Cao huyết áp

Chia sẻ: Kim Tuyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

0
260
lượt xem
144
download

Cao huyết áp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cao huyết áp Giới thiệu về cao huyết áp Sự tăng huyết áp tâm thu hay huyết áp tâm trương làm tăng nguy cơ bệnh tim, bệnh thận, làm nặng thêm bệnh lý mạch máu, tổn thương mắt, đột quị (tổn thương não). Những biến chứng của cao huyết áp thường tác động đến cơ quan đích vì tổn thương những cơ quan này là kết quả cuối cùng của tình trạng áp lực máu cao kéo dài. Do đó, chẩn đoán huyết áp cao ở một cá nhân rất quan trọng để cố gắng giữ huyết áp mức bình thường,...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Cao huyết áp

  1. Cao huyết áp Giới thiệu về cao huyết áp Sự tăng huyết áp tâm thu hay huyết áp tâm trương làm tăng nguy cơ bệnh tim, bệnh thận, làm nặng thêm bệnh lý mạch máu, tổn thương mắt, đột quị (tổn thương não). Những biến chứng của cao huyết áp thường tác động đến cơ quan đích vì tổn thương những cơ quan này là kết quả cuối cùng của tình trạng áp lực máu cao kéo dài. Do đó, chẩn đoán huyết áp cao ở một cá nhân rất quan trọng để cố gắng giữ huyết áp mức bình thường, và bằng cách đó, ngăn ngừa các biến chứng. Huyết áp được đo như thế nào? Áp lực máu được đo bằng dụng cụ nhỏ, gọn gọi là huyết áp kế. Huyết áp kế cơ bản bao gồm 1 bơm khí, 1 đồng hồ đo áp lực, và 1 túi hơi. Dụng cụ này ghi nhận huyết áp bằng đơn vị gọi là mmHg (milimet thuỷ ngân) Túi hơi được bao lấy cánh tay và bơm phồng lên đến 1 áp lực có thể cản trở dòng máu ở động mạch chính (ÐM cánh tay) đi qua cánh tay. Sau đó, xả áp lực trong túi hơi và trên ÐM giảm dần. Khi áp lực giảm dần, nhân viên y tế sẽ nghe bằng ống nghe ngay trên ÐM ở khuỷu tay. Áp lực mà nhân viên y tế nghe mạch lần đầu là huyết áp tâm thu. Khi áp lực túi hơi giảm hơn nữa,áp lực tại đó mạch ngưng là huyết áp tâm trương. Huyết áp bình thường Mặc dù các công ty bảo hiểm, hoàn toàn có lý khi xem huyết áp cao >= 140/90mmHg nhưng mức độ này không thích hợp với tất cả cá nhân. Thực ra, nhiều chuyên gia về cao huyết áp thấy rằng áp lực máu là 1 con số thay đổi, từ ngưỡng thấp đến cao. Là biến số hàm ý không có 1 giới hạn chính xác, rõ ràng để phân chia huyết áp bình thường và huyết áp cao. Ở vài người, trị số huyết áp thấp hơn 140/90 có thể vẫn phù hợp với ngưỡng bình thường. Ví dụ, trong vài trường hợp như bệnh nhân bệnh thận mãn tính bị mất protein qua nước tiểu (tiểu đạm ), huyết áp lý tưởng giữ ở trị số 125/75 hay thấp hơn. Mục đích của việc hạ huyết áp ở những bệnh nhân này là làm chậm tiến triển suy thận. Bệnh nhân tiểu đường cũng vậy, huyết áp nên giữ ở mức
  2. Cao huyết áp tâm thu là gì? Nên nhớ là huyết áp tâm thu là trị số áp huyết cao nhất và đại diện cho áp lực tại động mạch khi tim co bóp và bơm máu vào tuần hoàn. Huyết áp tâm thu thường >140mmHg xem như cao, đặc biệt kết hợp huyết áp tâm trương cao (> 90mmHg). Tuy nhiên, cao huyết áp tâm thu đơn thuần được định nghĩa khi áp lực tâm thu >160mmHg với áp lực tâm trương vẫn < 90mmHg. Rối loạn này trước hết tác động ở những người già, và đặc trưng bởi áp lực mạch tăng. Áp lực mạch được định nghĩa là độ chênh lệch giữa huyết áp tâm thu và tâm trương. Sự tăng áp suất tâm thu mà không tăng áp suất tâm trương, như trong cao huyết áp tâm thu đơn thuần thì sẽ làm tăng áp lực mạch. Ngày xưa xem như vô hại nhưng bây giờ tăng áp lực mạch là một vấn đề sức khoẻ tương lai. Nói cách khác, áp lực mạch cao xem như dấu hiệu báo trước quan trọng chỉ ra tổn thương ở cơ quan đích một cách tiềm ẩn. Vì vậy, cao huyết áp tâm thu đơn thuần làm tăng nguy cơ 2-4 lần lớn tim, nhồi máu cơ tim, đột quị (tổn thương não) và chết vì bệnh tim hay đột quị. Những nghiên cứu lâm sàng ở bệnh nhân bị cao huyết áp tâm thu đơn thuần cho thấy giảm huyết áp tâm thu ít nhất 20mmHg xuống
  3. C.H.A giới hạn được định nghĩa là tình trạng đôi khi cao huyết áp nhẹ >140/90mmHg, đôi lúc lại thấp hơn. Ở người lớn tuổi, huyết áp tâm thu cao hơn một chút, khoảng 140 đến 160mmHg, xem như là huyết áp giới hạn, miễn là huyết áp tâm trương < 90mmHg. Như trong trường hợp cao huyết áp áo choàng trắng, bệnh nhân với huyết áp giới hạn cần lấy huyết áp trong nhiều điều kiện khác nhau và tổn thương cơ quan đích của họ được đánh giá để biết khi nào tình trạng cao huyết áp của họ có ý nghĩa. Hãy nhớ là những người cao huyết áp giới hạn có xu hướng, khi họ già thì huyết áp họ ngày càng cao và duy trì liên tục. Do đó họ thật sự có nguy cơ cao bệnh tim mạch. Bởi vậy ngay lúc ban đầu khi cao huyết áp chưa có ý nghĩa thì ở những người cao huyết áp giới hạn can được tiếp tục theo dõi và tầm soát những biến chứng của cao huyết áp. Nếu suốt thời gian theo dõi bệnh nhân cao huyết áp giới hạn, huyết áp của họ ở mức ổn định cao >140/90mmHg, thì chỉ định thuốc hạ áp thường bắt đầu. Tuy nhiên, nếu huyết áp tâm trương còn ở giới hạn (thường < 90mmHg và ổn định >85) thì điều trị có thể thực hiện ở vài tình huống (Xem điều trị cao huyết áp). Nguyên nhân cao huyết áp ? Hai dạng áp lực máu cao được mô tả: cao huyết áp nguyên phát và thứ phát. Cao huyết áp nguyên phát phổ biến hơn chiếm 95% dân số bị huyết áp cao. Nguyên nhân cao huyết áp nguyên phát chưa rõ. Trong cao huyết áp thứ phát, chiếm 5% trường hợp, huyết áp cao do bất thường đặc hiệu ở một trong những cơ quan, hệ thống cơ thể (Cao huyết áp thứ phát được bàn luận rõ hơn trong những phần dưới đây). Cao huyết áp nguyên phát xuất hiện ở khoảng 75 triệu người Mỹ, xin lưu ý nguyên nhân cơ bản vẫn chưa biết. Tuy nhiên nhiều hiệp hội vẫn chấp nhận người cao huyết áp nguyên phát. Ví dụ như trong nhóm hay tập hợp những người có mức tiêu thụ muối cao, vượt quá 5.8 gram/ngày. Thật ra, việc dùng muối có thể là một yếu tố quan trọng liên quan đến cao huyết áp nguyên phát trong một số tình huống khác nhau. Vì vậy, dùng muối quá mức có lẽ liên quan đến cao huyết áp, kết hợp với tuổi cao, da màu, béo phì, di truyền và suy thận. Yếu tố di truyền được cho là đóng vai trò nổi bật trong sự tiến triển cao huyết áp vô căn. Tuy nhiên, gen qui định cao huyết áp vẫn chưa được nhận dạng (Gen là phần nhỏ của nhiễm sắc thể sản xuất ra protein qui định đặc điểm cá thể). Những nghiên cứu gần đây về gen tập trung vào yếu tố di truyền ảnh hưởng đến hệ Renin-Angiotensin-Aldosterone. Hệ này giúp điều hòa áp lực máu bằng cách điều chỉnh cân bằng muối và độ co giãn mạch máu.
  4. Khoảng 30% trường hợp cao huyết áp nguyên phát được quy cho yếu tố di truyền. Ví dụ, ở Mỹ, tỉ lệ mới mắc bệnh cao hơn ở người da đen so với người da trắng và Châu Á. Ở những người có ba hoặc mẹ bi cao huyết áp, nguy cơ cao huyết áp gấp 2 lần so với người bình thường. Hiếm hơn, vài rối loạn gen bất thường tác động đến hormone của tuyến thượng thân gây ra cao huyết áp. Cao huyết áp do rối loạn di truyền này, ngày nay xem như cao huyết áp thứ phát. Như đã lưu ý ở trên, nguyên nhân cơ bản của cao huyết áp nguyên phát chưa rõ. Tuy nhiên, người ta tìm thấy đa số người cao huyết áp nguyên phát thường có bất thường đặc hiệu tại động mạch. Nghĩa là họ có kháng lực mạch tăng (độ cứng hay độ đàn hồi kém) ở mạch máu nhỏ xa tim (động mạch ngoại biên). Những mạch máu ngoại biên này chưa Oxy và chất dinh dưỡng cung cấp cho tất cả các mô cơ thể. Các tiểu động mạch nối với hệ thống tĩnh mạch, mang máu trở về tim và phổi, bởi mao mạch ở mô. Nguyên nhân làm cho mạch máu ngoại biên cứng lên chưa rõ. Nhưng, kháng lực ngoại biên tăng cao cũng được nhận thấy ở những người cao huyết áp nguyên phát liên quan đến yếu tố di truyền, béo phì, ít tập thể dục, dùng nhiều muối và người già. Làm thế nào mà rượu, thuốc lá và café có thể ảnh hưởng đến huyết áp? Những người uống rượu quá nhiều (trên 2 lần /ngày ) có tần suất cao huyết áp tăng 1.5-2 lần. Mối liên quan giữa rượu và huyết áp cao đặc biệt chú ý khi dùng rượu >5lần/ngày. Ngoài ra, còn kết hợp hiện tượng tăng liều. Nói cách khác, càng tiêu thụ nhiều rượu, càng liên quan chặt chẽ với cao huyết áp hơn. Mặc dù hút thuốc làm tăng nguy cơ biến chứng mạch máu (ví dụ bệnh tim và đột quị) ở người đã bị huyết áp cao, mà nó còn làm huyết áp cao hơn nữa. Do đó, hút thuốc nhiều lần có thể tăng huyết áp tạm thời ngay lập tức 5-10mmHg. Tuy nhiên, những người hút thuốc đều đặn lại có huyết áp thấp hơn người không hút thuốc. Nguyên nhân là do nicotine trong thuốc lá làm giảm ngon miệng dẫn đến giảm cân và làm huyết áp thấp hơn. Trong 1 nghiên cứu, dùng chất caffeine 5 cốc/ngày có thể làm tăng nhẹ huyết áp ở người lớn tuổi đã bị huyết áp cao nhưng lại không tăng ở người có huyết áp bình thường. Hơn nữa, kết hợp giữa hút thuốc và uống cafe ở người có huyết áp cao có thể làm tăng huyết áp hơn là chỉ uống café đơn thuần. Vì vậy, hạn chế dùng café và thuốc lá ở người bị cao huyết áp sẽ có lợi trong việc điều chỉnh huyết áp cao của họ. Nguyên nhân của cao huyết áp thứ phát? Như đã lưu ý trước, 5% người huyết áp cao được cho là thứ phát. Nghĩa là huyết áp của những người này cao thứ phát sau một rối loạn cụ thể tại một cơ quan hay mạch máu, ví dụ thận, tuyến thượng thận, hay động mạch chủ.
  5. Cao huyết áp do thận Bệnh lý tại thận có thể gây cao huyết áp thứ phát. Loại cao huyết áp thứ phát này được gọi là cao huyết áp thận vì nó do tổn thương tại thận gây ra. Một nguyên nhân quan trọng của cao huyết áp thận là hẹp động mạch thận. Ở người trẻ, thường là phụ nữ, hẹp thường dày mạch máu nuôi thận (tăng sản sợi). Ở người già, hẹp thường do xơ vữa mạch máu làm tiểu cầu tụ lại gây tắc mạch. Làm thế nào mà hẹp động mạch thận gây cao huyết áp ? Ðầu tiên, động mạch thận bị hẹp làm giảm tuần hoàn máu đến thận. Hiện tượng thiếu máu này kích thích thận sản xuất hormone, renin và angiotensin. Những hormone này cùng với aldosterone từ tuyến thượng thận gây co thắt và tăng kháng lực mạch ngoại biên khắp cơ thể, và như đã nói, làm tăng huyết áp. Cao huyết áp thận thường được nghi ngờ đầu tiên khi huyết áp cao xuât hiện ở người trẻ hay huyết áp cao mới xuất hiện ở người lớn tuổi hơn. Tầm soát hẹp động mạch thận bao gồm chụp cản quang, siêu âm và MRI (chụp cộng hưởng từ) động mạch thận. Mục đích của những test này là xem có giảm lưu lượng máu đến thận không. Nếu test này bất thường hay bác sĩ nghĩ nhiều đến hẹp động mạch thận thì chụp động mạch thận can thực hiện. Chụp động mạch thận là xét nghiệm cuối cùng thật sự quan sát được động mạch thận hẹp. Hẹp động mạch thận có thể điều trị bằng cách tái tạo mạch bằng bóng. Trong thủ thuật này, người thực hiện, nhờ siêu âm, luồng 1 ống (catheter) nhỏ dài vào động mạch thận. Tại đó, động mạch thận sẽ được nong rộng ra bằng cách bơm phồng bong bóng ngay chỗ hẹp.Thủ thuật này cải thiện được lưu lượng máu và hạ huyết áp.Ngoài ra nó còn bảo tồn chức năng thận bị suy yếu do thiếu máu. Hiếm khi phẫu thuật can thiết để mở rộng chỗ hẹp động mạch thận. Bất cứ loại suy thận mãn nào cũng có thể gây cao huyết áp với cách tương tự trong hẹp động mạch thận. Ðiều quan trọng cần nhớ là không phải chỉ bệnh thận gây cao huyết áp mà cao huyết áp cũng có thể gây bệnh thận. Vì vậy, tất cả bệnh nhân huyết áp cao can được đánh giá bệnh thận để có thể điều trị đúng đắn. U tuyến thượng thận Hai loại u tuyến thượng thận hiếm gặp thường ít gây cao huyết áp (Tuyến thượng thận nằm ngay trên quả thận). Cả 2 dạng u trên đều sản xuất ra quá nhiều hormone gây huyết áp cao. Các u này có thể được chẩn đoán bằng xét nghiệm máu, nước tiểu và chẩn đoán hình ảnh tuyến thượng thận. Ngoài ra, phẫu thuật thường đòi hỏi để cắt bỏ khối u hay tuyến thượng thận, và thường làm giảm được huyết áp. Một trong những loại u thượng thận trên được gọi là cường Aldosterone nguyên phát vì khối u sản xuất ra lượng lớn hormone aldosterone. Ngoài cao huyết áp, bệnh này bị mất Kali qua
  6. nước tiểu, hậu quả là giảm Kali máu. Vì vậy, cường Aldosterone được nghĩ đến đầu tiên ở người có cao huyết áp kèm Kali máu thấp (Cũng vậy, như đã lưu ý ở trên, vài trường hiếm rối loạn di truyền ảnh hưởng hormone của thận gây cao huyết áp thứ phát). Một type khác của u thượng thận gây cao huyết áp thứ phát là pheochromocytoma. Khối u này sản xuất quá mức Catecholamines. Chẩn đoán pheochromocytoma được nghĩ đến ở những người có những lúc cao huyết áp đột ngột và hồi quy, tình trạng này liên quan da đỏ ửng, nhịp tim nhanh, và nhiều mồ hôi cộng với triệu chứng của huyết áp cao. Hẹp động mạch chủ Hẹp động mạch chủ là một rối loạn di truyền hiếm gặp và là một trong những nguyên nhân thường gặp của cao huyết áp trẻ em. Bệnh này có đặc điểm là hẹp 1 đoạn động mạch chủ, động mạch chính lớn xuất phát từ tim. Ðộng mạch chủ mang máu đến các động mạch nhỏ hơn nuôi dưỡng các cơ quan bao gồm cả thận. Ðoạn động mạch chủ hẹp thường bị ở chỗ trên động mạch thận, và làm giảm lượng máu nuôi đến thận. Tình trạng thiếu máu này sẽ kích hoạt hệ Renin -Angiotensin-Aldosterone làm tăng huyết áp. Ðiều trị thường là phẫu thuật sửa chữa đoạn hẹp. Ðôi khi thủ thuật tái tạo bằng bóng (như đã mô tả trong phần hẹp động mạch thận) cũng được dùng để mở rộng chỗ hẹp. Bệnh nhân cảm thấy như thế nào khi bị huyết áp cao ? Huyết áp cao đơn giản thường không triệu chứng. Vì vậy cao huyết áp được mệnh danh là "kẻ giết người thầm lặng ". Nói cách khác, bệnh này có thể diễn tiến thầm lặng, không triệu chứng cho đến khi xuất hiện biến chứng chết người. Thật vậy, huyết áp cao không phức tạp có thể tồn tại lặng lẽ nhiều năm thậm chí hàng chục năm. Ðiều này xảy ra khi không có triệu chứng và chỉ được phát hiện qua tầm soát huyết áp định kỳ. Tuy nhiên, vài người bi cao huyết áp không phức tạp có những triệu chứng kinh nghiệm như: nhức đầu, chóng mặt, thở ngắn và nhìn mờ đi, ruồi bay trước mắt. Sự hiện diện các triệu chứng này có thể chỉ điểm để người ta đi khám bác sĩ nhằm điều trị và dễ dàng trong việc sử dụng thuốc. Tuy nhiên, không phải là không thường xuyên, có người đến bác sĩ đầu tiên vì đã có tổn thương ở cơ quan. Trong nhiều trường hợp, người ta đến khám, được đưa đến bác sĩ hay phòng cấp cứu với suy tim, đột quỵ, suy thận hay giảm thị lực (do tổn thương phần sau của võng mạc). Nhận thức cộng đồng cao hay tầm soát huyết áp thường xuyên có thể phát hiện những bệnh nhân huyết áp cao không được chẩn đoán trước khi có biến chứng.
  7. Khoảng 1% dân số huyết áp cao được chẩn đoán là cao huyết áp nặng ngay lần đầu đến khám (cao huyết áp ác tính). Những bệnh nhân này, huyết áp tâm trương vượt quá 140mmHg. Người bệnh thường bị đau đầu nhiều, ói mửa, triệu chứng về thị giác, chóng mặt, đôi khi suy thận. Cao huyết áp ác tính là 1 cấp cứu y khoa và đòi hỏi điều trị khẩn cấp nhằm ngăn chặn đột quỵ (tổn thương não). Như đã lưu ý, cao huyết áp mãn tính có thể dẫn đến lớn tim, suy thận, tổn thương não hay thần kinh và thay đổi võng mạc. Kiểm tra mắt ở bệnh nhân cao huyết áp nặng có thể phát hiện ra hẹp hay xuất huyết ở động mạch nhỏ tại võng mạc, phù gai thị. Từ kiểm tra này, bác sĩ có thể phân độ nặng cao huyết áp dựa trên mức độ tổn thương võng mạc. Như đã ghi nhận từ trước , những người cao huyết áp tăng độ cứng, hay kháng lực mạch ngoại biên khắp các mô cơ thể. Kháng lực này tăng làm cho cơ tim làm việc nặng hơn để bơm máu qua mạch máu đó. Tình trạng tăng hoạt động này làm cho tim quá tải dẫn đến rối loạn, thường đầu tiên là lớn tim. Tim to có thể đánh giá bằng X-quang, điện tâm đồ hay chính xác nhất là siêu âm tim. Siêu âm tim đặc biệt có lợi trong việc xác định độ dày tim trái. Tim lớn có lẽ là dấu hiệu báo trước của suy tim, bệnh mạch vành hay rối loạn nhịp. Ðiều trị đúng đắn cao huyết áp và biến chứng của nó có thể khắc phục được những bất thường trên. Xét nghiệm máu và nước tiểu có lẽ hữu dụng trong việc dò tìm bất thường tại thận ở người cao huyết áp (Nên nhớ là tổn thương ở thận có thể là nguyên nhân và cả hậu quả của cao huyết áp). Ðịnh lượng Creatinine huyết thanh có thể khảo sát được chức năng thận. Nồng độ Creatinine cao bất thường cho thấy có tổn thương chức năng thận. Ngoài ra, sự xuất hiện proteine trong nước tiểu (tiểu đạm) có thể phản ánh tổn thương thận mãn tính do cao huyết áp, ngay khi chức năng thận (qua creatinine máu ) vẫn bình thường. Thật vậy, proteine trong nước tiểu báo hiệu nguy cơ suy giảm chức năng thận nếu huyết áp không được điều chỉnh. Ngay cả lượng nhỏ proteine (microalbuminuria) cũng là dấu hiệu đe doạ suy thận do huyết áp cao không kiểm soát. Những bệnh nhân da đen có huyết áp cao kiểm soát kém có nguy cơ tổn thương cơ quan đích và thận cao hơn người da trắng. Huyết áp cao không kiểm soát có thể dẫn đến tổn thương não hay thần kinh bởi cơn đột quỵ. Ðột quỵ thường do xuất huyết hay huyết khối ở mạch máu nuôi não. Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh nhân (tìm thấy qua khám lâm sàng ) đánh giá tổn thương thần kinh. Một cơn đột quỵ có thể gây ra suy yếu, ù tai, liệt tay hay chân hoặc khó phát ngôn hay thị giác. Nhiều cơn đột quỵ nhỏ có thể gây mất trí nhớ. Phòng ngừa tốt nhất cho biến chứng này hay bất kỳ biến chứng nào là kiểm soát tốt huyết áp. Cách sống như thế nào có lợi cho điều trị cao huyết áp?
  8. Thay đổi cách sống, ý nhắc đến thay đổi chế độ ăn và luyện tập. Thay đổi này làm hạ huyết áp cũng như cải thiện được đáp ứng của bệnh nhân đối với thuốc. Chế độ ăn kiêng bao gồm hạn chế muối và rượu và giảm cân nếu người bệnh bị béo phì. Hiệp hội tim mạch Mỹ khuyến cáo rằng tiêu thụ muối
  9. hạn kết hợp với tổn thương cơ quan đích, cao huyết áp tâm thu, hay những yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch như tuổi>65, da đen, hút thuốc, tăng lipid máu hay tiểu đường. Bất kỳ nhóm thuốc nào cũng có thể sử dụng khởi đầu, ngoại trừ ức chế alpha. Thuốc ức chế alpha chỉ được dùng kết hợp với thuốc hạ áp khác trong một chỉ định y khoa cụ thể (Xem phần tiếp theo để biết rõ các thuốc hạ áp ). Trong vài tình huống đặc biệt, vài loại thuốc hạ áp thích hợp hơn những loại thuốc đầu tay. Ví du, thuốc ức chế men chuyển (ACE ) và ức chế thụ thể (ARB) là thuốc được lựa chọn cho bệnh nhân có suy tim, suy thận mãn (có tiểu đường hay không tiểu đường) hay nhồi máu cơ tim, những bệnh làm giảm chức năng co bóp của cơ tim. Cũng vậy, ức chế bêta đôi khi thích hợp điều trị ở bệnh nhân cao huyết áp có kèm nhịp nhanh lúc nghỉ hay nhồi máu cơ tim cấp. Bệnh nhân cao huyết áp đôi khi tồn tại song song một bệnh thứ 2. Trong trường hợp này, loại thuốc hạ áp đặc biệt hay các loại thuốc kết hợp có thể được chọn lựa trong điều trị ban đầu. Mục đích điều trị trong những trường hợp này là điều trị cao huyết áp đồng thời cũng có lợi cho bệnh thứ 2. Ví dụ, ức chế bêta có thể chữa trị lo lắng mãn tính hay đau đầu Migrain cũng như cao huyết áp. Cũng vậy, ức chế ACE hay thuốc ARB có thể được dùng để điều trị một vài bệnh lý tại cơ tim hay bệnh lý tại thận cũng tốt như trị cao huyết áp. Trong vài tình huống khác, vài loại thuốc hạ áp khác không nên dùng. Ví dụ, thuốc non- dihydropyridine, một dạng của nhóm ức chế kênh Calcium không nên dùng ở bệnh nhân có suy tim hay rối loạn nhịp. Với ý định khác nữa, những loại thuốc này có thể hữu dụng trong điều trị vài rối loạn nhịp khác. Cũng vậy, vài loại thuốc như clonidine và minoxidil rất mạnh, thường được hạ 2-3 bậc khi điều trị. Nghĩa là chúng chỉ được dùng sau khi tất cả những thuốc đầu tay khác thất bại. Cuối cùng, xem thêm phần dưới dành cho thai kỳ về thuốc hạ áp thích hợp và không thích hợp cho phụ nữ có thai. Khi nào dùng điều trị kết hợp? Sử dụng phối hợp thuốc hạ áp không phải là không phổ biến. Ðôi khi sử dụng một lượng nhỏ của một hay nhiều chất kết hợp có thể là giảm tối thiểu tác dụng phụ trong khi lại làm tăng cường hiệu quả hạ áp. Ví dụ, thuốc lợi tiểu có thể dùng đơn độc nhưng thường sử dụng liều thấp kết hợp với các thuốc hạ áp khác. Trong trường hợp này, thuốc lợi tiểu có ít tác dụng ngoại ý nhưng lại tăng cường tác dụng hạ áp của thuốc khác. Thuốc lợi tiểu cũng được dùng kèm với thuốc hạ áp khác trong trường hợp bệnh nhân cao huyết áp có giữ nước và phù. Thuốc ức chế ACE hay ức chế thụ thể Angiotensin có lợi khi kết hợp với hầu hết các thuốc hạ áp khác. Một cách phối hợp khác là ức chế bêta với ức chế alpha ở bệnh nhân cao huyết áp có kèm phì đại tiền liệt tuyến để điều trị cùng lúc cả 2 bệnh. Tuy nhiên, cần thận trọng khi kết
  10. hợp cả 2 loại thuốc làm giảm nhịp tim. Ví dụ, ức chế bêta với ức chế kênh Calcium non- dihydropyridine (diltiazem và verapamil) phải hết sức cẩn thận. Bệnh nhân điều trị 2 nhóm thuốc này cần được theo dõi monitor để tránh nhịp tim giảm quá mức. Khi nào cần điều trị cấp cứu ? Ở bệnh viện, thuốc tiêm tĩnh mạch có thể dùng điều trị cấp cứu cao huyết áp . Loại thường dùng nhất là Sodium Nitroprusside (Nipride) và Labetalol (Normadyne). Như đã đề cập, điều trị thuốc cấp cứu có thể dùng ở bệnh nhân cao huyết áp ác tính. Ngoài ra, điều trị cấp cứu cũng cần thiết ở bệnh nhân cao huyết áp có suy tim sung huyết cấp tính, phình tách động mạch chủ, đột quỵ và nhiễm độc thai nghén.
Đồng bộ tài khoản