Các thủ tục hành chính trong lĩnh vực giáo dục đào tạo

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:29

0
283
lượt xem
50
download

Các thủ tục hành chính trong lĩnh vực giáo dục đào tạo

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu tham khảo các thủ tục hành chính trong lĩnh vực giáo dục đào tạo

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Các thủ tục hành chính trong lĩnh vực giáo dục đào tạo

  1. HỘI ĐỒNG TƯ VẤN CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH BÁO CÁO KẾT QUẢ RÀ SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH LĨNH VỰC GIÁO DỤC Tháng 11 năm 2009
  2. 1    NHỮNG VƯỚNG MẮC VÀ ĐỀ XUẤT TRONG THỦ TỤC THÀNH LẬP TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG, TRUNG CẤP VÀ CƠ SỞ GIÁO DỤC LIÊN KẾT VỚI NƯỚC NGOÀI I/ GIỚI THIỆU: Đối với mỗi quốc gia, giáo dục tạo nên sức mạnh quyết định sự hưng vong của cả dân tộc. Đối với mỗi người dân, giáo dục mở cho họ cơ hội vào đời và tạo lập cuộc sống riêng trong xã hội. Hiến pháp nước ta đã ghi nhận: « Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu » 1 …, « học tập là quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân » 2 . Việc thực thi chính sách giáo dục của nhà nước cũng như quyền học tập của công dân phụ thuộc đầu tiên vào sự tồn tại và phát triển của các cơ sở giáo dục đào tạo. Trong bối cảnh Việt Nam - một trong 22 nước có số lượng sinh viên đông nhất thế giới, và là nơi giới trẻ chiếm hơn 60% dân số 3 , Nhà nước, bên cạnh việc trực tiếp đầu tư và quản lý các cơ sở giáo dục, rất cần huy động nguồn lực của khu vực tư vào lĩnh vực này. Thủ tục hành chính trong việc thành lập trường đại học, cao đẳng, trung cấp và các cơ sở giáo dục liên kết với nước ngoài (sau đây gọi tắt là Thủ tục thành lập trường) đóng vai trò trọng tâm trong việc huy động toàn xã hội tham gia vào giáo dục, nhằm đảm bảo tối ưu quyền học tập của người dân và xây dựng một nền giáo dục hiện đại, chất lượng, từ đó làm động lực phát triển xã hội. Bên cạnh những nỗ lực đáng kể trong việc ban hành khung pháp lý cũng như áp dụng chúng vào việc thành lập các cơ sở giáo dục, Thủ tục thành lập trường hiện nay cũng đồng thời bộc lộ rất nhiều hạn chế. Một mặt, Thủ tục thành lập trường rất rườm rà với nhiều tầng nấc, giai đoạn khác nhau và những hồ sơ, điều kiện rất phiền hà, phức tạp, thậm chí là rất khó khả thi. Mặt khác, trình tự, thời gian, cách thức thực hiện thủ tục thành lập trường cũng như trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực này lại không luôn được xác định rõ ràng. Điều này dẫn đến các hạn chế như: Một mặt, một số cơ sở giáo dục không đủ điều kiện dạy và học vẫn được phép thành lập và cho hoạt động (điển hình là sự kiện Đại học Quốc tế Hồng Bàng, Đại học Phan Thiết, Cơ sở giáo dục SITC), mặt khác các dự án đầu tư trong nước cũng như liên kết với nước ngoài vẫn gặp rất nhiều khó khăn cản trở trong việc mở trường. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người học, do mất đi cơ hội được hưởng thụ nền giáo dục có chất lượng cao. Về phía Nhà nước, sự thiếu vắng một nền giáo dục tốt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực của xã hội, gây ra những lo ngại về                                                              1  Điều 35 Hiến pháp 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001 2 Điều 59 Hiến Pháp 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001. 3  Theo http://vietnamnet.vn/giaoduc/2006/01/537624/ 
  3. 2    năng lực phát triển kinh tế, xã hội trong tương lai. Ngoài ra, thủ tục hành chính rườm rà phức tạp và không rõ ràng tạo điều kiện cho tệ tham nhũng phát triển trong các cơ quan hành chính. Về phía nhà đầu tư: một mặt thủ tục lập trường khó khăn dẫn đến chi phí cao do phải nhờ vả, quan hệ, từ đó cản trở các dự án đầu tư tốt vào lĩnh vực này. Mặt khác, một số dự án đầu tư kém chất lượng vẫn được chấp nhận do những quan hệ quen biết hay tiêu cực. Điều này tạo nên sự bất bình đẳng trong hoạt động giáo dục, từ đó hạn chế năng lực cạnh tranh của Việt Nam. Nghiên cứu, rà soát thủ tục hành chính trong việc thành lập trường không nằm ngoài mục đích cụ thể của Đề án 30: nhằm loại bỏ hoặc đơn giản hóa một số thủ tục hành chính rườm rà không cần thiết, từ đó cắt giảm chi phí cho người dân và doanh nghiệp. Trên cơ sở lựa chọn các vấn đề ưu tiên, Nhóm nghiên cứu chúng tôi tập trung vào bốn lĩnh vực sau: thủ tục thành lập trường đại học, thủ tục thành lập trường cao đẳng, thủ tục thành lập trường trung cấp và thủ tục thành lập cơ sở liên kết giữa bên nước ngoài với bên Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Việc nghiên cứu thủ tục hành chính chỉ tập trung vào các cơ sở giáo dục tư nhân do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý – những cơ sở giáo dục công lập và cơ sở giáo dục nghề nghiệp không thuộc phạm vi nghiên cứu của chúng tôi. Các tiêu chí nghiên cứu dựa trên tính hợp pháp, tính hợp lý và sự cần thiết của các thủ tục kể trên. Việc nghiên cứu dựa trên cơ sở khảo sát và phân tích văn bản (desk research), đồng thời kết hợp với việc nghiên cứu thực tế (field research) và khảo sát kinh nghiệm của các đối tượng đã và đang tiến hành thủ tục TLT, và tổ chức các Thảo luận Nhóm nhằm bình luận, đóng góp ý kiến vào kết quả nghiên cứu. Trên cơ sở đó, chúng tôi tổng kết thực trạng, nêu các vấn đề vướng mắc cũng như các đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm đơn giản hóa, thậm chí cắt bỏ một số công đoạn trong Thủ tục TLT. Trong Báo cáo này, việc trình bày kết quả nghiên cứu sẽ được tiến hành riêng biệt theo từng loại thủ tục: thủ tục thành lập trường đại học (TLT ĐH), thủ tục thành lập trường cao đẳng (TLTCĐ), thủ tục thành lập trường trung cấp (TLTTC) và thủ tục thành lập cơ sở liên kết giữa bên nước ngoài với bên Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo (CSLK). II/ Những vướng mắc và các phương án đề xuất: A/ Thủ tục thành lập trường đại học: Thủ tục thành lập trường đại học được quy định trong Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005 ; Nghị định 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết
  4. 3    và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục; Quyết định 07/2009/QĐ-TTg ngày 15/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ Ban hành điều kiện và thủ tục thành lập, đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia tách, giải thể trường đại học; Quyết định số 2368 ngày 09/5/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo. Ngoài ra Thủ tục thành lập trường đại học còn được quy định trong Luật Đầu tư ngày 29/11/2005; Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư. Đây là loại thủ tục hành chính phức tạp nhất và hiện đang gây nhiều tranh cãi nhất trên thực tế. Chúng tôi tập trung phân tích một số vấn đề vướng mắc trong Thủ tục thành lập trường đại học, bởi những vướng mắc này có thể tìm thấy trong các Thủ tục thành lập các cơ sở giáo dục khác (cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp, cơ sở giáo dục liên kết): 1/ Về các bước/ quy trình của Thủ tục thành lập trường đại học: Vấn đề: Điều 50 Luật Giáo dục hiện hành không quy định về các bước để thành lập trường đại học mà chỉ quy định: “1. Điều kiện thành lập nhà trường bao gồm: a) Có đội ngũ cán bộ quản lý và nhà giáo đủ về số lượng và đồng bộ về cơ cấu, đạt tiêu chuẩn về phẩm chất và trình độ đào tạo, bảo đảm thực hiện mục tiêu, chương trình giáo dục; b) Có trường sở, thiết bị và tài chính bảo đảm đáp ứng yêu cầu hoạt động của nhà trường.” Điều 3 Quyết định số 07/2009/QĐ-TTg ngày 15/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ Ban hành điều kiện và thủ tục thành lập, đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia tách, giải thể các trường đại học quy định: “Dự án thành lập trường đại học được thực hiện theo hai bước: Bước 1: Bộ Giáo dục đào tạo tiếp nhận Dự án đầu tư thành lập trường, thẩm định các điều kiện và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt chủ trương đầu tư thành lập trường. Bước 2: Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Nội vụ và các cơ quan liên quan tổ chức thẩm định dự án đầu tư thành lập trường và các Điều kiện được quy định tại Quyết định này, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định thành lập trường ».
  5. 4    Ý kiến của chúng tôi: Quy định về điều kiện thành lập nhà trường như trên thiếu cụ thể và chưa tính đến việc từ khi có quyết định thành lập đến khi chính thức hoạt động giáo dục cần phải có một thời gian nhất định để nhà trường chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ cũng như chương trình giáo dục và giáo trình giảng dạy. Hai thủ tục:Thủ tục thành lập trường Đại học và Thủ tục cho phép mở ngành đào tạo và tuyển sinh (thủ tục cho phép hoạt động) phải gắn kết chặt chẽ, bởi lẽ nếu không được phép mở ngành đào tạo và tuyển sinh, việc thành lập Trường đại học sẽ trở nên vô nghĩa. Cách quy định theo luật hiện hành là không hợp lý và dễ dẫn đến những hậu quả như sau: Thứ nhất: Gánh nặng sẽ dồn lên Thủ tục thành lập trường, với những điều kiện và trình tự hết sức phức tạp và rườm rà, ví dụ như điều kiện về đất đai, cơ sở vật chất, tài chính, đội ngũ giảng viên.v.v. (những điều kiện này lại rất khó có thể đáp ứng được khi chưa có Quyết định thành lập trường – điều này chúng tôi sẽ trình bày cụ thể tại mục 3). Hậu quả là nhà đầu tư sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi xin thành lập trường đại học, thậm chí đôi khi là không thể vượt qua được những trở ngại này (xem các mục tiếp sau). Thứ hai: Ngược lại, Thủ tục cho phép hoạt động lại dễ bị coi nhẹ. Cơ chế tiền kiểm phức tạp dẫn đến tâm lý chủ quan không coi trọng hậu kiểm (kiểm tra giám sát kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất, đội ngũ sau khi nhà trường được thành lập). Cơ quan có thẩm quyền cho phép hoạt động (Bộ Giáo dục và Đào tạo) thường không chú ý rà soát lại các điều kiện thực tế như đất đai, cơ sở vật chất, giáo viên.v.v. của Nhà trường sau khi Nhà trường này đã được phép thành lập, đặc biệt là khi Quyết định thành lập đó lại được ban hành bởi cơ quan cấp trên (Thủ tướng Chính phủ), bởi lẽ các điều kiện trên đã được rà soát đến hai lần trong quá trình cho phép thành lập trường. Thế nhưng trên thực tế, việc rà soát trong giai đoạn xin phép thành lập trường chỉ là tương đối bởi vào thời điểm này chưa thể thỏa mãn các điều kiện đó trên thực tế, như chưa thể có trường sở, thiết bị.v.v. đầy đủ – (xem mục 3). Thực tiễn đã chứng minh khả năng này: một mặt quy trình thành lập trường đại học là quá khó khăn phức tạp đối với các nhà đầu tư, mặt khác vẫn tồn tại nhiều nhà trường sau khi có quyết định thành lập vẫn phải hoạt động cầm chừng vì không đủ điều kiện về cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên, thậm chí có trường không thể đi vào hoạt động sau khi có quyết định thành lập đã nhiều năm. Thay vì việc tạo lập nhiều khó khăn trong thủ tục thành lập trường, cơ quan quản lý cần chú trọng kiểm tra quy trình, chất lượng đào tạo trên thực tế và có chế tài xử lý nghiêm khắc
  6. 5    những trường hợp vi phạm. Có như vậy mới đề cao tính chịu trách nhiệm của các trường đại học (để tránh bị thu hồi Quyết định thành lập hay bị giải thể) và từ đó giảm bớt việc đào tạo một cách hình thức, kém chất lượng. Đề xuất: Cần sửa đổi Điều 50 Luật Giáo dục, Điều 3 Nghị định 07/2009/NĐ-CP theo hướng quy định rõ việc thành lập trường đại học bao gồm hai bước cụ thể: Bước 1: Cấp phép thành lập trường Bước 2: Cấp phép mở ngành đào tạo và tuyển sinh Đối với một số trường hợp nhất định (khi Dự án đầu tư chưa nằm trong Quy hoạch – xem mục 2), thủ tục Thành lập trường Đại học sẽ được quy định thành ba bước: Bước 1: Xin chủ trương thành lập trường Bước 2: Quyết định thành lập Bước 3: Cho phép mở ngành đào tạo và tuyển sinh 2/ Về sự cần thiết của giai đoạn xin Chủ trương thành lập trường đại học: Vấn đề: Theo Khoản 1 Điều 3 Quyết định số 07: “Dự án thành lập trường đại học được thực hiện theo hai bước: Bước 1: Bộ Giáo dục đào tạo tiếp nhận Dự án đầu tư thành lập trường, thẩm định các điều kiện và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt chủ trương đầu tư thành lập trường. Bước 2: Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Nội vụ và các cơ quan liên quan tổ chức thẩm định dự án đầu tư thành lập trường và các Điều kiện được quy định tại Quyết định này, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định thành lập trường”. Ý kiến của chúng tôi: Với cách quy định như trên, có thể hiểu là thủ tục Phê duyệt chủ trương đầu tư là bắt buộc đối với tất cả mọi trường hợp xin lập trường đại học. Nhưng theo pháp luật đầu tư
  7. 6    (khoản 4 Điều 37 Nghị định 108: “trường hợp các Dự án đầu tư nằm trong quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư thực hiện thủ tục Cấp giấy chứng nhận đầu tư mà không phải trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư”. Điều này có thể áp dụng tương tự cho thủ tục xin lập trường đại học: những dự án đã nằm trong quy hoạch mạng lưới các trường đại học thì không cần phải xin Phê duyệt chủ trương đầu tư. Trong trường hợp này, nếu duy trì thủ tục phê duyệt chủ trương đầu tư thì Thủ tướng Chính phủ - người đã quyết định việc quy hoạch mạng lưới trường đại học, lại phải phê duyệt Chủ trương đầu tư cho 1 dự án lập trường đại học đã nằm trong quy hoạch đó. Điều này làm tăng thêm chi phí, mất thời gian cho nhà đầu tư và cả cơ quan quản lý nhà nước một cách không cần thiết. Đề xuất: Nên bỏ thủ tục xin Chủ trương đầu tư đối với những Dự án đã nằm trong quy hoạch mạng lưới các trường đại học. Đồng thời cần tạo điều kiện để nhà đầu tư có thể dễ dàng tiếp cận được thông tin về Quy hoạch mạng lưới các trường đại học, Bộ GD&ĐT cần phải công bố thông tin quy hoạch hoặc phân bố mạng lưới trường ĐH cụ thể ở từng khu vực địa phương bằng văn bản pháp lý, phù hợp với quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại QĐ 121/2007/QĐ-TTg ngày 27/7/2007. Vì hiện nay, chưa có VBPL nào công bố thông tin quy hoạch hoặc phân bố mạng lưới trường ĐH cụ thể ở từng khu vực địa phương, nên làm cho Tổ chức, cá nhân muốn đầu tư thành lập trường ĐH rất khó tiếp cận thông tin. 3/ Về Hồ sơ xin Thành lập trường Đại học: a/ Các hồ sơ đề nghị xin Chủ trương đầu tư: Vấn đề: Điều 3 Khoản 2 Quyết định 07/2009/QĐ-TTg ngày 15/01/2009, quy định hồ sơ xin phê duyệt chủ trương đầu tư thành lập trường cần có: “ d) Văn bản pháp lý xác nhận quyền sử dụng đất hoặc văn bản của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về chủ trương giao đất để xây dựng trường, trong đó cần làm rõ về địa điểm, ranh giới của khu đất; đ) Bản dự thảo quy hoạch tổng thể mặt bằng và thiết kế sơ bộ các công trình kiến trúc xây dựng trên khu đất xây dựng trường, bảo đảm phù hợp với quy mô đào tạo và tiêu chuẩn diện tích
  8. 7    sử dụng phục vụ việc học tập, giảng dạy; e) Văn bản xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về khả năng tài chính và điều kiện cơ sở vật chất - kỹ thuật của người đầu tư thành lập trường (đối với trường tư thục)” Ý kiến của chúng tôi: Trong giai đoạn phê duyệt chủ trương, chưa thể đòi hỏi có các văn bản như: văn bản pháp lý xác nhận quyền sử dụng đất hoặc văn bản của UBND cấp tỉnh về chủ trương giao đất để xây dựng trường. Tại thời điểm này, tổ chức và cá nhân muốn thành lập trường chưa có bất cứ văn bản nào cho phép thành lập trường thì không thể có tư cách để được Cơ quan có thẩm quyền liên quan giao đất để xây dựng trường, ngoại trừ cá nhân, tổ chức đó đã có quỹ đất sẵn có. Mặt khác, nếu không có quỹ đất thì những quy định kèm theo là bản dự thảo quy hoạch tổng thể mặt bằng và thiết kế ….. cũng không có cơ sở để thực hiện. Đặc biệt theo chúng tôi, yêu cầu phải có “văn bản của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về chủ trương giao đất” là không rõ ràng và khó khả thi. Trên thực tế hiện nay pháp luật đất đai chưa có quy định nào về việc “xin chủ trương giao đất” mà chỉ có quy định về thủ tục “xin giao đất”. Do vậy có những địa phương sẽ từ chối việc cấp “văn bản chấp thuận về chủ trương giao đất” với lý do chưa có căn cứ pháp lý, mà sẽ yêu cầu nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục “xin giao đất” một cách đầy đủ. Tuy nhiên để thực hiện được thủ tục “xin giao đất”, nhà đầu tư phải chuẩn bị rất nhiều giấy tờ, trải qua rất nhiều thủ tục. Điều này làm cho thủ tục lập trường đại học trở nên kém khả thi: nhà đầu tư chưa chắc chắn mình có được chấp thuận lập trường hay không mà đã phải trải qua nhiều thủ tục để xin đất, phải tiêu tốn một khoản tiền lớn để có đất thì sẽ là không hợp lý. Đề xuất: - Thứ nhất: Những hồ sơ này nên chuyển qua bước 2 – trong hồ sơ đề nghị Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập trường. Vì đây mới chỉ là bước xin Chủ trương thành lập trường, nên chưa cần thiết phải có các điều kiện trên. Nếu thực hiện vấn đề này, tốn rất nhiều thời gian và công sức ít nhất là 2 năm hoặc lâu hơn mới xong, vì liên quan đến trình tự và thủ tục xin giao đất do pháp luật đất đai qui định.
  9. 8    -Thứ hai: Việc quy định về “văn bản xác nhận khả năng tài chính” như trên sẽ gây khó khăn cho nhà đầu tư vì không quy định rõ cơ quan nào xác nhận khả năng tài chính? Hơn nữa không có biểu mẫu cụ thể cho văn bản này. Do vậy đề nghị sửa lại là có Văn bản chứng minh khả năng tài chính và cam kết góp vốn của các nhà đầu tư. b/ Các hồ sơ đề nghị xin Quyết định thành lập trường: Vấn đề: Điều 3 Khoản 5 Quyết định 07 quy định về các hồ sơ đề nghị Thủ tướng Chính Phủ ra quyết định thành lập trường bao gồm một số văn bản như: “c. Văn bản báo cáo chi tiết về tình hình triển khai Dự án đầu tư thành lập trường ....cùng ý kiến của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi trường đặt trụ sở chính, trong báo cáo cần làm rõ những công việc cụ thể đã hoàn thành hoặc đang thực hiện về đất xây dựng trường, số lượng và các điều kiện đã chuẩn bị về phòng học, phòng làm việc, phòng thí nghiệm, thư viện; trang thiết bị; khu thực hành, ký túc xá, khu thể thao và những công trình khác đã được xây dựng trên khu đất; các cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ đào tạo; đội ngũ cán bộ, giảng viên, công tác tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên; tài chính chuẩn bị cho các hoạt động của trường, phù hợp với nội dung, kế hoạch triển khai thực hiện của Dự án ». Ý kiến của chúng tôi: Trong giai đoạn đề nghị Thủ tướng ra quyết định thành lập trường, cũng chưa thể yêu cầu có các điều kiện thực tế (đã hoàn thành hoặc đang thực hiện) về đất xây dựng trường, danh mục số lượng các phòng học, phòng làm việc và cơ sở vật chất phục vụ học tập giảng dạy, đội ngũ cán bộ giảng viên. Bởi lẽ muốn có những điều kiện đó, phải cần có Quyết định thành lập trường, bởi khi đó Nhà trường mới có tư cách pháp lý để ký kết các văn bản nói trên (ví dụ: hợp đồng với giáo viên, cán bộ quản lý; xin phép xây dựng; xin vay vốn). Đề xuất: Nên quy định các điều kiện trên chỉ tồn tại dưới dạng các cam kết, danh mục dự kiến trong hồ sơ đề nghị Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập trường. Các điều kiện trên chỉ có thể trở thành thực tế và phải bắt buộc là hiện thực cho Bước 3 - khi Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định cho phép tuyển sinh, mở mã ngành. Nói cách khác, chỉ khi có đủ các điều kiện thực tế đó, trường mới được phép đi vào hoạt động tuyển sinh.
  10. 9    Tóm lại, theo ý kiến của chúng tôi, các hồ sơ cho Thủ tục hành chính thành lập trường đại học nên được quy định tương ứng với từng giai đoạn thực hiện như sau: - Bước 1:Xin chủ trương thành lập trường: Hồ sơ đề nghị: - Tờ trình đề nghị thành lập trường đại học của cơ quan chủ quản (đối với trường đại học công lập); của tổ chức hoặc cá nhân (đối với trường đại học tư thục), trong đó cần nêu rõ: tên trường bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài. Tên trường không trái với thuần phong mỹ tục; - Văn bản của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận về việc thành lập trường tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cần phải nêu rõ về sự cần thiết, tính phù hợp của việc thành lập trường so với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; - Dự án đầu tư thành lập trường đại học đáp ứng yêu cầu chất lượng nội dung, hình thức. Nội dung Dự án cần làm rõ về sự cần thiết thành lập trường; tính phù hợp với Quy hoạch mạng lưới các trường đại học và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện; ngành nghề, quy mô đào tạo, tuyển sinh trong từng giai đoạn; dự kiến cơ cấu bộ máy tổ chức, quản lý, điều hành; số lượng, trình độ giảng viên, cán bộ quản lý; đất đai, vốn điều lệ, dự thảo Quy chế tổ chức và hoạt động; quy hoạch và kế hoạch xây dựng, phát triển trường trong từng giai đoạn. Trong dự án cần nêu rõ dự kiến tổng số vốn để thực hiện các kế hoạch và bảo đảm hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học trong 3 năm đầu thành lập và các năm tiếp theo; có thuyết minh rõ về tính khả thi và hợp pháp của các nguồn vốn đầu tư xây dựng và phát triển nhà trường trong từng giai đoạn; - Văn bản cam kết hoặc chứng minh về khả năng tài chính và điều kiện cơ sở vật chất - kỹ thuật của người đầu tư thành lập trường (đối với trường tư thục) hoặc thuyết minh khả năng tài chính đầu tư xây dựng trường của cơ quan tài chính có thẩm quyền (đối với trường công lập). - Đối với việc thành lập các trường đại học tư thục, hồ sơ phải có các văn bản sau đây được lập theo mẫu thống nhất do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định: + Danh sách các thành viên sáng lập;
  11. 10    + Biên bản cử đại diện đứng tên thành lập trường của các thành viên góp vốn; + Bản cam kết góp vốn xây dựng trường của cá nhân, tổ chức và ý kiến đồng ý của người đại diện đứng tên thành lập trường; + Danh sách các cổ đông cam kết góp vốn điều lệ; - Bước 2: Quyết định thành lập: Hồ sơ đề nghị: Áp dụng theo quy định hiện hành và thêm các bước chuyển từ bước 1 qua như sau: - Văn bản pháp lý xác nhận quyền sử dụng đất hoặc văn bản của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về chủ trương giao đất để xây dựng trường, trong đó cần làm rõ về địa điểm, ranh giới của khu đất; - Bản dự thảo quy hoạch tổng thể mặt bằng và thiết kế sơ bộ các công trình kiến trúc xây dựng trên khu đất xây dựng trường, bảo đảm phù hợp với quy mô đào tạo và tiêu chuẩn diện tích sử dụng phục vụ việc học tập, giảng dạy. - Bước 3: Cho phép mở ngành đào tạo và tuyển sinh Sau khi Quyết định thành lập trường của Thủ tướng Chính phủ được ban hành, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ cho phép cá nhân, tổ chức tiến hành mở ngành đào tạo và tuyển sinh sau khi đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Quyết định 07 4 .                                                              4 Điều 5 Quyết định 07 quy định: Việc quyết định mở các ngành đào tạo và thời điểm tuyển sinh thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và được thực hiện sau khi Quyết định thành lập trường của Thủ tướng Chính phủ được ban hành. Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cụ thể về điều kiện, quy trình mở ngành đào tạo và xin phép tuyển sinh khi bảo đảm các điều kiện cơ bản sau đây: 1. Có đủ số lượng giảng viên cơ hữu đảm nhận được tối thiểu 60% khối lượng chương trình của mỗi ngành đào tạo, trong đó số giảng viên cơ hữu có trình độ thạc sĩ đạt có ít nhất 30% và có trình độ tiến sĩ đạt ít nhất 12%. Cơ cấu trình độ chuyên môn của giảng viên và cán bộ nghiên cứu đáp ứng yêu cầu của hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học. Có đủ số lượng cán bộ, kỹ thuật viên, nhân viên thí nghiệm, thực hành, bảo đảm chất lượng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định, đáp ứng yêu cầu của các ngành đào tạo. 2. Diện tích nhà đã xây dựng đưa vào sử dụng đạt bình quân tối thiểu là 9 m2/sinh viên, trong đó diện tích dùng cho việc học tập đạt tối thiểu là 6 m2/sinh viên, diện tích nhà ở và sinh hoạt của sinh viên đạt tối thiểu là 3 m2/sinh viên; có đủ phòng làm việc cho giảng viên, cán bộ của trường với diện tích tối thiểu là 8 m2/người. 3. Có đủ số giảng đường, phòng học, phòng chức năng phù hợp, đáp ứng yêu cầu đào tạo của ngành, nghề; đủ phòng làm việc, bộ máy hành chính theo cơ cấu tổ chức của trường để phục vụ cho công tác quản lý, đào tạo;
  12. 11    c/ Về số lượng và mẫu Hồ sơ của Thủ tục Thành lập trường đại học: Vấn đề và ý kiến của chúng tôi: Trong cả các giai đoạn của thủ tục Thành lập trường đại học đều không có quy định số lượng hồ sơ cần thiết. Điều này không rõ ràng, đặc biệt nếu so sánh với thủ tục Cấp giấy chứng nhận đầu tư theo pháp luật đầu tư – trong đó số lượng hồ sơ luôn được xác định rõ. Về các biểu mẫu hồ sơ nói chung: trên thực tế Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có quy định về mẫu hồ sơ trong Quyết định 2368 của Bộ Giáo dục – Đào tạo, nhưng sau Quyết định 07 của Thủ tướng Chính phủ thì những quy định trong Quyết định 2368 có liên quan đến vấn đề thành lập trường đại học – do ban hành trước Quyết định 07 – đã không còn hiệu lực. Hậu quả là hiện giờ chưa có biểu mẫu hợp pháp cho thủ tục này. Về một số hồ sơ nói riêng: Trong các văn bản pháp luật hiện hành, kể cả Quyết định 2386 nói trên, chưa có mẫu hồ sơ cụ thể cho một số văn bản quan trọng như: văn bản của Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh chấp thuận về việc thành lập trường tại địa phương; văn bản của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận về chủ trương giao đất thành lập trường. Điều này gây khó cho nhà đầu tư bởi lẽ thứ nhất: do chưa có mẫu nên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ “dè dặt” hơn trong việc cấp các văn bản này; thứ hai: trong trường hợp đã xin được các văn bản đó, Bộ Giáo dục luôn có khả năng trả lại hồ sơ yêu cầu nhà đầu tư bổ sung thông tin nếu Bộ cho là chưa đầy đủ, và như vậy buộc nhà đầu tư phải bắt đầu lại quy trình xin thủ tục. Đề xuất: Theo chúng tôi, phải quy định về mẫu hồ sơ, về số lượng hồ sơ cần thiết trong từng bước của Thủ tục lập trường đại học. Các mẫu hồ sơ nên được quy định kèm theo ngay trong Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Thủ tục thành lập trường đại học. 4/ Về tên trường: Vấn đề:                                                                                                                                                                                            4. Có giáo trình, tài liệu, thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập theo yêu cầu của ngành đào tạo; có thư viện, cơ sở thí nghiệm, thực tập, thực hành và các cơ sở vật chất khác đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo và hoạt động khoa học - công nghệ. 5. Có các công trình xây dựng phục vụ cho các hoạt động giải trí, thể thao, văn hóa; cơ sở y tế, dịch vụ nhằm phục vụ sinh hoạt cho cán bộ, giảng viên và sinh viên.
  13. 12    Điều 3 khoản 2 mục a Quyết định số 07 quy định trong Tờ trình thành lập trường đại học cần nêu rõ “Tên trường bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Tên trường phải gắn với địa danh nơi đặt trụ sở chính của trường hoặc gắn với lĩnh vực đào tạo hoặc danh nhân văn hóa lịch sử”. Ý kiến của chúng tôi: Quy định như trên rõ ràng đã hạn chế quyền tự do ý chí của nhà đầu tư trong việc đặt tên trường: tên trường không nhất thiết chỉ bằng tiếng Anh, mà có thể là tiếng nước ngoài; cũng như vậy không nhất thiết tên trường phải gắn với địa danh nơi đặt trụ sở hay danh nhân văn hóa lịch sử. Đặc biệt chúng tôi cho rằng những từ ngữ chỉ ngành nghề, lĩnh vực hoạt động là từ chung, không nên gộp vào tên riêng, bởi lẽ nếu quy định gộp vào tên riêng sẽ dễ tạo điều kiện cho việc lách luật, thêm bớt vài cụm từ để “ăn theo” tên trường khác. Đề xuất: Theo chúng tôi, chỉ cần quy định đơn giản là: tên trường bằng tiếng Việt hay tiếng nước ngoài, không được trùng lắp với trường khác và không trái với thuần phong mỹ tục. 5/ Về thời gian giải quyết Thủ tục thành lập trường đại học: a/ Về thời gian thực hiện các giai đoạn của Thủ tục thành lập trường đại học nói chung Vấn đề: Quyết định 07 chỉ quy định về thời gian thẩm định hồ sơ đề nghị Chủ trương thành lập trường (30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, theo khoản 3 Điều 3 Quyết định 07) và thời gian thẩm định hồ sơ đề nghị Quyết định thành lập trường (20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ – khoản 6 Điều 3 Quyết định 07). Ngoài hai giai đoạn đó, các giai đoạn khác của Thủ tục Thành lập trường không có quy định về thời gian giải quyết. Ý kiến của chúng tôi: Vẫn còn rất nhiều giai đoạn không có quy định thời gian giải quyết, ví dụ: từ khi Bộ Giáo dục trình Đề án tiền khả thi lên Thủ tướng Chính phủ cho đến khi Thủ tướng phê duyệt Chủ trương Thành lập trường; từ khi Bộ Giáo dục trình Đề án khả thi lên Thủ tướng cho đến khi Thủ tướng ban hành Quyết định thành lập trường.v.v., khoảng thời gian này là bao lâu?
  14. 13    Trên thực tế, theo một số nhà đầu tư đã thực hiện thủ tục này thì thời gian thông thường là từ 1 đến 2 năm để xin được Quyết định thành lập trường. Đề xuất: Ngoài các quy định hiện hành về thời hạn thẩm định Đề án tiền khả thi (bước 1) và Đề án khả thi (Bước 2), phải có quy định cụ thể về tất cả các thời hạn: trong vòng bao nhiêu ngày từ khi nhận hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải giải quyết thủ tục, chứ không thể kéo dài vô thời hạn. b/ Về thời hạn thu hồi Chủ trương thành lập và thời hạn giải thể trường: Vấn đề: Khoản 2 Điều 4 Quyết định 07 quy định: “Sau 2 năm kể từ khi Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định thành lập trường, nếu trường không chuẩn bị đủ các điều kiện để Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép mở ngành đào tạo và tuyển sinh thì Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ thu hồi Quyết định thành lập trường”. Ý kiến của chúng tôi: Qua nghiên cứu thực tế, chúng tôi thấy rằng kể từ khi có Quyết định thành lập trường của Thủ tướng Chính phủ, khoảng thời gian 2 năm sẽ là quá ngắn để nhà trường chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để tuyển sinh trên thực tế như: ký kết hợp đồng giảng dạy với các giảng viên, xây dựng đủ phòng học, ký túc xá, thư viện, giáo trình, các công trình phục vụ hoạt động văn hóa thể thao, giải trí, dịch vụ. Đặc biệt việc xây dựng cơ sở vật chất thường chiếm rất nhiều thời gian. Đề xuất: Chúng tôi đề nghị nên quy định kéo dài khoảng thời gian này từ 3 đến 5 năm để chủ đầu tư có thể kịp chuẩn bị các điều kiện thực tế để tuyển sinh, đặc biệt là xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường. 6/ Về Ban quản lý dự án Thành lập trường Đại học: Vấn đề:
  15. 14    Đoạn 2 khoản 4 điều 3 của Quyết định 07 quy định: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với Bộ GD&ĐT quyết định thành lập Ban Quản lý dự án để triển khai thực hiện các dự án đầu tư thành lập trường đại học tư thục đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư và đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư; chuẩn bị các điều kiện cần thiết và hồ sơ trình đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, ra quyết định thành lập trường”. Ý kiến của chúng tôi: Theo Quy chế Tổ chức & hoạt động của trường đại học tư thục (được ban hành kèm theo Quyết định số 61/2009/QĐ-TTg ngày 17/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ) là “Việc thành lập trường đại học tư thục phải có ít nhất từ 3 thành viên (tổ chức hoặc cá nhân) tham gia góp vốn điều lệ”. Do đó, những tổ chức hoặc cá nhân tham gia góp vốn chắc chắn sẽ thành lập Hội đồng sáng lập, trong Hội đồng sáng lập sẽ bầu ra Chủ tịch Hội đồng sáng lập và các thành viên sáng lập. Hội đồng sáng lập sẽ đại diện các tổ chức hoặc cá nhân góp vốn để thực hiện tất cả các công việc và thủ tục có liên quan trong giai đoạn đầu thành lập trường. Như vậy, việc qui định nêu trên là không phù hợp. Hơn nữa qui định lại không nêu rõ thành phần trong Ban Quản lý dự án bao gồm những ai?; vị trị pháp lý, chức năng quyền hạn; thời gian hoạt động và giải thể của Ban quản lý dự án. Mặc khác, lại không quy định cụ thể cơ quan nào trực thuộc UBND cấp tỉnh đứng ra chủ trì? (Sở GD&ĐT hay Văn phòng UB tỉnh ...???) Đề xuất: Chúng tôi đề nghị không thành lập Ban quản lý dự án. Việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư thành lập trường đại học tư thục đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư và đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư; chuẩn bị các điều kiện cần thiết và hồ sơ trình đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, ra quyết định thành lập trường giao cho Hội đồng sáng lập trường thực hiện. B/ VỀ THỦ TỤC THÀNH LẬP TRƯỜNG CAO ĐẲNG: Thủ tục thành lập trường cao đẳng được quy định trong Luật Giáo dục; Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục; Thông tư số 14/2009/TT-BGD ĐT ngày 28/5/ 2009 của
  16. 15    Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành Điều lệ trường cao đẳng; Quyết định 2368 ngày 09/5/2007 của Bộ Giáo dục Đào tạo. Nhìn chung, Thủ tục thành lập trường cao đẳng có nhiều nét giống với Thủ tục thành lập trường đại học, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến Thủ tục cho phép hoạt động (mở mã ngành đào tạo và tuyển sinh); thu hồi Quyết định thành lập trường; đặt tên trường. Bởi vậy chúng tôi sẽ không đi sâu vào phân tích những vấn đề nói trên. Chúng tôi chỉ tập trung trình bày một số vấn đề rất nổi bật hoặc đặc thù cho Thủ tục Thành lập trường cao đẳng như sau: 1/ Về điều kiện “phù hợp với quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng”: Vấn đề: Điều 10 Thông tư số 14/2009 quy định: “Trường cao đẳng được thành lập khi đảm bảo các điều kiện sau: 1. Phù hợp với quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt” Điều 14 Thông tư số 14 quy định: 1. Bộ Giáo dục và Đào tạo ra quyết định giải thể các trường cao đẳng nếu trường vi phạm một trong các trường hợp sau đây: d. Do yêu cầu sắp xếp lại mạng lưới các trường đại học và cao đẳng cho phù hợp với tình hình và điều kiện thực tế”. Ý kiến của chúng tôi: Quy định về việc thành lập trường cao đẳng phải “phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục” là một điều kiện mới được bổ sung trong những văn bản dưới luật. Cụ thể là Luật Giáo dục không quy định điều kiện này, mà đến Nghị định số 75 (điểm a khoản 1 điều 20) và Thông tư số 14 (khoản 1 điều 10) mới bổ sung thêm điều kiện này. Việc quy định bổ sung điều kiện này nhằm mục đích đảm bảo tính thống nhất của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước, bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích của từng ngành nghề, vùng miền với lợi ích chung của xã hội. Tuy nhiên Quy hoạch mạng lưới không nên coi là một điều kiện để gây khó khăn cho việc thành lập trường cao đẳng. Chúng tôi cho rằng trong các văn bản về Thủ tục thành lập trường cao đẳng, điều kiện
  17. 16    “phù hợp quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục” ít nhiều gây cản trở đến việc thành lập trường. -Thứ nhất: chúng tôi hoàn toàn không nhất trí việc coi “do yêu cầu sắp xếp lại mạng lưới các trường đại học, cao đẳng” là một căn cứ để Bộ Giáo dục và Đào tạo ra quyết định giải thể trường cao đẳng, bên cạnh những căn cứ khác như: vi phạm nghiêm trọng pháp luật. Việc giải thể trường cao đẳng trong trường hợp này hoàn toàn trái với các nguyên tắc về hiệu lực hồi tố của pháp luật, vi phạm lợi ích của người học, của nhà đầu tư. Đặc biệt việc giải thể trường cao đẳng theo tiêu chí này sẽ gây mất ổn định cho môi trường đầu tư, tạo ra tâm lý bất ổn cho nhà đầu tư và từ đó không khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực giáo dục. Điều này trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi người học, hạn chế việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cho đất nước, không khuyến khích tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo. - Thứ hai: nếu coi việc “phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục” là điều kiện để thành lập trường cao đẳng, cần giảm thiểu tối đa những cản trở do điều kiện này gây ra. Cụ thể là nên bỏ thủ tục Phê duyệt chủ trương đầu tư đối với những Dự án đầu tư đã nằm trong Quy hoạch. Thay vào đó, trong quá trình xem xét quyết định thành lập trường, Bộ Giáo dục và Đào tạo có thể kiểm tra lại tính phù hợp của Dự án đầu tư so với Quy hoạch. Hơn nữa, theo pháp luật đầu tư (khoản 4 Điều 37 Nghị định 108): “trường hợp các Dự án đầu tư nằm trong quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư thực hiện thủ tục Cấp giấy chứng nhận đầu tư mà không phải trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư”. Điều này có thể áp dụng tương tự cho thủ tục xin lập trường cao đẳng, nhằm giảm chi phí về tiền bạc, thời gian cho nhà đầu tư và cả cơ quan quản lý nhà nước. Đề xuất: Chúng tôi đề nghị phải bỏ quy định về giải thể trường cao đẳng dựa trên căn cứ “do yêu cầu sắp xếp lại mạng lưới các trường đại học và cao đẳng” (điểm d khoản 1 điều 14 Thông tư số 14). Chúng tôi cũng kiến nghị nên bỏ thủ tục xin Chủ trương đầu tư đối với những Dự án đã nằm trong quy hoạch mạng lưới các trường đại học (sửa đổi khoản 1 điều 11 Thông tư số 14). Đồng thời cũng như trường hợp thành lập trường đại học, để tạo điều kiện để nhà đầu tư có thể dễ dàng tiếp cận được thông tin về Quy hoạch mạng lưới các trường đại học, Bộ GD&ĐT cần phải công bố thông tin quy hoạch hoặc phân bố mạng lưới trường ĐH
  18. 17    cụ thể ở từng khu vực địa phương bằng văn bản pháp lý, phù hợp với quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại QĐ 121/2007/QĐ-TTg ngày 27/7/2007. Vì hiện nay, chưa có VBPL nào công bố thông tin quy hoạch hoặc phân bố mạng lưới trường ĐH cụ thể ở từng khu vực địa phương, nên làm cho Tổ chức, cá nhân muốn đầu tư thành lập trường ĐH rất khó tiếp cận thông tin. 2/ Về điều kiện liên quan đến đất đai và quy hoạch thiết kế xây dựng trong hồ sơ xin phê duyệt chủ trương thành lập trường cao đẳng: Vấn đề: Điểm d và đ khoản 2 điều 11 Thông tư số 14 quy định: hồ sơ đề nghị phê duyệt chủ trương thành lập trường gồm có: “d. Văn bản pháp lý xác nhận quyền sử dụng đất hoặc văn bản thỏa thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về chủ trương giao đất để xây dựng trường, trong đó cần làm rõ về địa điểm, ranh giới của khu đất xây dựng trường; đ. Bản dự thảo quy hoạch tổng thể mặt bằng và thiết kế sơ bộ các công trình kiến trúc xây dựng, bảo đảm phù hợp với quy mô đào tạo và tiêu chuẩn diện tích sử dụng cho học tập và giảng dạy”. Ý kiến của chúng tôi: Tương tự như trong phần Thủ tục thành lập trường đại học, chúng tôi cho rằng điều kiện về đất đai, xây dựng như trên là rất khó khả thi đối với một Dự án thành lập trường cao đẳng đang trong giai đoạn xin Chủ trương thành lập trường. Thứ nhất, tại thời điểm này, cá nhân, tổ chức mới chỉ có duy nhất Dự án đầu tư mà chưa có bất kỳ một quyết định nào liên quan đến việc cho phép thành lập trường thì việc đề nghị cơ quan có thẩm quyền chấp thuận chủ trương giao đất để xây dựng trường là việc không có cơ sở, thậm chí là không thể. Thứ hai, nếu trong trường hợp nhà đầu tư – dựa trên tư cách doanh nghiệp có trước – thực hiện thủ tục xin giao đất, theo quy định của Luật đất đai, họ sẽ phải chuẩn bị rất nhiều giấy tờ, trải qua rất nhiều thủ tục. Điều này làm cho thủ tục lập trường cao đẳng trở nên kém khả thi: nhà đầu tư chưa chắc chắn mình có được chấp thuận lập trường hay không mà đã phải trải qua nhiều thủ tục để xin đất, phải tiêu tốn một khoản tiền lớn để có đất! Đề xuất:
  19. 18    Từ những lý do trên, chúng tôi cho rằng để tạo điều kiện thuận lợi cho thủ tục thành lập trường cao đẳng, nên chuyển những yêu cầu liên quan đến đất đai và xây dựng sang bước thứ hai của thủ tục: bước xin Quyết định thành lập trường. Bởi lẽ trên cơ sở đã có Chủ truơng thành lập trường cao đẳng, nhà đầu tư mới có căn cứ pháp lý để thực hiện các yêu cầu liên quan đến xin giao đất và xin cấp phép xây dựng trường. Cụ thể là điểm d) và đ) khoản 2 Điều 11 nên chuyển sang khoản 5 Điều 11 Thông tư 14/2009. 3/ Về Ban quản lý dự án Thành lập trường cao đẳng: Vấn đề: Điểm i, mục 5 điều 11 Thông tư số 14 quy định: Một trong các điều kiện để xin Quyết định thành lập trường cao đẳng: “...Vốn góp phải được nộp vào tài khoản của Ban Quản lý xây dựng trường....Việc góp vốn chỉ được công nhận khi quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn đóng góp đã được chuyển cho Ban Quản lý dự án xây dựng trường. Đất đai nhà ở được sử dụng để góp vốn phải có giấy chứng nhận hợp pháp, phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở cho nhà trường và phải hoàn thành trước khi Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép mở ngành tuyển sinh đào tạo” Ý kiến của chúng tôi: Trong các văn bản về thủ tục thành lập trường cao đẳng, không có quy định rõ về việc thành lập, vị trí pháp lý của Ban Quản lý dự án. Thiếu sót này làm cho quy định về việc góp vốn cho Ban Quản lý Dự án khó thực hiện, từ đó làm cho quy định về điều kiện thành lập trường trở nên khó khả thi. Đề xuất: Cần phải có quy định về vị trí pháp lý, chức năng quyền hạn của Ban Quản lý dự án, thời gian hoạt động và chấm dứt của Ban Quản lý dự án, có như vậy mới có cơ sở để chuyển giao quyền sở hữu tài sản thành lập trường. 4/ Về việc bổ nhiệm Phó Hiệu trưởng Trường cao đẳng: Vấn đề:
  20. 19    Điểm b, khoản 2 điều 38 Thông tư 14 quy định: “Chủ tịch Hội đồng quản trị...phê duyệt quyết định bổ nhiệm các Phó Hiệu trưởng của trường trên cơ sở đề nghị của Hội đồng quản trị và ý kiến thông qua của Đại hội đồng cổ đông” Ý kiến và đề xuất của chúng tôi: Quy định nói trên hạn chế quyền chủ động của Hội đồng quản trị trường các đẳng, tăng thêm thủ tục phức tạp trong bổ nhiệm chức vụ Phó Hiệu trưởng: phải triệu tập Đại hội đồng cổ đông, điều này không phải lúc nào cũng dễ thực hiện. Mặt khác quy định này mâu thuẫn với điểm e khoản 2 điều 80 của Luật Doanh nghiệp, “Hội đồng quản trị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc và cán bộ quản lý quan trọng khác của công ty”mà không quy định phải có ý kiến của Đại hội đồng cổ đông. Chúng tôi đề nghị nên sửa lại điểm b, khoản 2 điều 38 của Thông tư số 14 theo hướng phù hợp với Luật Doanh nghiệp: “Chủ tịch Hội đồng quản trị phê duyệt quyết định bổ nhiệm các Phó Hiệu trưởng của trường trên cơ sở đề nghị của Hội đồng quản trị”. 5/ Về quyền của cổ đông phổ thông: Vấn đề: Khoản 1 điều 35 Thông tư số 14 quy định: “Đại hội đồng cổ đông bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết và cổ đông phổ thông. Cổ đông phổ thông không có quyền biểu quyết nhưng có quyền tham gia ý kiến trong các cuộc họp”. Ý kiến của chúng tôi: Quy định này trái với Luật doanh nghiệp: Theo khoản 1 điều 53 Luật doanh nghiệp: “Cổ đông phổ thông có quyền: a. Tham dự và biểu quyết tất cả các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông; mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết”. Trường cao đẳng tư trước hết là một doanh nghiệp và hoạt động theo quy chế doanh nghiệp. Vì vậy nếu quy định hạn chế quyền biểu quyết của cổ đông phổ thông sẽ gây khó khăn cho điều hành hoạt động của trường, đồng thời không khuyến khích các cá nhân tham gia vào việc đầu tư thành lập trường cao đẳng.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản