CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Chia sẻ: chanhthu

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp có rất nhiều vấn đề nẩy sinh đòi hỏi các nhà quản trị phải đưa ra các quyết định tài chính đúng đắn và tổ chức thực hiện các quyết định đó một cách kịp thời và khoa học, chỉ như thế doanh nghiệp mới có thể đứng vững và phát triển. Có thể tóm gọn những vấn đề nẩy sinh trong hoạt động động sản xuất kinh doanh và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp phải...

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ
QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. KHÁI QUÁT VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp
có rất nhiều vấn đề nẩy sinh đòi hỏi các nhà quản trị phải đưa ra các quyết định
tài chính đúng đắn và tổ chức thực hiện các quyết định đó một cách kịp thời và
khoa học, chỉ như thế doanh nghiệp mới có thể đứng vững và phát triển. Có thể
tóm gọn những vấn đề nẩy sinh trong hoạt động động sản xuất kinh doanh và
hoạt động đầu tư của doanh nghiệp đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp phải
đưa ra các quyết định tài chính quan trọng đó là:
1. Trong rất nhiều cơ hội đầu tư thì doanh nghiệp sẽ phải đưa ra quyết
định lựa chọn cơ hội đầu tư nào?
2. Doanh nghiệp nên dùng những nguồn tài trợ nào để tài trợ cho nhu cầu
vốn đầu tư đã được hoạch định đó?
3. Doanh nghiệp nên thực hiện chính sách phân phối lợi nhuận như nào?
Câu hỏi thứ nhất liên quan đến việc chi tiêu tiền, câu hỏi thứ hai liên quan
đến huy động vốn và câu hỏi thứ ba liên quan đến sự kết hợp giữa hai quyết định
một và hai.
Để có cơ sở trả lời tất cả các câu hỏi quan trọng đặt ra trong các các quyết
định tài chính của nhà quản trị doanh nghiệp các nhà khoa học kinh tế đã nghiên
cứu và cho ra đời một môn khoa học mới đó là Quản trị Tài chính Doanh
nghiệp. Quản trị Tài chính Doanh nghiệp là môn khoa học quản trị nghiên cứu
các mối quan hệ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh
doanh và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp trên cơ sở đó lựa chọn và đưa ra
các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện những quyết định đó một cách hợp lý
và khoa học nhằm đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, không ngừng làm
tăng giá trị và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

1.2. MỤC TIÊU, NỘI DUNG QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Mục tiêu quan trọng nhất để thành công trong việc quản trị tài chính của
một doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận sau thuế; tối đa hóa lợi nhuận phân
phối cho chủ sở hữu; tối đa hóa giá trị doanh nghiệp trên thị trường. Đây có thể
chỉ là một câu nói đơn giản và bản thân nó không giúp chúng ta được gì nhiều,
giống như những lời khuyên chung chung từ những nhà đầu tư trên thị trường
chứng khoán như “bạn phải mua gì với giá thấp và bán với giá cao”. Vấn đề là
thực hiện những điều đó như thế nào. Để đạt được các mục tiêu của quản trị tài
chính doanh nghiệp thì các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp cần phải hiểu và
nắm vững được các nội dung cơ bản của quản trị tài chính doanh nghiệp. Vậy
nội dung chủ yếu của quản trị tài chính doanh nghiệp là gì? Ý nghĩa của việc
nghiên cứu các nội dung cơ bản của quản trị tài chính đối với các nhà quản trị tài

2
chính doanh nghiệp là gì?. Để trả lời các câu hỏi trên tác giả sẽ lần lượt giới
thiệu các nội dung cơ bản của quản trị tài chính doanh nghiệp như sau:
Thứ nhất: Tham gia xây dựng, đánh giá và lựa chọn các dự án đầu tư và kế
hoạch kinh doanh.
Việc xây dựng, đánh giá và lựa chọn các dự án đầu tư do nhiều bộ phận
trong doanh nghiệp cùng phối hợp thực hiện. Trên góc độ tài chính, điều chủ
yếu cần phải xem xét là hiệu quả tài chính của dự án, tức là xem xét cân nhắc
giữa chi phí bỏ ra, những rủi ro có thể xẩy ra và khả năng thu lợi nhuận khi thực
hiện dự án. Việc phân tích đánh giá nhằm lựa chọn được các dự án tối ưu, các
dự án có tỷ lệ sinh lời cao là nhiệm vụ của nhà quản trị tài chính. Trên cơ sở
tham gia xây dựng, đánh giá, lựa chọn các dự án đầu tư, các nhà quản trị tài
chính cũng cần tìm ra định hướng phát triển doanh nghiệp hiện tại cũng như
trong tương lai.
Thứ hai: Xác định nhu cầu vốn, tổ chức huy động các nguồn vốn để đáp
ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều đòi hỏi phải có vốn. Bước vào hoạt
động kinh doanh, hoạt động đầu tư, quản trị tài chính cần phải xác định các nhu
cầu vốn cần thiết cho các hoạt động của doanh nghiệp ở trong kỳ. Vốn hoạt
động của doanh nghiệp gồm có vốn dài hạn và vốn ngắn hạn để tài trợ hình
thành các tài sản ngắn hạn và dài hạn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh
doanh và hoạt động đầu tư, điều quan trọng là nhà quản trị tài chính phải tổ chức
huy động nguồn vốn đảm bảo kịp thời, đầy đủ cho các hoạt động của doanh
nghiệp. Để đi đến việc quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động
vốn thích hợp nhà quản trị tài chính cần xem xét, cân nhắc trên nhiều mặt như
kết cấu nguồn vốn, chi phí sử dụng vốn từng thành phần vốn, những điểm lợi và
bất lợi của từng hình thức huy động vốn, trên có sở đó đưa ra quyết định huy
động một cơ cấu vốn tối ưu, có chi phí sử dụng vốn là thấp nhất.
Thứ ba: Tổ chức sử dụng tốt số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản
thu, chi, đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Quản trị tài chính doanh nghiệp phải tìm ra các biện pháp góp phần huy
động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh, giải phóng các khoản vốn
còn bị ứ đọng. Theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thu hồi tiền bán hàng và
các khoản phải thu khác. Tìm các biện pháp lập lại sự cân bằng giữa thu và chi
bằng tiền để đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có khả năng thanh toán.
Thứ 4: Thực hiện tốt việc phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ
của doanh nghiệp.
Thực hiện việc phân phối hợp lý lợi nhuận sau thuế cũng như trích lập và sử
dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển
doanh nghiệp và cải thiện đời sống của cán bộ công nhân viên của doanh
nghiệp. Lợi nhuận là mục tiêu của hoạt động sản xuất kinh doanh, là một chỉ

3
tiêu mà doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm vì nó có liên quan đến sự tồn tại,
phát triển mở rộng của doanh nghiệp. Không thể nói doanh nghiệp hoạt dộng
kinh doanh tốt, hiệu quả cao khi lợi nhuận của doanh nghiệp giảm qua các kỳ
sau khi loại trừ các nhân tố ảnh hưởng khách quan làm giảm lợi nhuận của
doanh nghiệp ví dụ như sự thay đổi chính sách khấu hao tài sản của doanh
nghiệp… Doanh nghiệp cần có phương án tối ưu trong việc phân chia lợi nhuận
của doanh nghiệp chỉ như thế mới có thể đạt được mục tiêu tối đa hóa giá trị
doanh nghiệp trên thị trường.
Thứ 5: Đảm bảo kiểm tra, kiểm soát thường xuyên đối với tình hình hoạt
động và thực hiện tốt hoạt động phân tích tài chính của doanh nghiệp.
Thông qua tình hình thu chi tiền tệ hàng ngày, tình hình thực hiện các chỉ
tiêu tài chính cho phép thường xuyên kiểm tra, kiểm soát tình hình hoạt động
của doanh nghiệp. Mặt khác định kỳ cần phải tiến hành phân tích tình hình tài
chính doanh nghiệp thông qua hệ thống chỉ số tài chính trên có sở đó cho phép
nhà quản trị đánh giá được những điểm mạnh, điểm yếu về tình hình tài chính
cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó có thể đưa ra
những quyết định đúng đắn về mặt sản xuất kinh doanh và tài chính, xây dựng
được một kế hoạch tài chính khoa học đảm bảo mọi tài sản và mọi nguồn tài
chính của doanh nghiệp được sử dụng một cách có hiệu quả nhất.
1.3. VỊ TRÍ VAI TRÒ CỦA NHÀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH
Để thực hiện quá trình hoạt động kinh doanh, một công ty cổ phần luôn có
những nhu cầu đa dạng và không giới hạn về các loại tài sản thực (real assets).
Phần lớn những tài sản thực này là tài sản hữu hình như máy móc thiết bị, nhà
xưởng và văn phòng làm việc, phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn…. Một số
tài sản khác là các tài sản vô hình như độc quyền về kỹ thuật, uy tín thương hiệu,
và bằng phát minh sáng chế, quyền sử dụng đất, phần mềm máy vi tính… tất cả
những tài sản này đều có giá trị tương ứng nó. Để tạo vốn khi cần thiết, công ty
cổ phần có thể phát hành các loại giấy tờ có giá được gọi là các tài sản tài chính
(finalcial assets) hay các chứng khoán (securities). Các giấy tờ có giá này bản
thân nó có một giá trị nhất định bởi vì nó được đảm bảo trên các tài sản thực của
công ty và dòng thu nhập tương lai mà nó mang lại. Ví dụ nếu công ty vay tiền
ngân hàng thì ngân hàng sẽ nhận được một giấy nhận nợ theo đó công ty sẽ cam
kết hứa hoàn trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thỏa thuận. Do đó, ngân hàng có thể
giao dịch và hoán chuyển thành tiền mặt từ những tài sản chính này khi cần
thiết. Các tài sản tài chính không chỉ bao gồm những khoản vay nợ ngân hàng
mà còn bao gồm các cổ phần, trái phiếu và các chứng khoán đặc biệt khác.
Các giám đốc tài chính là chiếc cầu nối giữa hoạt động của một doanh
nghiệp và thị trường tài chính (finalcal market), thị trường tài chính là nơi mà ở
đó các nhà đầu tư đang nắm giữ các tài sản tài chính được phát hành bởi công ty.
Vai trò của giám đốc tài chính được thể hiện trong sơ đồ mô phỏng 1.1 dưới đây

4
cho thấy dòng chảy của tiền mặt đi từ nhà dầu tư đến công ty và sau đó quay trở
lại nhà đầu tư như thế nào. Dòng chảy bắt đầu từ khi công ty bán chứng khoán
để huy động vốn (mũi tên 1). Và sau đó tiền được chi tiêu để mua sắm các tài
sản thực sử dụng cho hoạt động kinh doanh (mũi tên 2). Sau đó, nếu công ty
thực hiện hoạt động sử dụng hiệu quả tài sản thì các tài sản thực sẽ tạo nên dòng
tiền gia tăng để hoàn trả vốn đầu tư ban đầu (mũi tên 3). Cuối cùng tiền được tái
đầu tư trở lại (mũi tên 4a) hoặc được hoàn trả cho các nhà đầu tư, những người
đã mua các chứng khoán mà công ty phát hành lúc ban đầu (mũi tên 4b). Dĩ
nhiên, sự lựa chọn giữa 4a và 4b không hoàn toàn tự do. Ví dụ nếu ngân hàng
cho vay ở giai đoạn 1 thì sau đó ngân hàng phải được hoàn trả đầy đủ cả vốn
gốc cộng lãi vay ở giai đoạn 4b.
Sơ đồ 1.1: DÒNG CHẢY TIỀN MẶT TỪ NHÀ ĐẦU TƯ ĐẾN CÔNG TY
VÀ SAU ĐÓ QUAY TRỞ LẠI NHÀ ĐẦU TƯ

(1)
(2) Thị trường
Các hoạt động của
tài chính
một công ty GIÁM ĐỐC (4a)
(Các nhà đầu tư nắm
(tất cả các tài sản thực) TÀI CHÍNH giữ các tài sản chính)
(3) (4b

Sơ đồ mô phỏng trên đưa chúng ta quay trở lại ba câu hỏi căn bản đối với
một giám đốc tài chính (nhà quản trị tài chính):
• Thứ nhất, những tài sản thực nào sẽ được công ty đầu tư? Trả lời cho câu
hỏi thứ nhất đó là quyết định đầu tư hay quyết định ngân sách vốn của công ty.
• Thứ hai, công ty nên sử dụng nguồn tài trợ nào cho dự án đầu tư đã được
lựa chọn đó? Trả lời cho câu hỏi thứ hai đó là quyết định tài trợ của công ty.
• Thứ ba, kết hợp cả hai quyết định trên sẽ tạo thành chính sách phân phối.
Nghĩa là công ty sẽ đưa ra quyết định về chính sách phân phối lợi nhuận như
thế nào. Ngoài ra, sự kết hợp giữa các quyết định tài chính với nhau chứ không
phải xem xét một cách riêng lẻ làm cho các giám đốc tài chính “mệt” hơn nữa
với việc phân tích và lập kế hoạch tài chính.
Thị trường tài chính là nơi mà tại đó các công ty có thể gia tăng vốn, và
cũng tương ứng như vậy các công ty có thể gia tăng vốn trong phạm vi toàn cầu
từ các thị trường tài chính quốc tế. Các cổ đông của các công ty lớn phân bổ tản
mát khắp toàn cầu. Các cổ phần của các công ty này được giao dịch trao đổi mua
bán trên khắp các múi giờ từ trung tâm tài chính NewYork qua London đến
Tokyo và trên khắp các trung tâm tài chính quốc tế khác. Các luồng vốn đầu tư
bằng trái phiếu và các khoản nợ vay ngân hàng có thể được chuyển đổi và mua
bán dễ dàng xuyên biên giới các quốc gia. Một công ty cổ phần có nhu cầu huy
động vốn thì không nhất thiết phải vay mượn từ ngân hàng địa phương.

5
Trong cuốn sách này, chúng tôi sẽ sử dụng thuật ngữ giám đốc tài chính
để chỉ những người có trách nhiệm đưa ra những quyết định đầu tư, quyết định
tài trợ và quyết định chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp. Chỉ có
những công ty có qui mô rất nhỏ mới sử dụng duy nhất một cá nhân để có trách
nhiệm thực hiện tất cả những quyết định được thảo luận trong cuốn sách này.
Trong hầu hết các trường hợp và trong hầu hết các công ty khác nhau, trách
nhiệm này được phân bổ và cùng thực hiện bởi nhiều người.
Các nhà quản trị cấp cao trong một công ty luôn có liên quan đến những
quyết định về tài chính. Không những vậy những kỹ sư, những người thiết kế một
sản phẩm mới cũng liên quan đến các quyết định trong lĩnh vực tài chính vì thiết
kế một sản phẩm mới sẽ xác định chủng loại tài sản thực mà công ty sẽ cần phải
đầu tư. Nhà quản trị Maketing người được giao nhiệm vụ cho một chiến dịch
quảng cáo cũng tham gia vào việc đưa ra những quyết định đầu tư quan trọng.
Một chiến lược quảng cáo thì bản thân nó cũng là một dự án đầu tư, nhưng là đầu
tư vào tài sản vô hình, mà những đầu tư này mong đợi sẽ bù đắp những chi phí đã
bỏ ra bằng gia tăng doanh số và lợi nhuận của công ty trong tương lai.
Tuy nhiên có một vài nhà quản trị mà chuyên môn đặc biệt của họ trong
lĩnh vực tài chính. Vai trò của họ được thể hiện tổng quát trong sơ đồ 1.2 bao
gồm Giám đốc vốn (treasurer) có trách nhiệm quản trị dòng tiền của doanh
nghiệp, tìm kiếm huy động nguồn vốn mới và duy trì mối quan hệ với các ngân
hàng, với các cổ đông cũng như tất cả các nhà đầu tư khác, những người đang
nắm giữ các chứng khoán mà công ty đã phát hành.
Trong các công ty nhỏ, giám đốc vốn có khả năng chỉ là một chuyên gia
điều phối về tài chính. Còn trong các công ty cổ phần lớn, ngoài giám đốc còn
có một vị trí khác là kế toán trưởng, người chuyên thiết lập báo cáo tài chính
hàng năm, quản lý hệ thống kế toán nội bộ của công ty và theo dõi các khoản
thuế phải nộp. Bạn có thể thấy rằng giám đốc vốn và kế toán trưởng có những
chức năng khác biệt nhau hoàn toàn: Giám đốc vốn có trách nhiệm chính là làm
sao huy động và quản lý được các nguồn tài trợ của doanh nghiệp sao cho
luôn tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Trong khi đó, kế toán trưởng có trách
nhiệm đảm bảo rằng tiền luôn được sử dụng một cách hiệu quả và bảo đảm tuân
thủ các quy định của luật pháp về tài chính kế toán theo chế độ hiện hành.
Cho đến hiện nay tất cả các công ty lớn đều bổ nhiệm các chức danh
Giám đốc tài chính (CFO - Chief Financial Officer) để điều hành trực tiếp cả hai
vị trí là giám đốc vốn và kế toán trưởng. Bản thân giám đốc tài chính có trách
nhiệm chính trong việc hoạch định các chính sách tài chính và các kế hoạch tài
chính phục vụ cho các hoạt động của doanh nghiệp. Thông thường người phụ
trách cao nhất về tài chính của công ty - các CFO - đồng thời cũng có trách
nhiệm quản lý điều hành toàn bộ hoạt động chung của một công ty với mức độ
vượt hơn chuyên môn chính về tài chính của họ, và các CFO cũng có thể là
thành viên của ban giám đốc.

6
Sơ đồ 1.2: VAI TRÒ CỦA GIÁM ĐỐC TÀI CHÍNH

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ



TỔNG GIÁM ĐỐC



GIÁM ĐỐC TÀI CHÍNH




Giám đốc vốn Kế toán trưởng



Bộ phận Bộ phận Bộ phận Bộ phận
quản trị quản trị quản lý kế toán
tín dụng tiền mặt thuế chi phí



Bộ phận Bộ phận lập kế Bộ phận kế Bộ phận quản lý
chi tiêu vốn hoạch tài chính toán tài chính hệ thống dữ liệu



* Thuật ngữ chi tiêu vốn (capital expenditure) dễ tạo ra nhầm lẫn cho các
bạn. Các bạn có thể cho rằng chi tiêu vốn là quá trình thu chi tiền. Thật ra không
phải như vậy, chi tiêu vốn liên quan đến các quyết định đầu tư dài hạn mà các
bạn sẽ nghiên cứu trong chương 3.
Ngày nay vai trò của các CFO ở các công ty lớn càng trở nên quan trọng
đến mức những quyết định của họ có thể tác động đến thị trường tài chính nước
đó và thế giới. Chẳng hạn những rung động trên thị trường tài chính Mỹ vào
tháng 7 năm 2002 qua sự kiện được coi là những vụ phá sản lớn nhất trong lịch
sử Mỹ từ các công ty lớn như Enron, Wordcom …Mà một trong những nguyên
nhân chính là cách thức điều hành quản trị tài chính của các CFO ở những công
ty này đã vi phạm những chuẩn mực trong nguyên tắc nghề nghiệp cũng như
những chuẩn mực đạo đức. Chẳng hạn hiện nay ở Mỹ, đến mức độ là để có thể
thành CFO, ngoài những tiêu chuẩn cần thiết về năng lực, chuyên môn về tài
chính doanh nghiệp thì họ còn phải thông qua kiểm tra tư cách đạo đức hay xét
duyệt lý lịch bởi một cơ quan quản lý độc lập của chính phủ Mỹ.

7
Kế toán trưởng hoặc giám đốc tài chính có trách nhiệm tổ chức và theo dõi
quá trình hoạch định ngân sách vốn của công ty. Tuy nhiên các dự án đầu tư vốn
quan trọng thường rất gần với các kế hoạch phát triển sản phẩm, kế hoạch sản
xuất và các chiến lược maketing của những bộ phận khác.
Do tầm quan trọng của các vấn đề tài chính phát sinh nên những quyết định
cuối cùng thường phải dựa vào các qui định của luật pháp hiện hành như luật
doanh nghiệp hoặc bởi quyết định của hội đồng quản trị. Ví dụ, chỉ có hội đồng
quản trị mới có quyền thông báo mức chia cổ tức hoặc cho phép phát hành các
chứng khoán ra công chúng. Hội đồng quản trị cũng thường ủy quyền và phân
cấp quyết định đối với những dự án đầu tư có quy mô vừa và nhỏ. Nhưng đối
với các dự án đầu tư có quy mô lớn thì những quyền hạn này ít được ủy quyền
và phân cấp.
1.4. SỰ PHÂN ĐỊNH GIỮA QUYỀN SỞ HỮU VÀ QUYỀN QUẢN LÝ
Trong các công ty lớn, sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý
hết sức cần thiết. Những công ty này có thể có hàng trăm cổ đông, do vậy không
có cách nào thỏa mãn việc tất cả các cổ đông cùng tham gia quản lý. Bạn có thể
nghĩ rằng quản lý một công ty cổ phần cũng gần giống như điều hành một khu
đô thị thông qua các buổi họp hội đồng cho tất cả các cư dân đô thị. Luật cho
phép ủy quyền cho các người đại diện đi họp thay bạn.
Việc phân định quyền sở hữu và quyền quản lý đã có một thuận lợi rõ ràng.
Nó cho phép chia nhỏ quyền sở hữu theo những phần góp vốn bằng nhau và từ
đó sự chuyển nhượng thay đổi quyền sở hữu sẽ không gây phiền phức đến hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Và điều này cũng cho phép công ty những
nhà quản lý chuyên nghiệp để điều hành công ty của mình theo hướng hiệu quả
nhất nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu ban đầu của các chủ sở hữu. Tuy nhiên, việc
phân định quyền sở hữu và quyền quản lý bản thân nó cũng mang lại nhiều vấn
đề phiền phức khi mục tiêu của chủ sở hữu và mục tiêu của các nhà quản lý khác
nhau. Và điều này nguy hiểm ở chổ thay vì hành động theo những ước vọng của
các cổ đông thì các nhà quản lý lại tìm kiếm những sự nhàn nhã hơn, hoặc một
phong cách sống làm việc xa hoa hơn, họ có thể lãng tránh những quyết định
không được hợp lòng người hoặc họ có thể cố gắng xây những tòa cao ốc chọc
trời bằng tiền của những cổ đông.
Sự mâu thuẫn giữa mục tiêu của các cổ đông và các nhà quản lý đã tạo
nên những vấn đề về người chủ - người đại diện. Các cổ đông là người chủ còn
các nhà quản lý chuyên nghiệp là người đại diện của họ. Các cổ đông sẽ yêu cầu
các nhà quản lý có thể tự rút lui khỏi những công việc nặng nhọc này hoặc có
thể thu vén cho cá nhân để làm giàu. Các chi phí đại diện (agency cost) xuất
hiện khi: (1) các nhà quản lý không cố gắng thực hiện nhiệm vụ tối đa hóa giá trị
công ty, (2) các cổ đông sẽ gánh chịu phí tổn để kiểm soát ban quản lý và do đó
ảnh hưởng đến công việc của họ. Dĩ nhiên sẽ không có chi phí nào khi các cổ

8
đông đồng thời cũng là nhà quản lý. Đây cũng chính là thuận lợi của loại hình
công ty tư nhân: Người chủ và người quản lý không mâu thuẫn về lợi ích.
Chi phí đại diện: Có thể nảy sinh trong lĩnh vực tài chính. Trong những
thời điểm thường, ngân hàng và các trái chủ, những người cho doanh nghiệp vay
tiền, sẽ có cùng quan niệm với các cổ đông trong việc mong muốn công ty thành
công và phát đạt. Nhưng khi công ty có những vấn đề khó khăn, sự thống nhất
về mục tiêu chung có thể đổ vỡ. Và những lúc như vậy sự thay đổi ban quản lý
là điều cần thiết để cứu doanh nghiệp, nhưng những nhà cho vay lại không còn
muốn tiếp tục đầu tư vào doanh nghiệp nữa và họ quan tâm đến việc thu hồi lại
khoản tiền đã cho doanh nghiệp vay. Họ sẽ miễn cưỡng và không muốn quan
tâm những vấn đề của doanh nghiệp, những rủi ro có thể đe dọa đến sự an toàn
các khoản cho vay của họ. Sự tranh cãi thậm chí có thể xảy ra giữa các nhà tài
trợ các nhau và khi các chủ nợ cảm nhận công ty có khả năng bị phá sản thì sẽ
có sự tranh giành giữa các chủ nợ nhằm giành cho mình một vị trí ưu tiên hơn
để có thể nhận lại khoản vay theo thứ tự chi trả của luật phá sản. Giá trị của toàn
bộ doanh nghiệp cũng giống như một chiếc bánh mà từng phâng của nó được
phân chia cho các bên có yêu cầu về quyền lợi. Nó bao gồm nhà quản lý và cổ
đông cũng như các bên có ảnh hưởng đến công ty và các ngân hàng, các nhà đầu
tư – những người đã cho doanh nghiệp vay nợ. Ngoài ra, chính phủ cũng được
xem như là một bên có quyền lợi khi doanh nghiệp phải làm nghĩa vụ thuế với
nhà nước từ một phần lợi nhuận của mình.
Tất cả các bên có yêu cầu quyền lợi cùng đứng chung với nhau trong một
mạng lưới các hợp đồng giao kèo pháp lý phức tạp, cũng như bằng các hình thức
khác như sự thông hiểu và tin cậy lẫn nhau. Ví dụ khi ngân hàng cho công ty
vay tiền thì họ thảo một hợp đồng có tính pháp lý và trong đó sẽ qui định đầy đủ
tất cả những qui định cần thiết như lãi suất, ngày đến hạn thanh toán, thậm chí
họ sẽ giới hạn mức cổ tức mà doanh nghiệp sẽ thanh toán cho cổ đông trong
tương lai hoặc giới hạn các khoản vay bổ sung của doanh nghiệp sau này.
Nhưng bạn sẽ không thể ký vào những văn bản như vậy vì bạn không thể lường
trước được những sự kiện có khả năng xảy ra trong tương lai. Vì vậy, một hợp
đồng không thể đầy đủ tất cả và cần thiết phải được bổ sung bởi sự tin cậy lẫn
nhau và bằng những thương lượng sao cho dung hòa được quyền lợi của các bên
khác nhau.
Vấn đề chủ - Người đại diện có thể dễ dàng giải quyết nếu mọi người
cùng nhận được những thông tin ngang bằng nhau. Nhưng đây là điều hiếm có
trong lĩnh vực tài chính. Các nhà quản lý, các cổ đông và các chủ nợ có thể có
những thông tin rất khác nhau về giá trị của các tài sản thực hoặc các tài sản
chính của công ty và điều này có thể tồn tại trong nhiều năm trước khi được phát
hiện ra. Các giám đốc tài chính cần thiết phải ghi nhận những bất cân xứng

9
thông tin này và phải tìm cách làm yên lòng những nhà đầu tư rằng họ sẽ được
bảo đảm là không gặp phải một bất ngờ khó chịu nào hết.
Đây là ví dụ, giả định rằng bạn là giám đốc tài chính của một công ty
dược phẩm vừa mới được thành lập để phát triển và đưa ra thị trường một loại
thuốc đặc trị mới. Tại cuộc gặp gỡ các nhà đầu tư tiềm năng, bạn đã báo cáo lại
kết quả thành công của ca thử nghiệm lâm sàng, đọc lại những nhận xét và đánh
giá của các công ty nghiên cứu thị trường độc lập và dự đoán mức lợi nhuận một
cách đầy đủ để chứng minh cho các nhà đầu tư thấy được triển vọng của dự án.
Nhưng các nhà đầu tư tiềm năng này sẽ vẫn lo lắng và cho rằng bạn vẫn còn che
giấu nhưng thông tin gì đó nhiều hơn mức bạn đã công bố. Bạn phải làm gì để
thuyết phục họ rằng bạn đang nói hết sự thật? Nếu bạn chỉ đơn giản nói với họ
rằng: “Hãy tin ở tôi và không có sự lừa đảo nào ở đây cả” thì có lẻ không đủ
thuyết phục. Ngay cả bạn cũng nên cho thấy một dấu hiệu đáng tin cậy nào đó
của riêng mình khi bạn đặt cược tiền của mình vào một cơ hội đầu tư nào đó. Ví
dụ các nhà đầu sẽ tin tưởng hơn vào kế hoạch của bạn nếu như họ thấy rằng bạn
và các nhà quản lý khác cũng có những khoản góp vốn lớn vào công ty lớn này.
Do đó, quyết định của bạn đầu tư tiền của mình vào dự án sẽ là một thông tin
đầy thuyết phục về triển vọng của công ty đối với các nhà đầu tư.
1.5. MÔI TRƯỜNG TÀI CHÍNH
1.5.1. Thị trường tài chính
Chúng ta đã thấy rằng các công ty cổ phần huy động vốn bằng việc phát
hành các tài sản tài chính như các cổ phần và các trái phiếu ra thị trường tài
chính. Và như vậy quá trình này sẽ làm gia tăng về mặt số lượng vốn huy động
được của doanh nghiệp và gia tăng số lượng các cổ phần hoặc các trái phiếu
đang được nắm giữ bởi các nhà đầu tư. Quá trình phát hành như vậy được hiểu
là quá trình phát hành sơ cấp và những tài sản chính này được bán ra lần đầu
trên thị trường sơ cấp (primary markets). Nhưng để giúp công ty gia tăng thêm
lượng tiền mặt khi cần thiết và tăng tính thanh khoản cho các chứng khoán, thị
trường tài chính cũng cho phép các nhà đầu tư giao dịch mua bán các cổ phần
hoặc trái phiếu đã được phát hành với nhau. Ví dụ, tại một thời điểm nào đó một
nhà đầu tư quyết định gia tăng lượng tiền mặt cần thiết bằng cách bán một số cổ
phần của công ty Sony cho một nhà đầu tư khác đang muốn đầu tư vào cổ phần
của Sony thì họ chỉ việc tiến hành giao dịch mua bán. Kết quả đơn giản là quyền
sở hữu đã được chuyển giao từ người này sang người khác mà vẫn không ảnh
hưởng đến lượng tiền mặt, tài sản và những hoạt động khác của công ty đó.
Những việc mua bán như vậy được hiểu là các hoạt động giao dịch tiếp theo sau
và nó được diễn ra trên thị trường thứ cấp (secondary markets)
Có một vài tài sản chính ít được giao dịch trên thị trường thứ cấp hơn một số
loại tài sản chính khác. Ví dụ, khi công ty mượn hàng từ ngân hàng thì ngân hàng
sẽ yêu cầu giấy cam kết thanh toán hoàn trả cả nợ gốc và lãi vay, và tờ giấy có ghi

10
lời hứa thanh toán của công ty này sẽ được xem như là một tài sản chính. Vào
một thời điểm nào đó trong tương lai, ngân hàng này sẽ bán lại các khoản vay nợ
của công ty cho những ngân hàng khác bằng cách chuyển nhượng tài sản tài chính
này nhưng thông thường thì các ngân hàng sẽ giữ lại cho đến khi đáo hạn.
Các tài sản chính được giao dịch và giá cả của nó được đăng tải trên các ấn
phẩm báo chí hàng ngày ví dụ như: mức giá của các cổ phần hiện đang được
niếm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán lớn trên thế giới như Newyork,
London hoặc Tokyo. Trong trường hợp khác khi các chứng khoán không được
giao dịch tại các sàn giao dịch chính thức, thì nó sẽ được giao dịch mua bán
thông qua mạng máy tính được kết nối giữa các Dealers với nhau. Thị trường,
nơi diễn ra các giao dịch mua bán các tài sản chính không được tổ chức chính
thức thì gọi là thị trường phi tập trung - OTC (Over - The - Counter Markets).
1.5.2. Các tổ chức tài chính
Khi một công ty huy động vốn, một phần nguồn vốn tài trợ có thể đến trực
tiếp từ các nhà đầu tư riêng lẻ, nhưng tỷ lệ lớn nguồn tài trợ được đầu tư từ các
tổ chức tài chính như là các ngân hàng, quỹ bảo hiểm xã hội và các công ty bảo
hiểm. Nhà quản trị tài chính là mối liên kết giữa một công ty và các tổ chức tài
chính này, do đó, để có thể trở thành giám đốc tài chính trong tương lai thì bạn
phải hiểu rõ vai trò và chức năng của các tổ chức tài chính trung gian này.
Các tổ chức tài chính là những trung gian tài chính, họ nhận tiền gửi tiết
kiệm của rất nhiều cá nhân trong xã hội và sau đó thực hiện tái đầu tư lại các
khoản vốn nhàn rỗi này trên thị trường tài chính. Ví dụ ngân hàng huy động vốn
bằng cách nhận gửi tiết kiệm hoặc phát hành các khoản nợ, các cổ phần cho nhà
đầu tư. Sau đó, họ cho các doanh nghiệp và các cá nhân vay mượn lại. Dĩ nhiên
các ngân hàng phải tính đầy đủ các chi phí hoạt động của mình cùng với phần
chi phí bù đắp quyền lợi cho người gửi tiết kiệm và các nhà đầu tư khác, tất cả
được tính vào trong lãi suất cho vay.
Ngân hàng và các tổ chức tài chính như các quỹ tiết kiệm và cho vay là
những trung gian tài chính tương tự nhau. Ngoài ra, cũng có các tổ chức tài
chính khác đang hoạt động trên thị trường tài chính như các công ty bảo hiểm và
các quỹ đầu tư. Ở một số quốc gia như Mỹ chẳng hạn, các công ty bảo hiểm có
tầm quan trọng hơn các ngân hàng trong vai trò là nhà tài trợ trung dài hạn chon
các doanh nghiệp. Họ là những nhà đầu tư khổng lồ đối với các cổ phần và trái
phiếu công ty. và họ thường thực hiện các tài trợ dài hạn trực tiếp cho các công
ty cổ phần. Hầu hết nguồn tài trợ được lấy từ doanh thu các sản phẩm bảo hiểm.
Nếu bạn mua một sản phẩm bảo hiểm hỏa hoạn cho ngôi nhà của bạn thì bạn sẽ
phải đóng phí bảo hiểm này bằng tiền mặt cho công ty bảo hiểm và khoản tiền
tạm thời nhàm rỗi này sẽ được đầu tư vào thị trường tài chính. Đổi lại, bạn sẽ


11
nhận được một tài sản tài chính (đó là sản phẩm bảo hiểm) và tuy bạn không
nhận được khoản thanh toán tiền lãi nhưng nếu hỏa hoạn xảy ra, công ty bảo
hiểm sẽ có nhiệm vụ đền bù tất cả những mất mát của bạn cho đến đồng xu cuối
cùng theo hợp đồng bảo hiểm mà bạn đã mua. Đây chính là lợi ích trong việc
đầu tư của bạn. Dĩ nhiên, công ty bảo hiểm không chỉ phát hành một hợp đồng
bảo hiểm với bạn mà là hàng ngàn hợp đồng như vậy đã được bán. thông thường
nguy cơ hỏa hoạn thực tế xảy ra là một con số bình quân nào đó, điều này cho
phép các công ty bảo hiểm có thể dự đoán được nghĩa vụ tài chính của mình đối
với một số khách hàng đã mua bảo hiểm.
Tại sao các tổ chức tài chính trung gian lại khác biệt so với các công ty hoạt
động sản xuất kinh doanh? Thứ nhất là vì các trung gian tài chính này có thể huy
động vốn theo một cách đặc biệt, ví dụ có thể nhận tiền gửi ký thác hoặc bán các
sản phẩm bảo hiểm. Thứ hai, các trung gian tài chính này đầu tư tiền dưới dạng
các tài sản tài chính như các loại cổ phần và trái phiếu, hoặc cho các doanh
nghiệp và các cá nhân vay. Trong khi đó các dự án đầu tư chính của các công ty
hoạt động sản xuất kinh doanh là dưới dạng đầu tư vào mua sắm các tài sản thực
như các nhà máy và các thiết bị máy móc. Do đó các trung gian tài chính nhận
được các khoản thu nhập từ việc thiết lập danh mục đầu tư các tài sản tài chính
hiệu quả ( các loại cổ phần, trái phiếu nào sẽ được chọn lọc đầu tư…) và nguồn
vốn đầu tư lại được lấy từ việc phát hành các tài sản tài chính của mình để cho
mọi người có thể đầu tư khoản tiền nhàn rỗi dưới dạng tiền gửi ký thác, mua các
sản phẩm bảo hiểm …
Bằng cách đó, các trung gian tài chính đã góp một phần quan trọng khi thực
hiện chức năng chu chuyển vốn hiệu quả nhất cho nền kinh tế (Ví dụ: Bảng 1.1).
1.5.3. Các công cụ tài chính
Cuộc sống của mỗi chúng ta sẽ rất bất tiện nếu tất cả các nhu cầu thanh toán
đều phải được đáp ứng bằng tiền mặt. May mắn thay là sự ra đời của các trung
gian tài chính đã làm đa dạng hóa các hình thức thanh toán như thanh toán qua
chuyển khoản, thẻ tín dụng, và chuyển tiền điện tử. Hình thức thanh toán này đã
cho phép các cá nhân và các công ty ở những khoảng cách rất xa có thể tiến
hành giao dịch và thanh toán cho nhau một cách nhanh chóng, an toàn và tiện
lợi. Các ngân hàng là những nhà cung cấp hiển nhiên các dịch vụ thanh toán này
nhưng họ không một mình làm tất cả. Ví dụ nếu bạn dùng tiền mua cổ phần của
một quỹ đầu tư trên thị trường thì tiền của bạn sẽ được góp chung vào với tiền
các nhà đầu tư khác và được quỹ đầu tư sử dụng để đầu tư vào các chứng khoán
ngắn hạn có chất lượng cao và ít rủi ro. Bạn có thể mua cổ phần quỹ đầu tư này
thông qua hình thức thanh toán không dùng tiền mặt bằng cách ký séc thanh
toán. Tuy nhiên điều này chỉ dễ dàng khi bạn có tiền gửi ký thác tại một ngân
hàng nào đó.

12
1.5.4. Khái niệm về hiệu quả của thị trường tài chính
Hoạt động vay và cho vay: Hầu hết các tổ chức tài chính trung gian đều có
huy động tiền gửi ký thác và đây là những nơi có thể sử dụng tốt nhất các khoản
tiền này. Do vậy, nếu một người có một khoản tiền nhàn rỗi ở hiện tại và muốn
tiết kiệm thì người này có thể tiến hành ký thác ngân hàng dưới dạng tiền gửi
tiết kiệm. Nhưng nếu một người khác muốn mua một xe hơi ngay ở hiện tại và
trả tiền sau đó thì ông ta phải vay mượn tiền của ngân hàng. Cả hai bên vay và
bên cho vay đều toại nguyện vì đã sử dụng tiền theo đúng nguyện vọng của
mình. Dĩ nhiên là không chỉ các cá nhân hoặc các doanh nghiệp mới có nhu cầu
vay mượn bán các cổ phần mới. Một Chính phủ với ngân sách thường xuyên
thâm hụt thì khi đó Chính phủ cũng phải tiến hành vay mượn bằng cách phát
hành một số tiền lớn các chứng chỉ nợ.
Về nguyên tắc, các cá nhân và các công ty khi có lượng tiền mặt nhàn rỗi có
thể tìm kiếm những nơi đang thiếu tiền để đầu tư qua các chuyên mục quản cáo
trên báo chí hay qua thông tin trên mạng. Nhưng để thực hiện đầu tư khoản tiền
nhàn rỗi của mình thuận tiện nhất với chi phí rẻ nhất thì chỉ bằng phương cách
thông qua thị trường tài chính, thông qua các tổ chức tài chính để có thể nối kết
giữa bên sẵn sàng cho vay và bên cần vay. Ví dụ các ngân hàng với chuyên môn
riêng biệt của mình có thể dễ dàng kiểm tra khả năng thanh toán của khách hàng
đi vay cũng như đi theo dõi và kiểm tra việc sử dụng tiền vay có đúng mục đích
và hiệu quả không. Còn bạn, bạn có thể cho một người xa lạ vay chỉ qua tiếp xúc
trên Internet hay không? bạn sẽ an toàn nếu chỉ cho ngân hàng vay tiền và sau đó
hãy để ngân hàng làm việc cần thiết phù hợp với chuyên môn của họ.
Lưu ý rằng các ngân hàng hứa hẹn sẽ thanh toán một cách nhanh chóng
bất kỳ lúc nào khi các khách hàng có nhu cầu thanh toán nhưng cùng lúc các
ngân hàng lại thiết lập những khoản cho vay dài hạn đối với các công ty và các
cá nhân. Trên thực tế có sự không cân xứng giữa thời gian đáo hạn các khoản nợ
của ngân hàng (các khoản ký thác) và hầu hết các tài sản của ngân hàng (các
khoản cho vay) nhưng sự không cân xứng này là hoàn toàn có thể chấp nhận
được, Bởi vì số lượng các nhà ký thác tiền gửi là đủ lớn để các ngân hàng có thể
đảm bảo chắc rằng tất cả họ sẽ không rút tiền ra vào cùng một lúc nào đó.
Phân tán rủi ro: Trên các thị trường tài chính, các tổ chức tài chính giúp
các công ty và các cá nhân có thể phân tán rủi ro khoản đầu tư của họ khi tự bản
thân họ không thể làm điều đó tốt hơn. Ví dụ các công ty bảo hiểm có khả năng
giúp các khách hàng của họ phân tán rủi ro từ tổn thất do tai nạn xe hơn hoặc
các tổn thất do hỏa hoạn. Một ví dụ khác, giả định rằng bạn có một khoản tiền
nhỏ để đầu tư, nhưng vậy bạn chỉ có thể mua cổ phần của một công ty nào đó
mà thôi. Và sau đó bạn có thể bị mất trắng nếu công ty này thua lỗ. Nhưng nếu
bạn dùng số tiền nhỏ nhoi của mình đầu tư vào các quỹ đầu tư thì họ sẽ dùng
tiền của bạn cũng như tiền của những người khác thực hiện đa dạng hóa đầu tư

13
Trong trường hợp này,bạn chỉ gặp rủi ro khi giá
tất cả các chứng khoán đều cùng sụt giảm.
Bảng 1.1: Giới thiệu một số tổ chức tài chính và hoạt động của các tổ chức

Tổ chức tài chính Nguồn vốn huy động Nội dung hoạt động
* Các ngân hàng * Tiền gửi ký thác. *Nghiệp vụ thanh toán, mua
thương mại. chứng khoán ngắn hạn, cho
vay
* Tổ chức tiết kiệm * Tiền gửi ký thác. * Cho vay trung, dài hạn tài trợ
và cho vay. cho vay mua bất động sản, nhà
ở, hàng hóa tiêu dùng
* Ngân hàng tiết * Tiền gửi ký thác, chủ * Tài trợ để mua sắm nhà ở và
kiệm đầu tư. yếu là các cá nhân. các loại bất động sản.
* Tổ chức tín dụng * Tiền gửi ký thác, * Tài trợ để mua sắm nhà ở và
thường là các tổ chức hàng tiêu dùng
nào đó.

* Quỹ bảo hiểm xã * Phí bảo hiểm xã hội * Đầu tư vào các chứng khoán.
hội. của các doanh nghiệp Thu nhập của quỹ được dùng
và công nhân viên chi trả theo chính sách bảo
chức. hiểm XH.

* Công ty tài chính. * Vay tiền của các * Tài trợ cho vay trung dài hạn,
ngân hàng thương mại cho vay đối với những dự án
và những người cho rủi ro cao
vay.
* Quỹ đầu tư. * Phát hành cổ phần * Đầu tư vào danh mục các
với mệnh giá nhỏ. chứng khoán theo mục tiêu và
chính sách của quỹ.
* Công ty bảo hiểm. * Phí bảo hiểm. * Chi trả bồi thường theo hợp
đồng bảo hiểm khi có tổn thất
xảy ra.
* Đầu tư vào các chứng khoán
công ty hay Chính phủ.
* Công ty cho thuê * Huy động vốn trung * Tài trợ cho các hợp đồng
tài chính. dài hạn. thuê máy móc thiết bị.
* Vay ngân hàng



14
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản