạn đã có đ ủ cơ sở thông tin về cổ phiếu cũng như về mức tăng trưởng lãi ròng hàng năm. N: New Products, New Management, New Highs (sản ph ẩm m ới, sự quản lý mới, mức giá trần mới) Những nghiên cứu của William chỉ ra rằng giá cổ phiếu tăng sẽ bắt nguồn từ một số nhân tố nội tại nào đó. Những nhân tố này thường là sản phẩm mới của công ty, ban giám đốc mới, phương thức quản lý mới hay mức giá trần mới của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Do vậy, sẽ không bao giờ thừa nếu các nhà đầu tư quan tâm đến những nhân tố nội tại này. Nếu xét thấy những nhân tố này có sự ổn định, không có biểu hiện đột biến theo chiều hướng xấu, thì đó sẽ là một cổ phiếu có nhiều triển vọng tăng trưởng trên thị trường chứng khoán. S: Supply and Demand (nguồn cung và cầu) Trong kinh doanh, quy luật cung cầu luôn có ảnh hưởng rất lớn đến giá thành sản phẩm, và đầu tư chứng khoán cũng không phải là một ngoại lệ. Giá cổ phiếu cũng chịu tác động từ quy luật cung cầu. William cho rằng cổ phiếu của các công ty đại chúng, có quy mô lớn, sản phẩm chất lượng không phải lúc nào cũng đáng để mua, bởi lượng cầu của những cổ phiếu này khá lớn, trong khi nguồn cung lại ít nên giá thường bị đẩy lên 18
  19. cao giả tạo, không phản ánh đúng giá trị thực tế của cổ phiếu cũng như rất khó sinh lợi nhuận lớn. Chính những cổ phiếu có số lượng lưu hành thấp trên thị trường mới có nhiều triển vọng và có khả năng tăng giá hơn so với các cổ phiếu có số lượng lưu hành lớn. Từ đó suy ra, cổ phiếu được các nhà quản trị hàng đầu nắm giữ với tỷ lệ lớn thường là những cổ phiếu có độ an toàn cao. William đặc biệt lưu ý tới các cổ phiếu được công ty mua l ại và cổ phi ếu của các công ty có tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn tự có v ừa ph ải, b ởi theo ông thì tỷ lệ này càng cao bao nhiêu công ty sẽ càng phải đương đầu với áp lực trả lãi trong tương lai nhiều bấy nhiêu. Các nhà đầu t ư nên so sánh t ỷ số này ở công ty mình dự định đầu tư với tỷ số nợ bình quân ở các công ty trong cùng ngành, đồng thời phân tích thêm khả năng thanh toán để có đánh giá xác thực hơn về mức độ nợ của công ty. L: Leader and Laggard (cổ phiếu đầu bảng và cổ phiếu tụt hậu) Theo ONeil, nhà đầu tư trên thị trường chỉ nên mua 2 hay 3 cổ phiếu tốt nhất trong nhóm những cổ phiếu đầu bảng hiện tại, còn lại nên dành tiền cho những cổ phiếu có khả năng sinh lời trong tương lai. Ðặc biệt, các nhà đầu tư cần tránh mua những cổ phiếu có mức tăng trưởng cao nhưng không bền vững, chẳng hạn như cổ phiếu lên giá theo trào l ưu, theo sự kiện nổi bật… bởi vì các cổ phiếu này được đánh giá là nh ững c ổ phiếu tụt hậu, không sớm thì muộn cũng mất giá. I: Institutional Sponsorship (sự ủng hộ của các định chế tài chính và đầu tư) Định chế tài chính đầu tư ở đây thường là các cơ quan chức năng, các cơ quan chính phủ chuyên về tài chính đầu tư. Các cơ quan này có th ể nắm giữ một số lượng cổ phiếu nhất định của các công ty nào đó, nhờ vậy mà công ty sẽ có sự ủng hộ và trợ giúp mạnh mẽ từ những cơ quan này, một điều kiện vô cùng thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, khi ến giá 19
  20. cổ phiếu tăng mạnh. Tuy nhiên, một số lượng quá lớn các định ch ế tài chính đầu tư nắm giữ cổ phiếu lại trở thành yếu tố bất lợi, vì đi ều đó đồng nghĩa với việc nguồn cung sẽ hạn chế bởi các cơ quan ít khi muốn bán từng phần cổ phiếu của mình, đẩy tính thanh kho ản c ủa c ổ phi ếu xuống thấp. M: Market Direction (định hướng thị trường) Cho dù bạn hoàn toàn chính xác khi nhận định về cả 6 tiêu chí k ể trên, nhưng đến tiêu chí định hướng thị trường bạn mắc phải sai l ầm thì s ẽ có đến 5 trong số 7 cổ phiếu bạn mua sẽ mất giá và khi ến bạn thua l ỗ. Y ếu tố thị trường là rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến giá c ổ phiếu. Khi hàng loạt các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường bị mất giá, thì giá cổ phiếu của công ty mà bạn lựa chọn chắc chắn cũng sẽ sụt giảm theo. Ngược lại, nếu giá cổ phiếu của các công ty này tăng theo sự phát triển của thị trường thì cổ phiếu bạn mua vào cũng được “ăn theo” nh ững chỉ số tích cực đó. Do đó, William nhấn mạnh đến tầm quan trọng c ủa việc nghiên cứu các đồ thị biến động giá chứng khoán theo ngày, theo tuần và theo tháng trước mỗi quyết định đầu tư cổ phiếu. Một trong những thành công lớn nhất của William là đầu tư vào c ổ phiếu của hãng dược phẩm Syntex. Đây là hành động táo bạo và liều lĩnh, theo đánh giá của các nhà đầu tư chuyên nghiệp lúc bấy gi ờ, b ởi Syntex là hãng sản xuất thuốc tránh thai đầu tiên trên thế giới. Nh ưng rồi kết quả đã chứng minh quyết định của William là đúng. Chỉ một thời gian ng ắn sau đó, Syntex đã công bố doanh thu hàng quý tăng trưởng trên 300% và cổ phiếu của Syntex từ chỗ còn “ẩn danh” với mức giá 100 USD/cổ phiếu đã trở thành cổ phiếu tăng trưởng mạnh mẽ với mức giá 550 USD/cổ phiếu trong vòng chưa đầy sáu tháng. Chính nhờ khoản lợi nhuận k ếch sù t ừ Syntex mà William đã có tiền để thành lập công ty William J. ONeil & Company của riêng mình. 20
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản