CÁC QUY LUẬT HOẠT ĐỘNG THẦN KINH CẤP CAO

Chia sẻ: Chu Văn Kiền | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:5

3
849
lượt xem
136
download

CÁC QUY LUẬT HOẠT ĐỘNG THẦN KINH CẤP CAO

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Não là cơ quan trung ương phát triển mạnh nhất và có cấu tạo tinh vi nhất của hệ thần kinh. Tuy não bộ chỉ là một tập hợp hàng tỉ nơ ron thần kinh, nhưng hoạt động của nó lại có những quy luật riêng. Hoạt động thần kinh cấp cao được xây dựng trên cơ sở hai quá trình thần kinh cơ bản là hưng phấn và ức chế. Hoạt động thần kinh cấp cao được thể hiện qua hoạt động hành vi của con người và động vật trong cuộc sống hàng ngày. Toàn bộ hoạt động thần kinh cấp cao đều tuân thủ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: CÁC QUY LUẬT HOẠT ĐỘNG THẦN KINH CẤP CAO

  1. 12.4. CÁC QUY LUẬT HOẠT ĐỘNG THẦN KINH CẤP CAO Gồm các nội dung sau: 12.4.1. Quy luật chuyển từ hưng phấn sang ức chế 12.4.2. Quy luật lan tỏa và tập trung 12.4.3. Quy luật cảm ứng qua lại 12.4.4. Quy luật tính hệ thống 12.4.5. Quy luật về mối tương quan giữa cường độ kích thích và cường độ phản xạ có điều kiện. Não là cơ quan trung ương phát triển mạnh nhất và có cấu tạo tinh vi nhất của hệ thần kinh. Tuy não bộ chỉ là một tập hợp hàng tỉ nơ ron thần kinh, nhưng hoạt động của nó lại có những quy luật riêng. Hoạt động thần kinh cấp cao được xây dựng trên cơ sở hai quá trình thần kinh cơ bản là hưng phấn và ức chế. Hoạt động thần kinh cấp cao được thể hiện qua hoạt động hành vi của con người và động vật trong cuộc sống hàng ngày. Toàn bộ hoạt động thần kinh cấp cao đều tuân thủ 5 quy luật sau: 12.4.1. Quy luật chuyển từ hưng phấn sang ức chế Quy luật này cho thấy mối liên hệ giữa hưng phấn và ức chế. Quá trình chuyển từ hưng phấn sang ức chế có thể diễn ra một cách nhanh chóng, đột ngột. Ví dụ, có những cháu bé vừa mới rồi còn cười đùa, mà ngay sau đó đã lăn ra ngủ. Nhưng sự chuyển hóa ấy cũng có thể xảy ra một cách dần dần, qua một số giai đoạn. Quá trình chuyển từ hưng phấn sang ức chế trải qua 4 pha khác nhau: - Pha san bằng: bắt đầu ngay khi quá trình hưng phấn chuyển sang ức chế với đặc điểm là các kích thích có cường độ khác nhau đều cho phản ứng giống nhau bằng cách tạo các ổ hưng phấn khác nhau trên vỏ não. Kết quả
  2. xảy ra cạnh tranh giữa các ổ hưng phấn và ức chế trên vỏ não. - Pha trái ngược: là giai đoạn tiếp theo của quá trình chuyển từ hưng phấn sang ức chế, có đặc điểm là các kích thích có cường độ mạnh không gây ra phản ứng, nhưng các kích thích có cường độ yếu hay trung bình lại gây ra phản ứng. Kết quả não gần như không có phản ứng gì rõ rệt đối với môi trường xung quanh. - Pha cực kỳ trái ngược: có đặc điểm là các kích thích dương tính sẽ tạo ra ức chế, còn kích thích âm tính lại cho phản ứng dương tính. Người ta mới thấy hiện tượng này xảy ra trên vỏ não. - Pha ức chế hoàn toàn : có đặc điểm là não không có phản ứng đối với bất kỳ một loại kích thích nào. 12.4.2. Quy luật lan tỏa và tập trung Hưng phấn và ức chế sau khi xuất hiện trên vỏ não có thể lan tỏa ra các phần khác nhau, khi đủ mức sẽ thu hẹp về vị trí ban đầu. + Quy luật tập trung. Một kích thích hay một nhóm kích thích được truyền về não lúc đầu gây hưng phấn hay ức chế một cách lan tràn, có thể là trên toàn bộ não, nhất là các kích thích mạnh. Tuy nhiên, sau một thời gian, các trung tâm hưng phấn hay ức chế trên não sẽ giảm bớt dần, cuối cùng tập trung ở một số trung khu tiêu biểu nhất, nhờ đó mà các phản ứng chỉ xảy ra ở những cơ quan đặc trưng nhất. Quá trình tập trung có tính chất bảo vệ mô não khỏi làm việc quá căng hoặc quá lâu. Đồng thời còn làm chính xác hóa và tăng hiệu quả của phản ứng trả lời. Ví dụ, khi nghe một tin người thân mất đột ngột, lúc đầu gây ức chế toàn thân không nói nên lời, khóc và có thể ngất đi, nhưng sau đó ức chế thu hẹp dần, các cơ quan sẽ trở lại hoạt động làm người đó tỉnh lại, chỉ còn khóc thút thít và ngay lập tức đi đến gặp người thân. Hay khi nghe một tin vui như đậu vào đại học, mừng quá có thể nhảy cẫng lên, la hét “đậu rồi, đậu rồi”, cười, nói, báo với người thân hay những người bạn đang ở gần rồi sau đó từ từ hết la hét, cười nói, đi đứng bình thường. + Quy luật lan tỏa. Một kích thích lúc đầu có thể chỉ gây hưng phấn hay ức chế cục bộ trên một vài vùng não xác định. Nhưng nếu kích thích đủ mạnh, thì quá trình ức chế, hưng phấn có thể lan tỏa dần sang các trung khu
  3. khác của não. Lan tỏa có tác dụng huy động các bộ phận trong cơ thể tham gia mỗi lúc mỗi nhiều vào một hành động chung, nhằm tăng hiệu quả phản ứng. Ví dụ, quá trình từ buồn ngủ, ngáp, “díp mắt”, ngủ gật, rồi ngủ say thực sự, chính là quá trình lan toả của một ức chế từ một điểm ban đầu nào đó trên vỏ não. Và quá trình ngược lại, từ ngủ đến thức dậy – là quá trình tập trung của ức chế sau khi đã lan rộng khắp vỏ não. Quy luật lan toả có tác dụng huy động các bộ phận trong cơ thể tham gia mỗi lúc một nhiều vào một hành động chung nhằm tăng hiệu quả phản ứng. Lan tỏa ức chế trên não còn mang tính chất bảo vệ. 12.4.3. Quy luật cảm ứng qua lại Cảm ứng là khả năng gây ra quá trình đối lập ở xung quanh mình (cảm ứng không gian) hoặc tiếp sau mình (cảm ứng thời gian) của các quá trình thần kinh cơ bản (hưng phấn và ức chế). Ví dụ: khi một điểm nào đó trên vỏ não hưng phấn thì sẽ làm cho các điểm khác ở xung quanh ở vào trạng thái ức chế. Đó là cảm ứng theo không gian, hay còn gọi là cảm ứng đồng thời. Hoặc một điểm nào đó của vỏ não lúc này ở trạng thái ức chế, thì sau một thời gian, cũng chính điểm đó lại chuyển sang trạng thái hưng phấn mà không cần tác động hỗ trợ của một tác nhân ngoại lai nào. Đó là hiện tượng cảm ứng theo thời gian, hay còn gọi là cảm ứng nối tiếp. Người ta phân biệt một số hiện tượng cảm ứng sau: - Cảm ứng dương tính (hay cảm ứng hỗ trợ, cùng hướng): là hiện tượng tăng cường độ hoạt động của các nơron sau tác động của các kích thích âm tính. Ví dụ, khi gây phản xạ nhảy, hai trung khu trên vỏ não gây sự co các cơ tham gia động tác nhảy ở cả hai chân. - Cảm ứng âm tính (hay cảm ứng đối lập, ngược chiều): là hiện tượng ức chế xuất hiện trong các tế bào thần kinh bao quanh ổ hưng phấn. Nhờ có cảm ứng âm tính mà hưng phấn không lan tỏa đựợc ra các phần khác nhau trên vỏ não. Ví dụ, cơ co ở tay hưng phấn thì cơ duỗi ở tay ức chế, và ngược lại. Có như vậy mới không ảnh hưởng nhau. - Cảm ứng đồng thời. Ví dụ, động tác hít vào, thở ra thì hai trung khu điều
  4. khiển hít vào và thở ra hoạt động đồng thời cùng lúc. Tóm lại, để xuất hiện hiện tượng cảm ứng, không đòi hỏi bất kỳ một sự luyện tập nào. Cảm ứng có thể xuất hiện ngay lập tức, vào một thời điểm nhất định nào đó trên vỏ não. Để xảy ra hiện tượng này chỉ cần tồn tại một cứ điểm tập trung của hưng phấn hay ức chế. Các cứ điểm hưng phấn và ức chế trên vỏ não luôn thay đổi tạo cho ta cảm giác đó là bức khảm khổng lồ luôn thay đổi. Quá trình tạo thành bức khảm sinh lý trên vỏ não do hiện tượng vận động của hưng phấn và ức chế tạo nên. Chính vì vậy, quá trình vận động này được gọi là động hình chức năng. Đó là cơ chế thích nghi của cơ thể với môi trường luôn thay đổi. 12.4.4. Quy luật tính hệ thống Hoạt động tổng hợp của vỏ não cho phép hợp nhất các kích thích riêng lẻ thành một tổ hợp hoàn chỉnh, hay thành những hệ thống gọi là tính hệ thống trong hoạt động của vỏ não. Một trong những biểu hiện quan trọng nhất của hệ thống hoạt động vỏ não là hình thành “định hình động lực” (mà ta quen gọi là “động hình”). Vậy động hình là gì? Động hình là một hệ thống phản xạ có điều kiện được lặp đi lặp lại theo một trình tự nhất định và theo một khoảng thời gian nhất định, trong một thời gian dài. Sau đó chỉ cần một phản xạ đầu xảy ra, là toàn bộ những phản xạ tiếp theo sẽ xảy ra theo lối “dây chuyền”, nghĩa là một kích thích có thể đại diện cho toàn bộ các kích thích khác để gây phản xạ. Định hình động lực làm cho hoạt động của con người thuận lợi và dễ dàng hơn. Nó là cơ sở của những thói quen tốt, của kỹ năng, kỹ xảo, là một hệ thống phối hợp chức năng tinh xảo của toàn bộ cơ thể. 12.4.5. Quy luật về mối tương quan giữa cường độ kích thích và cường độ phản xạ có điều kiện. Trong thực tế, cường độ của ổ hưng phấn thường phụ thuộc vào ý nghĩa sinh học, điều kiện tác động của kích thích và tình trạng sức khỏe của con vật. Chính vì vậy, phản xạ có điều kiện chỉ hình thành được khi kích thích có điều kiện yếu hơn so với tác nhân cũng cố không điều kiện. Ví dụ, với con chó đã ăn no, ta không thể tạo được phản xạ có điều kiện về tiêu hóa. Ngược
  5. lại, con chó đói thì bất kỳ kích thích dửng dưng nào cũng có thể kết hợp với thức ăn để tạo phản xạ có điều kiện tiết nước bọt. Cường độ của các kích thích có điều kiện thay đổi cũng ảnh hưởng đến quá trình hình thành phản xạ có điều kiện. Quá trình hình thành phản xạ có điều kiện đối với các kích thích yếu thường khó khăn và kéo dài hơn so với các kích thích mạnh, nhưng cường độ kích thích không được vượt quá ngưỡng. Về đầu trang
Đồng bộ tài khoản