Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng Nhật Bản.

Chia sẻ: nthitra90

Nhật Bản là một đất nước của đảo nằm ở ngoài khơi phía Đông châu Á, chiếm chưa đẩy 0,3% tổng diện tích toàn thế giới. Khí hậu Nhật Bản ôn hòa, phong phú với lượng mưa nhiều đã góp phần làm nên một thảm thực vật khá đa dạng. Nhật Bản rất nghèo về tài nguyên khoáng sản. Hầu hết các nguyên vật liệu thiết yếu đều phải nhập từ nước ngoài. Hiện nay, Nhật Bản phải nhập khẩu hơn 99% nhu cầu về dầu thô; 100% khoáng sản bô xít dùng cho sản xuất nhôm, thép; hơn 97% than đá;... Nhưng Nhật...

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng Nhật Bản.

Những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng Nhật Bản

Nhật Bản là một đất nước của đảo nằm ở ngoài khơi phía Đông châu Á, chiếm chưa đẩy 0,3% tổng diện
tích toàn thế giới. Khí hậu Nhật Bản ôn hòa, phong phú với lượng mưa nhiều đã góp phần làm nên một
thảm thực vật khá đa dạng. Nhật Bản rất nghèo về tài nguyên khoáng sản. Hầu hết các nguyên vật liệu
thiết yếu đều phải nhập từ nước ngoài. Hiện nay, Nhật Bản phải nhập khẩu hơn 99% nhu cầu về dầu thô;
100% khoáng sản bô xít dùng cho sản xuất nhôm, thép; hơn 97% than đá;... Nhưng Nhật Bản vẫn là một quốc
gia có tiềm lực kinh tế, khoa học kỹ thuật, tài chính đứng thứ hai trên thế giới, sau Hoa Kỳ. Do đó, thị trường
Nhật Bản là khu vực thị trường xuất khẩu tiềm năng đối với nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam. Để xuất
khẩu hàng hóa vào thị trường này, nghiên cứu hành vi người tiêu dùng (consumerbehavior) là công việc có ý
nghĩa quan trọng. Hành vi người tiêu dùng là toàn bộ hành động mà người tiêu dùng bộc lộ ra trong quá trình
trao đổi sản phẩm, bao gồm: điều tra, mua sắm, sử dụng, đánh giá và



1. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng Nhật Bản.
Hành vi mua hàng người tiêu dùng Nhật Bản bị ảnh hưởng bởi rất nhiều các yếu tố bao
gồm:
1.1. Đặc điểm về dân cư
Thứ nhất, cơ cấu dân cư theo độ tuổi của Nhật Bản biến động theo xu hướng giảm tỷ lệ
trẻ em, thanh niên và số lượng người già ngày càng gia tăng.
Cơ cấu dân cư của Nhật Bản theo độ tuổi
(Đơn vị: 1.000 người)

Tổng số Dưới 15 tuổi 15-64 tuổi Trên 65 tuổi
Năm
SL % SL % SL %
1970 104.665 25.153 24,03 72.119 68,90 7.393 7,06
1980 116.989 27.507 23,51 78.835 67,38 10.647 9,10
1990 123.285 22.486 18,24 85.904 69,68 14.895 12,08
1995 125.440 20.014 15,95 87.165 69,49 18.261 14,55
2000 126.697 18.472 14,58 86.220 68,05 22.005 17,36
2001 127.291 18.273 14,36 86.139 67,67 22.869 17,96
2002 127.436 18.102 14,20 85.706 67,25 23.628 18,55
2003 127.629 17.905 14,03 85.404 66,92 24.310 19,05
2004 127.776 17.734 13,88 85.077 66,58 24.876 19,54
2005 127.757 17.618 13,79 84.815 66,39 25.325 19,82
2006 127.686 17.470 13,68 84.102 65,87 26.114 20,45
2007 127.771 17.293 13,53 83.015 64,97 27.463 21,50
Nguồn: Ministry of Internal Affairs and Communications, Population census of Japan, Japan
Staticstic Bureau.
Mỗi độ tuổi có một lối sống khác nhau, điều đó dẫn tới các khuynh hướng tiêu dùng khác
nhau. Dân số Nhật Bản đang già đi một cách đáng báo động. Nguyên nhân là do các phụ nữ Nhật
Bản hiện tại ít chịu sinh con (số con trung bình của một phụ nữ Nhật là 1,29 - thống kê của Chính
phủ năm 2003) và số người chọn cuộc sống độc thân ngày càng tăng. Nhưng cũng chính vì
nguyên nhân này mà trẻ em Nhật Bản ngày càng được dành nhiều ưu đãi hơn. Cũng vì ít con nên
người Nhật sẵn sàng bỏ tiền nhiều hơn cho các sản phẩm dành cho trẻ em. Hàng hóa dành cho
các em thường là đồ chơi, quần áo, sách vở,... Ở lứa tuổi thanh niên, học sinh trung học và sinh
viên Nhật Bản khá năng động. Ngoài thời gian học tại trường, họ thường đi làm thêm để trang trải
tiền mua phương tiện đi học, ăn uống, mua đĩa nhạc, xem phim ảnh và tham gia các hoạt động
trong dịp lễ và ngày nghỉ cuối tuần. Do đặc trưng của lứa tuổi, những người này dễ dàng chạy
theo mốt và không quan tâm lắm đến sự nổi tiếng của nhãn hiệu như người có tuổi. Một bước
chuyển biến quan trọng trong lứa tuổi này là lập gia đình. Do đó, thị trường tiêu dùng về tổ chức
đám cưới, du lịch tuần trăng mật và mua sắm đồ đạc cho gia đình mới cũng rất phát triển. Những
hàng hóa đó thường là đồ điện tử, đồ dùng gia đình như tủ lạnh, ti vi, lò vi sóng, đồ gỗ,... Luật của
Nhật Bản quy định 60 tuổi là tuổi về hưu, nhưng phần lớn sau đó họ tìm các công việc mới, 3/4
đàn ông từ 60 - 64 tuổi, 1/2 đàn ông từ 65 - 69 tuổi vẫn làm việc. Những người già có sức khỏe tốt
vẫn chơi các môn thể thao như bóng rổ và đi du lịch.
Cùng với việc tăng số lượng người già, thị trường tương lai cho các sản phẩm như thiết bị
bao vệ sức khỏe cũng phát triển.
Thứ hai, cơ cấu hộ gia đình Nhật Bản thay đổi, số lượng người sống độc thân ngày càng
nhiều làm cho cơ cấu hàng hóa phục vụ gia đình giảm.
Theo kết quả điều tra của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi xã hội Nhật Bản, số lượng người
trong một gia đình ngày càng giảm và số hộ độc thân ngày càng tăng lên do tỷ lệ kết hôn của
thanh niên Nhật có xu hướng giảm trong khi tỷ lệ ly hôn lại tăng lên.
Trong thập kỷ 70, số người bình quân trong một hộ gia đình của Nhật Bản là 3,32 thì đến
năm 2000 chỉ còn 2,7 và đến năm 2005 giảm xuống chỉ còn 2,58. Hiện nay, hộ gia đình chỉ có một
hoặc hai người chiếm tới 52,7% tổng số hộ gia đình tại Nhật Bản trong đó số hộ độc thân là
27,6%. Cơ cấu hộ gia đình thay đổi cũng kéo theo sự thay đổi trong cơ cấu tiêu dùng sản phẩm,
dịch vụ.
Thứ ba, tỷ lệ phụ nữ trong xã hội Nhật Bản cao hơn nam giới tuy nhiên sự chênh lệch
không nhiều và ổn định qua các năm.
Theo số liệu thống kê của Chính phủ Nhật Bản, năm 2000 tỷ lệ nam giới là 48,93%; phụ
nữ là 51,07% và đến năm 2007 tỷ lệ đó là 48,8% và 51,2% - đó là một sự thay đổi không đáng kể.
Phụ nữ Nhật Bản không có vai trò và địa vị cao như nam giới, đa số họ đều nghỉ việc sau khi kết
hôn hoặc sinh con và đảm nhiệm công việc gia đình. Tuy nhiên, trong gia đình, những bà nội trợ
lại là người kiểm soát ngân sách. Bên cạnh việc chăm sóc gia đình, các bà nội trợ có vai trò to lớn
trong việc kiểm soát ngân sách và ra quyết định cho hầu hết các cuộc mua sắm. Còn đàn ông
thường tự mua hàng hóa liên quan tới vẻ bề ngoài như đồng hồ, giày dép, các dụng cụ thể thao
và đồ phụ trợ... phục vụ cho bản thân mình. Họ cũng mua sắm các hàng hóa phục vụ cho sở
thích cá nhân như sách, thiết bị thu thanh, máy tính,... nhưng không quan tâm đến việc mua sắm
các nhu yếu phẩm hàng ngày - điều này thuộc về người phụ nữ.
1.2. Thu nhập và phân bổ chi tiêu
Nhật Bản là một nước phát triển có thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm cao nhất
thế giới hiện nay. Năm 2000, mức thu nhập bình quân đầu người của Nhật Bản là 38.360 USD,
đứng thứ 19 trên thế giới về con số tuyệt đối và thứ 31 trên thế giới nếu tính theo sức mua. Thu
nhập của người Nhật, bên cạnh lương tháng, hầu hết người lao động được thưởng một năm hai
lần. Tiền thưởng mỗi lần bằng khoảng 1 đến 3 tháng lương. Đối với người lao động, các chi phí
sinh hoạt bình thường hàng ngày được thanh toán từ lương tháng còn tiền thưởng dùng tiết kiệm
hay chi cho mua sắm tốn kém và trả tiền vay ngân hàng. Tiền thưởng được phát vào tháng 6 hoặc
tháng 7 và tháng 12 hàng năm, góp phần tạo ra hai đỉnh điểm về sức mua trong năm. Chính vì
vậy, thời gian nhận tiền thưởng cũng là thời kỳ có nhiều cơ hội bán hàng nhất, cả hàng nội địa lẫn
hàng ngoại nhập. Ngoài lương và thưởng, người lao động còn được nhận một khoản phúc lợi của
công ty. Tất cả các khoản thu nhập tạo nên ngân sách gia đình.
Với tổng thu nhập cao như vậy, người tiêu dùng Nhật Bản dành một khoản tiền tương đối
lớn hàng năm để chi tiêu cho tiêu dùng hàng ngày (theo thống kê thì hơn 70% thu nhập của ngân
sách gia đình Nhật Bản dùng để trang trải các chi phí sinh hoạt) và trong những năm gần đây tỷ
trọng tiêu dùng trong thu nhập của người Nhật có xu hướng tăng lên, trong khi tỷ lệ tiết kiệm có xu
hướng giảm đi. Ta có bảng số liệu về chi tiêu hàng năm của hộ gia đình Nhật Bản.
Bảng: Cơ cấu chi tiêu của hộ gia đình Nhật Bản
(Đơn vị: Yên Nhật)

Tổng Chỉ tiêu cụ thể (%)
Năm
chỉ tiêu
Chỉ Thực Nội Quầ Y tế
Nhà Nhiên Giáo Giao Chi
phẩ ở liệu, thất dục
tiêu n áo, thông, tiêu
điện, viễn
bình m và giày khác
nước đồ
quân dép thông
đầu dùng
người gia
đình
1990 311,174 87.408 25,37 4,76 5,51 3,98 7,38 2,85 4,65 9,47 36,02
1995 329,062 96.217 23,67 6,49 6,05 3,81 6,15 2,99 4,67 10,02 36,15
2000 317,328 95.869 23,31 6,47 6,82 3,47 5,09 3,58 4,39 11,47 35,42
2001 309,054 94.224 23,22 6,37 6,97 3,61 4,87 3,75 4,18 11,81 35,22
2002 305,953 94.430 23,27 6,52 6,92 3,43 4,73 3,79 4,20 11,96 35,16
2003 301,841 93.739 23,16 6,63 6,93 3,42 4,59 4,12 4,31 12,40 34,43
2004 302,975 94.976 22,99 6,35 6,94 3,28 4,42 4,04 4,37 12,87 34,76
2005 300,531 94.805 22,86 6,41 7,15 3,34 4,44 4,33 4,15 12,88 34,44
2006 294,943 93.336 23,09 6,14 7,55 3,30 4,33 4,34 4,29 12,84 34,12
2007 297,782 94.835 23,02 6,02 7,31 3,26 4,34 4,40 4,28 12,79 34,58
Nguồn: Family Income and Expenditure Survey, Japan Staticstic Bureau
Trong những năm cuối của thập niên 90, chi tiêu của hộ gia đình Nhật Bản đã giảm liên
tục và sang những năm đầu thế kỷ 21 vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi do tình hình kinh tế suy yếu
và thu nhập không ổn định: mức suy giảm là 2,2% năm 1998; 1,2% năm 1999; 0,9% năm 2000;
1,2% năm 2001; 0,8% năm 2002; 1,3% năm 2003. Sang năm 2004 mức chi tiêu đã tăng lên nhưng
không đáng kể (0,4%) sau đó lại tiếp tục giảm trong năm 2005 và 2006 (0,8% và 1,9%). Tuy nhiên,
năm 2007 chi tiêu của các hộ gia đình Nhật Bản đã có bước khởi sắc với mức tăng 1% so với năm
2006.
Tuy chi tiêu của hộ gia đình suy giảm nhưng do quy mô hộ gia đình có xu hướng nhỏ đi
nên xét trên bình diện chi tiêu bình quân đầu người thì không có sự thay đổi đáng kể, các năm tuy
tăng giảm không đều.
Trong cơ cấu chi tiêu của người Nhật Bản, chi tiêu cho thực phẩm vẫn chiếm tỷ lệ cao
nhất, trước năm 2005 tỷ trọng của nhóm hàng thực phẩm có xu hướng giảm dần (từ 25,37% năm
1990 xuống còn 22,86% năm 2005) nhưng sang năm 2006, 2007 đã tăng cao hơn so với năm
2005 (23,09% năm 2006 và 23,02% năm 2007). Sau thực phẩm là chi tiêu cho đi lại. Trái với xu
hướng giảm của nhóm thực phẩm, chi tiêu cho đi lại của các hộ gia đình Nhật Bản lại có xu
hướng tăng lên trong những năm vừa qua, trong thập kỷ 90, tỷ lệ này là 9 -11% và hiện nay đã
tăng lên gần 13% trong mấy năm gần đây (năm 2007 tỷ lệ này là 12,79%). Đối với các loại chi tiêu
khác, chi tiêu cho quần áo, giày dép và đồ gia dụng giảm trong khi chi tiêu cho nhiên liệu, điện,
nước, nhà ở và các chi tiêu khác biến động không nhiều.
1.3. Văn hóa và trình độ văn hóa
Đặc điểm nổi bật của văn hóa - xã hội Nhật Bản là sự tồn tại song song giữa các yếu tố
truyền thống và yếu tố hiện đại. Sự kết hợp đó có thể thấy được qua lối sống của người Nhật.
Các ngôi nhà Nhật Bản truyền thống thường tồn tại bên cạnh các ngôi nhà hiện đại mang phong
cách phương Tây. Ngoài ra, nó còn được thể hiện qua thực phẩm của người Nhật Bản. Ngày nay
các gia đình hầu như ăn kết hợp cả món ăn thuần Nhật và món ăn theo kiểu Tây. Nhìn chung, giới
trẻ có xu hướng thích ăn đồ Tây hơn vì nó vừa phong phú vừa tiện lợi, còn người già vẫn có xu
hướng thích các món ăn Nhật hơn. Tất cả tạo nên sự kết hợp hài hòa giữa cái cũ, cái mới và là nét
đặc trưng chỉ tìm thấy tại Nhật Bản.
Nhật Bản có nhiều loại tôn giáo khác nhau, từ tôn giáo thực hành như Đạo Thần (Shinto)
đến các tôn giáo dân gian truyền thống, không có tôn giáo nào giữ vai trò chi phối trong xã hội. Vì
thế, thị trường Nhật Bản khá đa dạng và phong phú về nhu cầu.
Nhật Bản là một trong những nước dân cư có trình độ học vấn cao nhất thế giới với 99%
số dân biết chữ và 90% dân số thuộc tầng lớp trung lưu. Có thể nêu ra một vài đặc trưng trong
tính cách của Nhật Bản như sau:
- Tính thực tế: người Nhật Bản là những người rất thực tế, ít mơ mộng viển vông, có cái
nhìn khá chính xác và không huyễn hoặc về những gì đất nước họ có. Người Nhật Bản từ rất lâu
đã công khai khi nói về sự nghèo nàn tài nguyên của đất nước mình và luôn chủ trương xây dựng
đất nước bằng sự tiết kiệm và kiến thức.
- Tính tiết kiệm: tiết kiệm và căn cơ là một trong những đặc tính của người dân Nhật. Mức
tiết kiệm của người Nhật cao nhất thế giới, có những thời điểm chiếm tới 25% thu nhập. Người
Nhật luôn có tâm lý trân trọng của cải và luôn cảm thấy phải tiêu dùng đúng mức. Họ sẽ cảm thấy
lãng phí hay đúng hơn là thiếu sự trân trọng (mottanai) nếu ném bỏ vật gì đi chỉ vì nó đã cũ, nếu
sử dụng chúng không cẩn thận. Họ cũng quan niệm rằng chi tiêu nhiều hơn mức cần thiết cũng là
thiếu sự trân trọng. Điều này cũng có thể thấy qua cuộc sống hàng ngày của người nhật. Thông
thường nhà ở Nhật nhỏ hẹp, vì thế họ cố gắng làm sao tiết kiệm diện tích tối đa và sử dụng sản
phẩm càng nhiều tính năng, càng tiện dụng càng tốt. Cho nên, dòng điện thoại di động do Công ty
NTT tung ra thị trường Nhật Bản đầu năm 2003 có rất nhiều chức năng: có thể kết nốimạng
internet tốc độ cao, nghe nhạc và nhiều chức năng khác. Hình dáng sản phẩm giống như một
chiếc đồng hồ đeo tay, rất tiện lợi và nhanh chóng được ưa chuộng, mặc dù giá của chúng không
hề rẻ. Cũng như vậy, các hãng ôtô của Mỹ hầu như không thâm nhập được vào thị trường Nhật vì
ôtô của các hãng sản xuất của Nhật nhỏ gọn hơn, phù hợp với đường phố Nhật, ít gây ô nhiễm
môi trường và có nhiều chức năng hỗ trợ khi ngồi trên xe.
- Óc thẩm mỹ và tính cầu toàn: người Nhật có xu hướng ưa chuộng những thứ cầu kỳ và
tinh xảo. Có thể nhận thấy các sản phẩm Made in Japan đều có một sự hoàn hảo đáng kinh ngạc.
Đối với những người sản xuất, họ cố gắng để làm sản phẩm hoàn hảo tới mức có thể. Một người
đan quạt tre ngắm đi ngắm lại xem cái quạt của mình làm đã cân đối chưa, có phải trau chuốt gì
không, mặc dù khi làm vậy anh ta sẽ mất nhiều thời gian hơn, đồng nghĩa với việc lợi nhuận thu
về ít hơn.
- Tính hiếu kỳ và nhạy cảm với văn hóa nước ngoài: không dân tộc nào nhạy bén với văn
hóa nước ngoài như người Nhật. Họ không ngừng theo dõi những biến động của tình hình bên
ngoài, đánh giá và cân nhắc những ảnh hưởng của các trào lưu và xu hướng chính đang diễn ra
với đất nước. Và nếu họ phát hiện trào lưu nào đang thắng thế thì họ có xu hướng sẵn sàng học
hỏi, nghiên cứu để bắt kịp trào lưu đó. Chính tính hiếu kỳ và óc cầu tiến của người Nhật là động
lực thúc đẩy họ bắt kịp với các nước tiên tiến.
- Ý thức tôn trọng những giá trị truyền thống: người Nhật có ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc
rất cao. Những ngành nghề truyền thống không những không giảm đi mà còn ngày càng được cải
tiến và trở nên tinh tế hơn. Những công ty thành công tại Nhật phần lớn đều có những cải tiến sản
phẩm của mình cho phù hợp với văn hóa Nhật. Công ty General Miks đưa vào thị trường Nhật Bản
bột làm bánh Betty Cracker, loại bột này đã thành công ở một số nước Châu Á vì chế biến đơn
giản, có thể nấu thành bánh ngay trong nồi cơm điện. Nhưng loại bột này đã hoàn toàn thất bại tại
thị trường Nhật Bản. Lý do là các bà nội trợ Nhật rất coi trọng sự tinh khiết trong nồi cơm của họ
và cho rằng mùi bánh sẽ làm hỏng sự tinh khiết đó.
2. Hành vi của người tiêu dùng Nhật Bản
Nhật Bản là một quốc gia coi trọng tính truyền thống của cộng đồng hơn là của cá nhân.
Đặc điểm của người tiêu dùng Nhật Bản là tính đồng nhất, 90% dân số Nhật Bản là thuộc tầng
lớp trung lưu và đặc trưng này cũng góp phần tạo ra tính đồng nhất của xã hội Nhật Bản. Người
tiêu dùng Nhật Bản cũng có những đặc điểm chung trong hành vi tiêu dùng của mình.
- Đòi hỏi cao về chất lượng: Sống trong môi trường có mức sống cao nên người tiêu dùng
Nhật Bản đặt ra những tiêu chuẩn đặc biệt chính xác về chất lượng, độ bền, độ tin cậy và sự tiện
dụng của sản phẩm. Đối với người tiêu dùng Nhật, giá cả là một tín hiệu của chất lượng. Họ sẵn
sàng trả giá cao hơn một chút cho những sản phẩm có chất lượng tốt ví dụ như những sản phẩm
có hương vị hấp dẫn và tươi mới còn những sản phẩm chất lượng thấp thì dù rẻ người Nhật cũng
không mua. Yêu cầu về chất lượng còn bao gồm các dịch vụ hậu mãi như bảo hành, thời gian
khắc phục lỗi của sản phẩm... Một đặc điểm của người Nhật Bản là coi trọng các tiêu chuẩn Nhật
Bản, tiêu biểu là tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản (JAS) và tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản
(JIS). Chúng được coi trọng hơn cả các tiêu chuẩn quốc tế.
- Nhạy cảm với giá cả tiêu dùng hàng ngày: Người tiêu dùng Nhật Bản không chỉ yêu cầu
hàng chất lượng cao, bao bì đảm bảo, dịch vụ bán hàng và dịch vụ sau bán hàng tốt mà còn
muốn mua hàng với giá cả hợp lý. Những năm 80, người Nhật sẵn sàng bỏ nhiều tiền để mua
những hàng hóa cao cấp có nhãn mác nổi tiếng, nhưng từ sau khi nền "kinh tế bong bóng" sụp đổ
năm 1991, nhu cầu hàng hóa rẻ hơn đã tăng lên. Tuy nhiên, người tiêu dùng Nhật Bản vẫn có thể
trả tiền cho những sản phẩm sáng tạo, chất lượng tốt mang tính thời thượng hay loại hàng được
gọi là "hàng xịn". Tâm lý này cho đến nay vẫn không thay đổi nhiều lắm. Các bà nội trợ Nhật Bản
vẫn đi chợ hàng ngày, họ là lực lượng quan trọng ảnh hưởng đến thị hiếu tiêu dùng, họ hay để ý
đến biến động giá và các mẫu mã mới. Người Nhật sẽ trả tiền để mua các hàng hóa có nhãn hiệu
nổi tiếng, có chất lượng cao và thể hiện địa vị. Khách hàng có xu hướng ngày càng quan tâm đến
việc mua các nhãn hàng hóa có chất lượng và giá trị.
- Thời trang và thị hiếu về màu sắc: Người tiêu dùng Nhật Bản ngày nay có xu hướng mua
các hàng hóa khác nhau nhưng có cùng công dụng. Hàng hóa thời trang nhập khẩu được ưa
chuộng là các nhãn hiệu nổi tiếng và có chất lượng. Trong khi ý thức về sự ưa chuộng các nhãn
hiệu ở Nhật vẫn phổ biến thì giới thanh niên Nhật Bản ngày càng thiên về xu hướng căn cứ vào
chất lượng và giá cả để mua hàng. Ở các gia đình truyền thống, người ta thích mầu nâu đất của
nệm rơm và sàn nhà. Đối với thời trang của nữ thanh niên, màu sắc thay đổi tùy thuộc theo mùa.
- Người Nhật rất nhạy cảm với những thay đổi theo mùa: Các nhà nhập khẩu Nhật Bản
quan tâm nhiều hơn đến việc nhập được những sản phẩm hợp thời trang và hợp mùa vụ nhằm
đáp ứng nhu cầutiêu dùng, mua sắm. Nhật Bản có 4 mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông, mùa hè nóng
và ẩm ướt, mùa đông lạnh và khô. Quần áo, đồ dùng trong nhà, thực phẩm là những mặt hàng
tiêu dùng có ảnh hưởng theo mùa. Việc bao gói sản phẩm phải bảo vệ được sản phẩm trong
những điều kiện thời tiết khắc nghiệt nhất. Cùng với tác động của khí hậu, yếu tố tập quán tiêu
dùng cũng cần phải được nghiên cứu và tham khảo trong kế hoạch khuếch trương thị trường tại
Nhật Bản. Hầu như các gia đình Nhật không có hệ thống sưởi trung tâm và để bảo vệ môi trường,
nhiệt độ điều hòa trong nhà luôn được khuyến khích không để ở mức quá ấm (nhiệt độ cao) hoặc
quá mát, bởi vậy quần áo trong nhà mùa đông của người Nhật phải dầy hơn quần áo dùng trên thị
trường Mỹ, hoặc áo có lót là không phù hợp trong mùa hè. Thời trang phải phù hợp với từng mùa
cả về mặt chất liệu và kiểu dáng. Khi xây dựng kế hoạch bán hàng, các doanh nghiệp phải tính
đến cả sự khác biệt về thời tiết.
- Người tiêu dùng Nhật Bản ưa chuộng sự đa dạng của sản phẩm. Hàng hóa có mẫu mã
đa dạng phong phú thu hút được người tiêu dùng Nhật Bản. Bởi vậy nhãn hiệu hàng có kèm theo
những thông tin hướng dẫn tiêu dùng là rất quan trọng để đưa hàng của bạn tới người tiêu dùng.
Người Nhật thường chỉ mua sản phẩm với số lượng ít vì không gian chỗ ở của họ tương đối nhỏ
và còn để tiện thay đổi cho phù hợp mẫu mã mới. Người Nhật đặc biệt ưa thích những hàng thủ
công mỹ nghệ tinh xảo và thực sự được làm bằng phương pháp thủ công và chuộng các loại quà
tặng và các sản phẩm trang trí nội thất được sản xuất bằng thủ công với các loại nguyên liệu tự
nhiên, phản ánh truyền thống và văn hóa đặc thù của các nước châu Á.
- Quan tâm đến môi trường sinh thái: Gần đây, mối quan tâm đến các vấn đề ô nhiễm môi
trường ngày càng cao đã nâng cao ý thức sinh thái và bảo vệ môi trường của người tiêu dùng. Các
cửa hàng và doanh nghiệp đang loại bỏ việc đóng gói quá dáng, các vỏ sản phẩm được thu hồi và
tái chế, các sản phẩm dùng 1 lần ngày càng ít được ưa chuộng.
- Mua sắm thường xuyên tại các cửa hàng bán lẻ: Hệ thống phân phối hàng hóa của Nhật
Bản có nhiều cửa hàng bán lẻ, với mật độ dày đặc nhưng quy mô nhỏ, nằm ở vùng đông dân cư
và kinh doanh nhiều loại mặt hàng như: thực phẩm, may mặc và các loại hàng hóa tiêu dùng khác.
Với mật độ dân cư đông đúc (342 người/km2 - xếp thứ tư trên thế giới), các cửa hàng bán lẻ là
điểm mua sắm ưa thích, người tiêu dùng không phải lái xe đến các vùng ngoại ô xa xôi, nơi có các
siêu thị lớn. Ngoài ra, diện tích sinh hoạt của người Nhật Bản rất hạn chế, không có nhiều chỗ để
dự trữ nên họ đi chợ mua sắm các loại thực phẩm và tạp phẩm thường xuyên hơn.
- Phụ nữ Nhật nắm quyền quyết định trong việc mua hàng. Phụ nữ Nhật Bản nắm mọi chi
tiêu trong gia đình, nắm giữ phần tài chính của gia đình nên họ rất chịu mua sắm. Tại các siêu thị
và các cửa hàng thời trang, người chồng muốn mua loại cà vạt nào hay bộ quần áo nào, quyết
định cuối cùng vẫn là người vợ. Đối với đồ điện tử gia dụng, thậm chí cả mua xe hơi cũng vậy.
Đàn ông Nhật thường chỉ chi tiêu cho những hàng hóa thuộc về sở thích cá nhân như máy tính,
điện thoại, tai nghe, sách,... Do vậy, một sách lược nên sử dụng cho thị trường bán lẻ Nhật Bản là
nhằm vào phụ nữ, sản phẩm phải "nữ tính" một chút hoặc là phải thiết kế hợp mắt phụ nữ, ví dụ
như Công ty ôtô Suzuki chuyên thiết kế loại xe hiệu Alto có ghế xoay tròn, để tiện cho phụ nữ
Nhật mặc Kimono có thể ra vào dễ dàng.




THẾ GIỚI QUẢN TRỊ 
KIẾN THỨC QUẢN TRỊ

Marketing hướng tới người tiêu dùng tương lai
Thứ Ba, 09/06/2009 11:17 (GMT+7)
Trong cuộc hội thảo về marketing cho trẻ em gần đây, Công ty Nghiên cứu thị trường TNS 
đã  công bố, bốn năm trước, các chiến dịch marketing chủ  yếu tập trung vào người tiêu  
dùng trưởng thành, thì  bây giờ  lại hướng vào trẻ  em. Nói cách khác, trẻ  em chính là  thị 
trường tương lai và VN cũng không nằm ngoài xu hướng này.




Trẻ có thể tự quyết định việc mua hàng.

NGƯỜI QUYẾT ĐỊNH MUA HÀNG

Các bậc cha mẹ  là  những người nắm giữ  hầu bao, quyết  định việc chi tiêu nhưng trẻ  em lại có  
“quyền lực” rất lớn bởi khả năng tác động đến quyết định của bố mẹ.

Theo một nghiên cứu của AC Nielsen, hai phần ba trẻ  em  ảnh hưởng  đến việc quyết  định của  
người mẹ, nếu trẻ không thích thì mẹ sẽ không mua nữa.

Trẻ  còn có thể tự mua trực tiếp (23% trẻ dưới 8 tuổi tự mua sữa ­ cũng theo một nghiên cứu của  
AC Nielsen). Đồng thời, những thói quen, hành vi tiêu dùng, khả năng nhận diện thương hiệu của  
trẻ hôm nay sẽ còn tiếp tục ảnh hưởng cho đến tuổi trưởng thành.

Nếu các bậc phụ huynh luôn quan tâm đến giá cả, chất lượng, công nghệ cao của sản phẩm, thì 
trẻ em lại thích những thứ màu sắc, hình dạng bắt mắt và bị ảnh hưởng nhiều từ các chương trình  
quảng cáo trên tivi.

Chính vì   điều này, các nhà  sản xuất không chỉ  luôn phải bám sát thị trường, chú  trọng  đến chất 
lượng sản phẩm, mà còn phải làm cho bao bì trông thật hấp dẫn và khác biệt.

Bên cạnh  đó, quảng cáo có  ảnh hưởng rất lớn và  là yếu tố  hàng đầu tác động đến chọn lựa của  
các em. Xem quảng cáo, trẻ có thể đòi cha mẹ mua cho bằng được một sản phẩm nào đó.
Trong các loại hình quảng cáo, quảng cáo truyền hình tác  động tích cực nhất. Trẻ  dễ  bị thu hút 
bởi những hình  ảnh bắt mắt,  âm thanh sống  động trên truyền hình cùng những nhân vật trong 
phim hoạt hình...

Do  đó, muốn tiếp cận trẻ  em, các chuyên gia tiếp thị xem quảng cáo là  công cụ  hữu hiệu nhất.  
Theo thống kê  của AC Nielsen, 83% trẻ  em bị  tác  động bởi loại hình quảng cáo này, trong khi 
cách trưng bày sản phẩm trong các cửa hàng tác động chỉ 46%.




HIỂU VÀ LẮNG NGHE NHÓM KHÁCH HÀNG MỤC TIÊU

Người tiêu dùng ngày càng phải tiếp nhận nhiều thông tin nên nhà  sản xuất phải thực sự  hiểu  
thương hiệu dành cho  đối tượng khách hàng nào,  để  tạo ra sản phẩm và  chiến lược quảng cáo  
phù hợp.

Chiến lược marketing toàn cầu của những nhãn hiệu nổi tiếng có thể sẽ không còn hiệu quả nếu 
áp dụng máy móc cho thị trường VN, cũng như  cách thức tiếp thị các nhóm tuổi khác nhau phải 
khác nhau.

Trong việc chinh phục khách hàng trẻ em, nhiều nhãn hiệu trên thế giới ngày càng chú trọng việc 
đóng gói sản phẩm giống  đồ  chơi hay những con thú.  Đối với trẻ, việc mua hàng không chỉ   đơn  
thuần là  tiêu dùng, mà  còn là  niềm vui. Một bà  mẹ  khi chọn mua hàng thường nghĩ   đến con và  
suy nghĩ rằng con sẽ thích thú với những sản phẩm ngộ nghĩnh này.

Hình ảnh bên ngoài sản phẩm có  thể  khiến  đứa trẻ  đòi mẹ mua chỉ vì  thích hay thấy “bạn con ở 
trường uống hộp sữa có hình giống như vậy”. Bên cạnh đó, những thông tin trên bao bì sản phẩm 
cần rõ ràng, dễ hiểu và chú trọng vào các yếu tố chính để tạo sự tin tưởng với người mẹ.
Thị trường VN phát triển nhanh, các nhà  sản xuất  đang cạnh tranh trong từng nhãn hiệu cụ  thể, 
người tiêu dùng luôn mong muốn “tìm  điều gì   đó khác biệt”, trẻ  em cũng mong muốn  điều gì   đó  
mới mẻ và tốt hơn. Chính vì vậy, các nhà sản xuất cần lắng nghe các nhóm khách hàng mục tiêu,  
trong đó có trẻ em và nhìn thị trường qua con mắt trẻ thơ nhiều hơn nữa.

Chẳng hạn, thị  trường sữa và  nước giải khát ­ một trong những lĩnh vực sôi  động nhất của thị  
trường VN ­ các nhà truyền thông, bán lẻ cần phải nghiên cứu thực tế để biết cha mẹ hay trẻ em 
là người quyết định mua hàng để có cách thức tiếp cận hiệu quả nhất.




có nhiều nguyên nhân gây cản trở quyết định của người mua hàng: - giá cả của

hàng hóa đó: giá hàng hóa cao so với thu nhập thực tế của người mua hàng.
hoặc thấp hơn các hàng hóa cùng loại khác nhiều khi gây tâm lý ko tin tưởng
cho người mua hàng từ đó làm giảm mong muốn mua hàng.
-chất lượng của hàng hóa ko đảm bảo.
- hàng hóa đưa ra ko đúng thời điểm, ko phù hợp với từng đối tượng khách
hàng.
- yếu tố cạnh tranh của các hàng hóa khác.
Doanh nghiệp phải làm gì?
trước hết phải nói rằng giảm giá hàng hóa ko phải là biẹn pháp tối ưu vì nó
thực chất ko hoàn toàn mang lại hiệu quả tăng lợi nhuận , thậm chí là ngược
lại.
DN phải điều chỉnh về khâu sản xuất, mẫu mã, tiến hành điều tra về tâm lý
người tiêu dùng.
Quảng bá hình ảnh sản phẩm như quảng cáo tiếp thị,dịch vụ chăm sóc khách
hàng.....
Đặt các mức giá phù hợp với đối tượng người tiêu dùng ở các mức thu nhập
khác nhau
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản