Các vấn đề kinh tế xã hội đặt ra đối với vùng ven trong quá trình đô thị hóa

Chia sẻ: Nguyen Do Tung Tung | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:8

2
389
lượt xem
142
download

Các vấn đề kinh tế xã hội đặt ra đối với vùng ven trong quá trình đô thị hóa

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong khi tốc độ đô thị hoá tại TPHCM diễn ra nhanh chóng, chủ trương mở rộng nội thị của TPHCM kể từ năm 1997 với sự hình thành 5 quận mới bao gồm Quận Thủ Đức, quận 2, Quận 9, Quận 7 và Quận 12, đã góp phần giúp diện tích nội thành TPHCM được mở rộng thêm, với mong muốn thúc đẩy phát triển thành phố theo hướng hiện đại hoá.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Các vấn đề kinh tế xã hội đặt ra đối với vùng ven trong quá trình đô thị hóa

  1. Các vấn đề kinh tế xã hội đặt ra đối với vùng ven trong quá trình đô thị hóa Chủ nhiệm: Th.S. Dư Phước Tân Thành viên tham gia: CN.Phan Văn Khiết, CN.Nguyễn Thị Bích Hồng, CN.Nguyễn Thị  Nết, CN.Trần Thị Mẫn Trong khi tốc độ đô thị hóa tại TP.HCM diễn ra nhanh chóng, chủ trương mở rộng nội thị   của TP.HCM kể  từ  năm 1997 với sự  hình thành 5 Quận mới bao gồm Quận Thủ   Ðức,   Quận 2, Quận 9, Quận 7 và Quận 12, đã góp phần giúp diện tích nội thành TP.HCM được   mở  rộng thêm, với mong muốn thúc  đẩy phát triển thành phố  theo hướng hiện  đại hóa.   Tuy nhiên, sau 8 năm thực hiện, bên cạnh một số  thành tựu  đã   đạt  được, 5 quận mới,   nhìn chung vẫn chưa phát triển được như  mong muốn. Đề  tài “Các vấn  đề  KT­XH  đặt ra   đối với vùng ven trong quá trình  đô thị  hóa” do Th.S. Dư  Phước Tân làm chủ  nhiệm,   đã   phát triển được một cơ sở lý luận tổng hợp về lý thuyết vùng ven, qua đó góp phần hỗ trợ   công tác quản lý đô thị đựoc hiệu quả hơn, làm rõ một số biến động KT_XH của 5 Quận   mới trong thời gian qua, phát hiện một số  tồn tại và  các nguyên nhân cốt lõi,  đồng thời   đưa ra một số  giải pháp mang tính  định hướng,  trong công tác quy hoạch và  phát triển   các Quận mới.   THỰC TRẠNG VÀ TỒN TẠI TRONG PHÁT TRIỂN 5 QUẬN MỚI. Mặc dù Chính quyền Thành phố đã có nhiều nỗ lực trong quản lý đô thị, tuy nhiên với tốc   độ   đô  thị  hoá  khá  nhanh, hơn 8 năm qua Thành phố  vẫn luôn  đương  đầu với rất nhiều  thách thức. Các quận thuộc vùng ven nội thành như  Tân Bình, Gò  Vấp, Bình Thạnh và  Quận 8 ­ là  khu vực có  chức năng dự  trữ   đất  đai, dành cho sự  phát triển, mở  rộng nội  thành ­ dần dần cũng trở nên "quá tải" kể từ năm 1997. Từ khu dân cư Bàu Cát, quận Tân  Bình, một   mô  hình  đô  thị   được  đánh giá  là  khá  thành công của Thành phố  lúc bấy giờ   (vào năm 1995), nhưng qua thời gian cũng dần dần cho thấy không "bắt kịp” với yêu cầu  hiện đại hóa Thành phố Hồ Chí Minh. Việc bố trí khu Công nghiệp Tân Bình ngay trên địa  bàn Quận Tân Bình ­ trên một khu đất vùng ven của trung tâm nội thành  đã dần dần lộ rõ  sự  bất hợp lý  do khu dân cư   đô  thị   đã  phát triển quá  nhanh,  đã   đan xen với khu công   nghiệp quan trọng này. Điều này cho thấy sự mở rộng nhanh của ranh giới đô thị, đã vượt   ra khỏi địa phận vốn có của 8 Quận trung tâm. Cũng chính từ tốc độ đô thị hoá khá nhanh   của các Quận ven, đất đai trở nên hạn hẹp và thành phố đã quyết định hình thành 5 Quận  mới từ  năm 1997, vốn là  các huyện ngoại thành trước  đây. Quận Thủ   Đức, Quận 2 và   Quận 9 (được tách ra từ địa bàn huyện Thủ Đức trước đây), Quận 7 (được tách ra từ một  phần Huyện Nhà Bè) và Quận 12 (tách ra từ  một phần Huyện Hóc Môn). Gần đây, sự ra   đời của Quận Bình Tân vào năm 2003, đây cũng là một xu thế tất yếu trong tiến trình đô  thị hóa. 
  2. Tuy nhiên, bên cạnh một số thành tựu đáng kể đã góp phần thay đổi bộ mặt 5 Quận mới  trong 8 năm qua, như  việc hình thành khu chế  xuất Tân Thuận, Khu chế xuất Linh trung,  các khu công nghiệp tập trung và các công trình giao thông tầm cở, như đường Xuyên Á,   Đại lộ Đông Tây, Khu đô thị Nam Sài Gòn và nhất là khu đô thị mới Thủ Thiêm đã và đang  được quy hoạch theo hướng một  đô  thị  hiện  đại; nhìn chung, các quận mới trong 8 năm  phát triển vừa qua, vẫn còn nhiều tồn tại và chưa thực sự được khai thác đúng tiềm năng  sẵn có của các Quận mới. Mô hình phát triển của 5 quận mới trong 8 năm qua, hầu như   vẫn chưa có gì đột phá so với sự phát triển của 4 Quận ven trước đây (Quận Gò Vấp, Bình   Thạnh, Tân Bình và  Quân 8), chủ  yếu phát triển manh mún, trừ  một vài khu dân cư  với  quy mô lớn đã và đang được quy hoạch định hình.  Một bất cập lớn nhất vẫn là luồng di dân đến Thành phố Hồ Chí Minh bình quân mỗi năm   khá nhiều (BQ từ 100.000 đến 200.000 người/năm trong 5 năm qua). Chính số lượng dân  nhập cư  này  đã  góp phần  đã  gây quá  tải về  cơ  sở  hạ  tầng,  điều kiện môi trường và  mỹ   quan của Thành phố. Thành phố phải đương đầu cùng một lúc vừa phải tập trung cải tạo,  chỉnh trang khu vực nội thành hiện hữu, vốn  đã xuống cấp nghiêm trọng, mặt khác, vừa  phải đầu tư cơ sở hạ tầng tại các quận mới, trong khi nguồn lực rất có hạn. Mâu thuẫn nêu   trên cũng là nguyên nhân khách quan, góp phần dẫn đến sự bất cập trong kiểm soát, sử   dụng đất đai tại các Quận mới, dẫn đến hàng loạt dự án nhà ở và khu dân cư phát triển rất   manh mún, tràn lan, chưa   đáp  ứng yêu cầu nhà ở thực sự  cho người dân thành phố. Tất  cả những tồn tại trên đặt ra những thách thức rất lớn mà Thành phố phải vượt qua để phát   triển trong các bước tiếp theo.  NHẬN DIỆN MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN CHỦ QUAN: Qua phân tích thực trạng, có ba nguyên nhân cốt lõi đã ảnh hưởng đến sự phát triển của   các Quận mới, bao gồm:  1. Phương pháp quy hoạch cho 5 Quận mới chưa thật sự khả thi.  TP.HCM đã áp dụng theo phương cách quy hoạch chưa thực sự hiệu quả, chưa chú trọng  việc phân kỳ đầu tư (mang tính khả thi) trong quy hoạch, nhất là chưa phân chia thành các   khu vực để kiểm soát sự phát triển trong tiến trình đô thị hóa, tương ứng với mức độ phát  triển kinh tế của từng địa bàn. Do vậy, hầu hết đất đai ở các khu vực nội thành, vùng ven   và  ngay cả  ngoại thành vẫn phát triển tràn lan, chưa chú  trọng  đến việc kiểm soát hay  khống chế về mức độ đô thị hóa. Điều này đã dẫn đến sự phát triển nhiều khu vực tự phát   ở các Quận mới, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bền vững và hiện đại hóa khu vực bên  trong nội thành trung tâm. Sự  đầu tư  chưa mang tính tập trung, vẫn còn dàn trãi cho các  nơi và do vậy, đã dẫn đến khung hạ tầng chưa đồng bộ và các khu dân cư vẫn chưa được   xây dựng hoàn chỉnh. Từ đó, chưa thể kiểm soát chặt chẽ kế hoạch sử dụng đất cụng như  tốc  độ  đô thị  hóa diễn ra tại  đây và kết quả là vẫn còn hiện tượng  đất nông nghiệp bị bỏ  
  3. hoang hoặc dạng da beo, hoặc bị mua đi bán lại để đầu cơ, ảnh hưởng đến thị trường bất   động sản hiện nay.      Bên cạnh đó, thành phố chỉ đơn thuần dựa vào phương pháp lập quy hoạch chi tiết, là cơ  sở  duy nhất để  tiến hành quản lý xây dựng của chính quyền địa phương, cũng góp phần  gây ra hiện tượng “quy hoạch treo” tại nhiều địa bàn (theo nhiều chuyên gia, nguyên nhân  vẫn là do chưa có chủ  đầu tư, nhưng  đã lập QH chi tiết). Nguyên nhân này đã góp phần   dẫn  đến quy hoạch không  đồng nhất, liên tục thay  đổi,  ảnh hưởng  đến chất lượng  đô thị  trong tương lai. Một vì dụ điển hình là Quy hoạch Quận 2 được phê duyệt trước đây, hoàn   toàn không có chung cư cao tầng, với đường nội bộ khoảng 7 m. Đến nay, định hướng quy  hoạch này đã bị thay đổi, với hàng loạt chung cư cao tầng đã được xây dựng, dẫn đến hệ  quả chiều rộng con đường 7 m đã không còn phù hợp.      Ngoài ra, công tác quy hoạch vừa qua hầu như  chưa chú  trọng lấy  ý  kiến của dân, nên  dẫn đến nhiều nơi quy hoạch chưa khả thi. Hiện nay mặc dù bước đầu có sửa đổi phương  pháp nhưng vẫn chưa triệt để.  2. Chính sách và quy định của chính quyền chưa cải tiến cho phù hợp:  Mặc dù  thế  mạnh chủ  yếu và cơ  bản nhất của 5 Quận mới là  vị  trí, quỹ   đất  đai và cảnh  quan thiên nhiên nhưng trong thời gian qua chưa được khai thác đúng mức. Nguyên nhân  bắt nguồn từ:  Do khó  khăn từ  thủ  tục  đầu tư  còn khá  phức tạp góp phần làm  ảnh hưởng của các nhà  đầu tư vào kinh doanh địa ốc gặp bế tắc, hạn chế sự phát triển của quận. Do khó khăn do   cơ chế và quy  định về đền bù giải phóng mặt bằng. Các dự  án chậm, hầu hết các dự án  đều phát sinh khiếu nại về giá, kể cả các công trình công ích. Công tác triển khai các dự  án tái định cư chậm cũng đã gây khó khăn cho việc thực hiện các chính sách di dời trong   công tác  đền bù. Hầu hết các dự  án  đều chưa chuẩn bị kịp trước quỹ  nhà tái  định cư  khi   tiến hành giải tỏa. Công tác giải phóng mặt bằng, nói chung, một số  bất cập phát sinh   cũng do chính từ quy định giá bồi thường và hỗ trợ chưa hợp lý. Điều này đã góp phần ảnh  hưởng  đến tiến độ thu hồi  đất cho các dự  án và gây ra khiếu kiện hoặc kéo dài thời gian   thương lượng.   Khó khăn do tình hình xây dựng lấn chiếm đất công vẫn chưa được ngăn chặn kịp thời ở  một số phường như: Phú Thuận, Bình Thuận, Tân Hưng, Tân Phú và Tân Quy.  Điều này  cũng bắt nguồn từ  quy  định và  kiểm tra của chính quyền  địa phương chưa hiệu quả  và  thực thi triệt để.   Nhìn chung, việc chưa công khai quy hoạch chi tiết cùng với hiện tượng  đầu cơ gia tăng,   đã đẩy giá đất lên khá cao (giá đất tăng bình quân 5,5 lần/năm trong 8 năm qua). Những   quy định và chính sách áp dụng cho các khu vực như nội thành, vùng ven hay ngoại thành  đều nên có  những quy  định mang tính  đặc thù  cho từng khu vực, không nên  áp dụng   giống nhau, qua đó mới có thể ưu tiên tạo động lực cho phát triển đồng bộ các Quận mới.  
  4. 3. Bộ máy chưa đáp ứng với yêu cầu mới và công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực   hiện QH chưa kiên quyết  Đây cũng là nguyên nhân cốt lõi đến một số hậu quả không mong đợi trong quá trình phát  triển 5 Quân mới. Cũng chính vì chưa công bố quy hoạch rộng rãi và kiên quyết trong xử  lý vi phạm trong đầu tư xây dựng từ phía chính quyền, đã góp phần gây ra tình trạng phát  triển tự  phát  ở  nhiều nơi. Bộ  máy hành chính hầu như  dàn  đều và  giống nhau  ở  các  địa  bàn, chưa chú trọng tính đặc thù của từng nơi  để bố trí cán bộ sao cho phù hợp. Một số   địa bàn người nước ngoài sinh sống (như  Phường Thảo  Điền, An Khánh, Quận 2), lẽ  ra  phải bố trí cán bộ phường am tường về ngoại ngữ và có kỹ năng xử lý nhanh các vấn đề   phát sinh trên địa bàn Phường. Hoặc là Phường có số dân nhập cư đông, lẽ ra phải có số  lượng cán bộ và bộ máy tương đối khác so với phường ít dân v.v....    Chính quyền thành phố dường như cũng chưa nhất quán trong thực thi quy hoạch  đề ra.  Trong 5 năm qua mục tiêu phát triển KT­XH của 5 Quận mới là  nâng cao  điều kiện văn  hóa tại  địa phương. Tuy nhiên một số  UBND Quận mới có than phiền là khi  đề  nghị  xây   nhà văn hóa tại địa bàn các Quận mới, UBNDTP lại chưa cấp kinh phí để xây dựng.  Nhìn chung, chính quyền thành phố vẫn chưa xây dựng một lộ trình chung phù hợp, qua  đó đảm bảo quy hoạch toàn bộ khu vực 5 Quân mới được thực thi theo quy hoạch một  cách đồng bộ. Điều này đã gây lúng túng cho các địa phương Quận mới, khi triển khai  thực hiện quy hoạch trên địa bàn riêng lẽ.  Mặc dù biến  động về  KT­XH diễn ra nhanh chóng  ở 5 Quân mới, tuy nhiên công tác cập  nhật thông tin, khảo sát tình hình, làm cơ sở cho công tác lãnh đạo điều hành ở Quận mới,  hầu như chưa được quan tâm đúng mức. Một số thông tin, tư liệu trong các lãnh vực kinh   tế xã hội quận (ví dụ: mức sống dân cư, tình hình phân loại nhà ở …) chưa được thống kê  khảo sát  định kỳ, làm tư  liệu nghiên cứu, chỉ   đạo, quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả   quản lý nhà nước trên địa bàn. THAM KHẢO MỘT SỐ GIẢI PHÁP MANG TÍNH ĐỊNH HƯỚNG   Trên cơ  sở  3 nguyên nhân cốt lõi  đã   được phân tích, một số  giải pháp  định hướng  được  đặt ra cho các Quận mới, có thể tham khảo bao gồm:  1.   Giải  pháp   thứ  nhất:   Phấn   đấu  nghiên  cứu  và  cải   tiến   phương  pháp   lập  quy   hoạch sao cho khả thi và hiệu quả Để thực hiện được nhiệm vụ này, UBNDTP thành phố có thể xem xét và đổi mới công tác   lập quy hoạch theo các giải pháp định hướng như:  1.1.  Đổi mới từ  công tác quản lý   đô  thị  theo hướng chú  trọng nhiều hơn  đến quy hoạch   chiến lược (định hướng chung), trong  đó  có  xây dựng một lộ  trình  đầu tư  hạ  tầng mang   tính chất khung sườn  đi trước.Thành phố  có  thể  xây dựng một lộ  trình  đầu tư  chung cho  các Quận mới, trong đó xây dựng mạng lưới giao thông cơ bản là rất quan trọng. Nên xem 
  5. vùng ven như một tổng thể chung khi xây dựng lộ trình phát triển các cơ sở hạ tầng mang  tính khả thi. Điều này sẽ dẫn đến sự tiết kiệm nguồn lực khi đầu tư hạ tầng kỹ thuật và xã  hội trong các khu dân cư, tráng tình trạng manh mún và  trùng lấp, không phát huy hiệu   quả (VD: Nhà trẻ, trường học…)..  1.2. Xây dựng lộ trình đầu tư giao thông trên toàn địa bàn vùng ven. Qua phân tích trạng  cho thấy, nếu không xây dựng lộ  trình và kiên quyết  đầu tư mạng lưới giao thông cơ  bản  ngay từ  bây giờ, quỹ   đất trong tương lai sẽ  không còn nhiều hoặc giá  bồi thường ngày  càng gia tăng, rất khó thu hồi cho các côn trình công cộng.  1.3. Nghiên cứu và áp dụng cách thức kiểm soát tốc độ đô thị hóa trên địa bàn thành phố  thông qua việc phân chia thành 3 khu vực  để  quản lý theo 3  đặc thù khác nhau: (1) Nội   thị, (2) Quận vùng ven (tức 6 Quận mới) và  (3) Ngoại thành, qua  đó  có  thể  kiểm sóat  chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất theo từng khu vực. Đề nghị thành phố nên nghiên cứu áp  dụng theo mô hình này trong công tác quản lý đô thị. 1.4. Ngoài ra, thành phố có thể ban hành quy định bắt buộc trong quy trình lập quy hoạch,  phải có sự tham vấn ý kiến của người dân tại chỗ, để góp phần bảo đảm tính khả thi trong   quy hoạch. 1.5. Cụ  thể có thể  ứng dụng trực tiếp từ  kết quả  nghiên cứu của  đề  tài về  lý thuyết vùng   ven mà đề tài đã đề xuất. Căn cứ theo lý luận về vùng ven, nhóm nghiên cứu đã tổng hợp  và đưa ra một cơ sở lý luận về vùng ven.  Đây là phương pháp có nhiều ưu điểm trong quy  hoạch và quản lý đô thị. Để có thể xếp loại một khu vực được gọi là vùng ven khi đáp ứng đầy đủ bốn tiêu chí như  sau:  a. Là khu vực tiếp giáp sát 13 Quận nội thành  b. Khu vực nằm chuyển tiếp giữa nội thành và ngoại thành. Tuy nhiên, vẫn có trường hợp   một số khu vực nằm trong quy hoạch là hướng phát triển chính của không gian thành phố,   nên có thể chuyển tiếp trực tiếp giữa nội thành và các tỉnh lân cận, mà không chuyển từ   nội tàhnh sang ngoại thành (VD: Quận 9, Quận Thủ Đức). c. Khu vực còn diện tích  đất nông nghiệp tối thiểu 10­30% trong tổng diện tích  đất tự   nhiên. Nói khác đi đây là khu vực còn nhiều đất dự trữ cho phát triển đô thị. d. Nơi diễn ra tốc độ đô thị hóa cao nhất so với toàn thành phố. Căn cứ  theo lý  thyết về  vùng ven và  các tiêu chí  xếp loại vùng ven như  trên  đã  đề  cập,   toàn bộ thành phố Hồ Chí Minh có thể được chia làm 3 khu vực chủ yếu như sau:  (1) Khu vực đô thị  (hay còn gọi vùng nội đô): là khu vực đã qua giai đoạn đô thị hóa,  đang là  khu  đô  thị  trung tâm bao gồm 13 Quận nội thành như  Quận 1,3,4,5,6,8, 10,11,   Phú Nhuận, Tân Bình, Tân Phú, Gò vấp, Bình Thạnh. Đây là khu vực cần tiếp tục khuyến 
  6. khích đô thị hóa theo hướng chỉnh trang và hiện đại hóa. Riêng Quận 8, tân bình, Gò Vấp  và Bình Thạnh, trước đây có thể xếp vào khu vực đô thị hóa đã TB,GV và BT  (2) Khu vực đô thị hóa (hay còn gọi vùng ven đô):  là khu vực đang trong quá trình đô  thị hóa, bao gồm chủ yếu 5 Quận mới (Quận 2,7,9,12 và Thủ đức) và Quận Bình Tân. Khu  vực này còn một số nơi còn mang  đặc  điểm bán thôn bán thị, nhưng  đang xảy ra tốc  độ   đô thị hóa rất nhanh. Do vậy, khu vực này có thể gọi là khu vực kiểm sóat đô thị hóa. Các   họat động đầu tư xây dựng phải được giám sát chặt chẽ, tránh để xảy ra tình trạng phát    triển tự phát, sau này chỉnh trang lại rất tốn kém.   (3) Khu vực ngoại thành (hay ngoại  ô):  là  khu vực có  diện tích  đất nông nghệip còn  nhiều, bao gồm các Huyện như Huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, nhà Bè và Duyện   hải.  Đây là khu vực giới hạn tối  đa  đô thị  hóa, cần hạn chế  tối  đa sự  phát triển  đô thị  tại   khu vực này.   Như vậy, theo lý thuyết về 3 khu vực như vậy, khu vực vùng ven là khu vực nằm tiếp giáp   giữa khu  đô  thị   đang  đô  thị  hóa mạnh và  khu hạn chế  tốc  độ   đô  thị  hóa. Theo phương   hpáp quy hoạch và quản lý như vậy, sẽ tập trung đầu tư trọng điểm vào khu vực vùng ven   (các Quận mới) và hạn chế phát triển đô thị ra xa hơn như khu vực ngọai thành. Sau một   thời gian, khu vực các Quận ven sẽ tiếp tục trở nên quá tải và khi đó các vùng đất dự trữ ở   khu vực ngọai thành sẽ tiếp tục cung ứng cho quá trình mở rộng nội thị ra xa hơn.  2. Giải pháp thứ hai: Nghiên cứu và ban hành một số quy định đặc thù và linh họat   và tạo động lực cho 5 Quận mới. 2.1. Có thể nghiên cứu và cải tiến thêm về thủ tục đầu tư khi giao cho các nhà đầu tư bất   động sản tại các Quận mới. Do  đặc  điểm của các Quận vùng ven, là  nơi cung  ứng quỹ   nhà cho thành phố, việc cải tiến quy trình thủ  tục cần  được nhanh gọn, tạo  điều kiện  ưu  tiên cho các nhà đầu tư xây dựng các khu nhà ở.  2.2. Cải tiến và bổ sung thêm những quy định trong công tác hỗ trợ, bồi thường tái định cư   sao cho hấp dẫn những hộ  bị  giải tỏa. Quy trình nên thống nhất giữa các dự   án  đầu tư   phát triển, không phân biệt dự   án ODA và  dự   án từ  vốn ngân sách nhà  nước. Hiện nay  thành phố  cũng  đang  đầu tư  nhiều trong cải tiến chính sách và  quy trình giải tỏa bồi  thường. 2.3. Ngoài ra, việc nghiên cứu ban hành các quy  định bổ  sung về  hiện tượng lấn chiếm  đất công cần  được kiên quyết và  triệt  để. Cần chú   ý  quản lý   đất công  ở  những khu vực   sông rạch, mương thoát nước, rất dể dẫn đến hiện tượng ngập úng sau khi mưa hoặc triều  cường.  3. Giải pháp thứ  ba: Củng cố  bộ  máy quản lý  và  cải tiến công tác thực hiện quy   hoạch  Đây là giải pháp cần thực hiện song song với 2 giải pháp trên.
  7. 3.1. Quy  định tổ  chức và cơ cấu bộ máy cấp phường Xã linh họat theo  đặc thù của từng  địa bàn. Do đặc thù mỗi Phường ở các Quận mới đều có đặc điểm khác nhau. Có một số   phường như  Phường an Phú  và  Thảo  Điền, hầu hết là  khu biệt thự  có  người nước ngoài  sinh sống. Điều cần thiết là bộ máy và đội ngũ cán bộ có thể phải tuyển chọn có trình độ   cao hơn những phường bình thường khác về kiến thức ngọai ngữ, luật lệ v.v… Đây là điều  kiện cần thiết để phát huy hiệu quả trong công tác quản lý Nhà nước trên địa bàn được tốt   hơn.   3.2. Công tác tăng cường nâng cao năng lực cho cán bộ chủ chốt ở Phường xã cũng cần   được quan tâm  đúng mức. Do công tác quản lý   đô  thị   ở  khu vực 5 Quận mới còn nhiều   phức tạp phát sinh về  số  lượng dân nhập cư  cũng như  việc vi phạm lấn chiếm  đất công  diễn ra hàng ngày v.v.., do vậy, đề nghị nên tập trung củng cố đào tạo và bồi dưỡng nhiều  hơn cho cán bộ quản lý cấp phường và cấp Quận ở các Quận mới.  Ngoài ra, bên cạnh các giải pháp mang tính  định hướng,  đề  tài còn xây dựng bộ  tiêu chí  theo dõi sự  biến  động KT­XH của các vùng ven theo 5 Nhóm chức năng vùng ven.  Đây  cũng là nhóm tiêu chí có thể cập nhật theo dõi sự biến động và đánh giá kết quả phát triển  của vùng ven nói chung trong thời gian tới. (Xem bảng) Chức năng Nhóm chỉ số đánh giá Chỉ tiêu đạt được năm 2004   (Tiếp tục theo dõi cập nhật)   1. Cung cấp đất   Diện tích đất NN giảm (ha) BQ/năm Giảm BQ 85,26  ha/năm  đai cho phát triển   Diện tích đất chuyên dùng (ha) Tăng BQ 58,2 ha/năm  quỹ nhà, đáp  Diện tích khu dân cư mới BQ/năm (ha) Tăng BQ 30 ha/năm   ứng nhu cầu nhà   DT đất khu CN đã hình thành  (ha) Đạt hơn 2.000 ha  ở trong nội thành   Số cơ sở SX nội thành di chuyển ra  Đạt 484 cơ sở /1.100 cơ sở   đã quá tải.     2. Chuyển dịch  Tăng trưởng kinh tế BQ/năm (1999­2004)   Tăng BQ 12­20%/năm  cơ cấu kinh tế,  Kinh tế khu vực II, III tăng cao Cơ cấu 3 khu vực NN >2% ,    tạo việc làm Phi  Mức sống dân cư tăng  N­XD: 83% và TMDV: 15%    NN tại chỗ  Giải quyết việc làm hàng năm BQ 45.000 việc làm/năm (5    Q) Tỷ lệ dân số phi NN gia tăng   Tăng thêm BQ từ 1­ 5%/năm  3. Vùng “đệm’   Tốc đô tăng dân số BQ vùng ven so với   Tăng BQ 7,14% so với 0,24%  thu hút bớt dân  nội thành và ngọai thành  và 5,03% nhập cư (không  Số lượng dân nhập cư BQ/năm   Tăng BQ 80.000 người/năm   vào nội thành) Tỷ lệ KT3&KT4 tại vùng ven  Chiếm tỷ lệ cao 45,7%   Mật độ dân cư tại vùng ven tăng BQ thêm 2.225 người/km2   Tỷ lệ LĐ nhập cư BQ/ Khu CN  Chiếm tỷ lệ 50­70%      
  8. 4. Đầu tư hạ tầng   DT cây xanh BQ/người tăng  Tăng thêm từ 2,3 m2/người  mới theo hướng   lên đến BQ 4 m2/người Tổng vốn đầu tư hạ tầng BQ/năm hiện đại hóa  500 tỷ đồng/năm Tỷ lệ vốn đầu tư hạ tầng so với QH 2010    thành phố, tăng    26­30%  KGCC 5. Trình độ  Tỷ lệ cán bộ Quận có bằng Đại học  Đạt mức 60­74%   nghiệp vụ cán bộ   Số cán bộ quản lý Quận / 100 dân   5 cán bộ/10.000 dân  có tăng qua các  năm    Hình thức: Báo cáo tóm tắt dài 37 trang, báo cáo tổng hợp tài 84 trang. Lưu trữ trên mạng LAN VKT và Thư viện VKT - VKT 16.05.2005 Năm hoàn thành: HT2005

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản