Câu hỏi kinh tế chính trị

Chia sẻ: Nguyen Minh Nguyenminhtien | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:19

1
564
lượt xem
166
download

Câu hỏi kinh tế chính trị

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Câu 28: Nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam: Những nội dung cơ bản của CNH-HĐH trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Viêt Nam. Khái niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa như sau: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Câu hỏi kinh tế chính trị

  1. Cau 28: Nội dung của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt  Nam Những nội dung cơ bản của CNH­HDH trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. k/n: Đảng ta  nêu ra quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa như sau: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là  quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý  kinh tế ­ xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức  lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của  công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao. . a) Thực hiện cuộc cách mạng khoa học ­ công nghệ để xây dựng cơ sở vật chất ­ kỹ thuật cho  chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ ở nước ta hiện nay có thể khái quát gồm hai nội dung  chủ yếu sau:  ­ Một là, xây dựng thành công cơ sở vật chất ­ kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội để dựa vào đó mà  trang bị công nghệ hiện đại cho các ngành kinh tế quốc dân.  ­ Hai là, tổ chức nghiên cứu, thu thập thông tin, phổ biến ứng dụng những thành tựu mới của khoa  học và công nghệ hiện đại vào sản xuất, đời sống với những hình thức, bước đi, quy mô thích  hợp. Trong quá trình thực hiện cách mạng khoa học và công nghệ, chúng ta cần chú ý:  ­ ứng dụng những thành tựu mới, tiên tiến về khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông  tin, công nghệ sinh học, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và từng bước phát triển nền kinh  tế tri thức.  ­ Sử dụng công nghệ mới gắn với yêu cầu tạo nhiều việc làm, tốn ít vốn, quay vòng nhanh, giữ  được nghề truyền thống; kết hợp công nghệ cũ, công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại. 
  2. ­ Tăng đầu tư ngân sách và huy động các nguồn lực khác cho khoa học và công nghệ  ­ Kết hợp các loại quy mô lớn, vừa và nhỏ cho thích hợp; ưu tiên quy mô vừa và nhỏ, coi trọng  hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế ­ xã hội. b) Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và phân công lại lao động xã hội  * Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành, cùng với vị trí, tỷ trọng và quan hệ tương tác  phù hợp giữa các bộ phận trong hệ thống kinh tế quốc dân. Cơ cấu kinh tế được xem xét dưới góc  độ: cơ cấu ngành (như công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ...); cơ cấu vùng (các vùng kinh tế theo  lãnh thổ) và cơ cấu thành phần kinh tế Xây dựng một cơ cấu kinh tế được gọi là tối ưu khnó đáp ứng được các yêu cầu sau:  ­ Phản ánh được và đúng các quy luật khách quan, nhất là các quy luật kinh tế và xu hướng vận  động phát triển kinh tế ­ xã hội của đất nước.  ­ Nông nghiệp phải giảm dần về tỷ trọng, công nghiệp và dịch vụ phải tăng dần về tỷ trọng.  ­ Phù hợp với xu hướng tiến bộ của khoa học và công nghệ đã và đang diễn ra như vũ bão trên  thế giới.  ­ Cho phép khai thác tối đa mọi tiềm năng của đất nước, của các ngành, các địa phương, các  thành phần kinh tế.  ­ Thực hiện tốt sự phân công và hợp tác quốc tế theo xu hướng toàn cầu hoá kinh tế, do vậy, cơ  cấu kinh tế được tạo dựng phải là "cơ cấu mở". * Tiến hành phân công lại lao động xã hội: Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa lao  động, tức là chuyên môn hóa sản xuất giữa các ngành, trong nội bộ từng ngành và giữa các vùng  trong nền kinh tế quốc dân. Phân công lao động xã hội có tác dụng rất to lớn. Nó là đòn bẩy của  sự phát triển công nghệ và năng suất lao động; cùng với cách mạng khoa học và công nghệ, nó  góp phần hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý
  3. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự phân công lại lao động xã hội phải tuân thủ  các quá trình có tính quy luật sau:  ­ Tỷ trọng và số tuyệt đối lao động nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng và số tuyệt đối lao động công  nghiệp ngày một tăng lên.  ­ Tỷ trọng lao động trí tuệ ngày một tăng và chiếm ưu thế so với lao động giản đơn trong tổng lao  động xã hội.  ­ Tốc độ tăng lao động trong các ngành sản xuất phi vật chất (dịch vụ) tăng nhanh hơn tốc độ  tăng lao động trong các ngành sản xuất vật chất.  ở nước ta, phương hướng phân công lại lao động xã hội hiện nay cần triển khai trên cả hai địa  bàn: tại chỗ và nơi khác để phát triển về chiều rộng kết hợp phát triển theo chiều sâu. Then lien he: Những nội dung cụ thể của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta trong những  năm trước mắt: a) Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các  vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân b) b) Phát triển nhanh hơn công nghiệp, xây dựng và dịch vụ c) Phát triển kinh tế vùng show full text Công nghiệp hóa ­ hiện đại hóa và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa  dân tộc Nguyễn Văn Huyên Tạp chí Triết học 0 9 : 5 2 ' A
  4. M - T h ứ n ă m , 0 3 / 0 5 / 2 0 0 7 C.Mác đã từng khẳng định một cách đúng đắn rằng, một xã hội chỉ có thể phát triển cao với một nền đại công nghiệp. Lý tưởng cao đẹp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là xây dựng Việt Nam thành một nước xã hội chủ nghĩa giàu mạnh và văn minh. Để thực hiện lý tưởng đó, Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra: từ nay đến năm 2020 chúng ta phải phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại. "Mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội”. Như vậy, công nghiệp hoá không phải chỉ là phát triển nền công nghiệp, mà là phát triển mọi lĩnh vực từ sản xuất vật chất và dịch vụ của nền kinh tế, cho đến các khâu trang thiết bị, phương pháp quản lý, tác phong lao động, kỹ năng sản xuất… Hiện đại hoá cũng không có nghĩa chỉ là đưa khoa học - công nghệ - kỹ thuật thông tin - vi điện tử hiện đại vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế, mà là quá trình vận dựng tất cả những phương tiện đó vào tổng thể hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội, nó đòi hỏi phải thực hiện cách mạng công nghệ trong các cơ cấu kinh tế - xã hội một cách hợp lý, cân đối, tạo lập cơ chế quản lý xã hội ở trình độ chuyên môn cao với phương pháp quản lý hiện đại. Công nghiệp hoá - hiện đại hoá phải hoàn thiện cơ cấu - tổ chức - vận hành xã hội, chuyên môn hoá chức năng ngày càng sâu của các thể chế, nâng cao chất lượng các phương tiện thông tin đại chúng và chất lượng sống: dân chủ hoá đời sống xã hội trong khuôn khổ một Nhà nước pháp quyền, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân
  5. trí và dân đức thông qua việc phát triển nền giáo dục quốc gia. Như vậy, quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, thực chất tự bản thân nó chính là một quá trình biến mọi hoạt động kinh tế - chính trị - xã hội, đặc biệt là hoạt động sản xuất tinh thần và đời sống văn hóa từng bước lên trình độ tiên tiến và hiện đại. Đó là quá trình văn hoá hoá đời sống xã hội và văn hoá hoá ngày càng cao bản thân con người. Bởi văn hoá là hiện thân sức mạnh bản chất người được thể hiện trong "Thiên nhiên thứ hai" của con người (Mác). Tất cả sức mạnh bản chất người đó được tàng chứa trong toàn bộ thế giới vật chất - tinh thần, nó thể hiện một cách năng động nhất trong cơ cấu - tổ chức - vận hành của một xã hội, đặc biệt là ở phần tinh thần nơi thăng hoa toàn bộ giá trị văn hoá nằm tương ứng bên trên cơ cấu - tổ chức - vận hành đó. Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã vạch ra qui luật khách quan rằng, đời sống vật chất (hiện thực) quy định đời sống tinh thần của xã hội. Do đó, trình độ kinh tế - chính trị - xã hội tiên tiến và hiện đại do công nghiệp hoá - hiện đại hoá tạo ra sẽ là cơ sở quy định bản chất và trình độ của nền văn hoá xã hội. Một vấn đề lớn và quan trọng đặt ra là: Nền văn hoá tiên tiến, hiện đại do công nghiệp hoá - hiện đại hoá hình thành nên có mâu thuẫn, có thủ tiêu nền văn hoá truyền thống và làm mất đi bản sắc dân tộc của văn hoá truyền thống? Phép biện chứng duy vật và thực tiễn xã hội cho thấy, đời sống tinh thần có cuộc sông độc lập của nó so với nền tảng vật chất xã hội. Văn hoá, một khi ra đời, dù là xuất phát từ tồn tại kinh tế, từ đời sống vật chất, nó trở thành thực thể độc lập với cơ sở kinh tế - xã hội. Thực tế đã chứng minh, những hệ tư tưởng, chính trị, văn hoá đã đóng vai trò điều chỉnh và qui định chiều hướng vận động của xã hội. Ngày nay, loài người càng nhận rõ rằng, văn hoá không chỉ là cái phái sinh của điều kiện kinh tế - xã hội, mà còn là động lực nội sinh của sự phát triển kinh tế - xã hội. Nghĩa là, trước sự hiện đại hoá xã hội, và cùng với nó là sự hình thành những yếu tố văn hoá tiên tiến, hiện đại, thì những yếu tố, những thực thể văn hoá truyền thống như là bản sắc văn hoá Việt Nam vẫn độc lập tồn tại và không những tồn tại, mà chúng còn làm tiền đề cho sự nảy sinh và phát triển các yếu tố văn hoá mới. Lịch sử phát triển văn hoá nhân loại cho thấy, mỗi nền văn hoá bao giờ cũng tàng chứa những tố chất đặc sắc, tạo nên nét riêng của mình đó là bản sắc. Cái bản sắc đó được kết tinh từ tâm hồn, khí phách hàng ngàn đời của dân tộc, tạo nên nhân lõi, cốt cách, bản lĩnh và sức sống của một dân tộc, nó là căn cước để nhận dạng nó trong trăm ngàn nền văn hoá, là bộ gien để di truyền bản sắc truyền thống của mình cho các thế hệ mai sau. Bản sắc văn hoá là cái bảo đảm cho thế ổn định và trường tồn của một nền văn hoá. Văn hoá Việt Nam với bản sắc của mình, qua bao lần tiếp biến vẫn không bị sai lạc, phai mờ, thậm chí qua bao lần đất nước bị xâm lăng, dân tộc bị chôn tính, nhưng bản sắc đó không bao giờ mất, không những không mất mà nó ngày càng được khẳng định
  6. và phát triển. Mỗi lần tiếp biến, văn hoá Việt Nam với bản lĩnh và sức sống của mình, lấy bản sắc dân tộc làm tiêu chí, nó gạn lọc, tiếp thu những tinh hoa tốt đẹp của các nền văn hoá khác trên khắp thế giới, làm giàu có và đậm đà thêm, phong phú thêm cho bản sắc của mình. Công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá hiện nay ở nước ta thực sự đang là một cuộc tiếp biến lớn lao, rất căn bản của văn hoá Việt Nam với thế giới văn hoá hiện đại. Với truyền thống luôn giữ vững bản sắc của mình, văn hoá Việt Nam không bao giờ bị văn hoá hiện đại làm lu mờ, thôn tính, mà sẽ tiếp thu những yếu tố văn hoá tiên tiến, hiện đại chứa đựng trong khoa học - công nghệ hiện đại, nó cộng sinh, làm phong phú và hiện đại thêm nền văn hoá của chính mình. Theo nghĩa đó, công nghiệp hoá - hiện đại hoá không nhưng không là tác dụng xấu, mà là tác dụng tích cực, hay có thể nói, chúng đem lại những yếu tố mới cho việc làm sâu sắc thêm phong phú thêm bản sắc văn hoá Việt Nam. Nói như vậy không có nghĩa công nghiệp hoá - hiện đại hoá chỉ có đem lại những thuận lợi, tạo ra tất cả những yếu tố tích cực cho và giữ gìn bản sắc văn hoá Việt Nam. Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nâng cao chất lượng sống, từ đó hình thành nên những chuẩn mực mới lạ trong đời sống tinh thần, có thể dẫn đến "sự va chạm" giữa lối sống, lối tư duy hiện đại với lối sống và tư duy truyền thống: Lối sống và cách tư duy hoà với thiên nhiên, tình cảm cộng đồng tình làng nghĩa xóm dường như "mặc cảm" với lối sống đô thị và toan tính kinh tế có tính cá nhân, nếp sống thanh bình dễ "dị ứng” với nhịp độ gấp gáp của tác phong công nghiệp, ứng xử tình cảm nghiêng về đạo đức thường tương phản với văn hoá trí tuệ và nền pháp lý chặt chẽ, lối sống tiêu xài không mấy phù hợp với truyền thống thanh đạm của con người Việt Nam… Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại là hoá có kết quả hay không còn phụ thuộc vào quá trình giao lưu hội nhập quốc tế. Hội nhập quốc tế không chỉ là nhập công nghệ mà là hoạt động toàn diện khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất - quản lý kinh tế - xã hội. Sự hội nhập sẽ làm tăng nhanh nhiều loại sản phẩm văn hoá, trong đó, bên cạnh các yếu tố tốt đẹp, có cả những yếu tố không phù hợp với văn hoá truyền thống, thậm chí độc hại nữa. Chúng ta chủ động lựa chọn chính sách trong tiếp biến của công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Những thế mạnh trong dối sách đó là tương đối bởi trình độ kinh tế - xã hội nước ta rất thấp so với các nước đầu tư vào ta. Trong biết bao loại đầu tư, ở đó đồng thời cũng kèm theo những dạng văn hoá nhất định. Cái ta cần, nói chung là vượt hẳn cái ta có khả năng cho. Trong một xã hội nghèo, sự thâm nhập ồ ạt từ bên ngoài làm đảo lộn nhiều thói quen, nếp sống, kể cả suy nghĩ của nhân dân ta trên một bình diện rộng hơn bao giờ hết. Vài năm gần đây, không chỉ ở thành thị mà cả ở nông thôn, điều kiện sống, tiện nghi sinh hoạt, lối sống đã có sự thay đổi lớn, sư thay đổi đó diễn ra không chỉ ở bề ngoài
  7. mà cả ở chiều sâu. Sự khủng hoảng một số mặt trong nhiều phương diện đời sống đang hình thành liên quan đến từng gia đình. Trước đây một số người đi tìm sự thoả mãn lối sống của họ ở nước ngoài, thì nay lôi sống đó đã nảy nở tại Việt Nam, trên một số lĩnh vực lối sống đó đã khống chế lối sống truyền thống Việt Nam, nhiều cách sinh hoạt, cách sống, cách nghĩ... thực sự đã xung đột với những chuẩn mực mà nhân dân ta cho là lành mạnh. Nhiều hiện tượng trước đây hoàn toàn xa lạ thì nay ở không ít người được xem như là chuyện bình thường: bạo lực, kích dâm, xem tiền là tối thượng, xem hưởng thụ vật chất là mục đích của cuộc đời. Đồng minh của lối sống buông thả là luận điệu tự do, dân chủ không ranh giới. Tất cả những cái đó nếu không kịp thời ngăn chặn, đến một lúc, an ninh quốc gia, thậm chí độc lập dân tộc sẽ là cái bia bắn phá, lối sống dân tộc, văn hoá dân tộc sẽ bị coi là lạc hậu, lạc lõng. Rõ ràng, làm thế nào để thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hóa mà vẫn giữ gìn được bản sắc văn hoá dân tộc đang là vấn đề bức xúc đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hiện nay. Điều đầu tiên phải thấy rằng, một trong những biện pháp để công nghiệp hoá - hiện đại hoá không chỉ đơn giản là nhập nội khoa học - kỹ thuật - công nghệ tiên tiến từ bên ngoài, mà là biết kết hợp các yếu tố nội sinh và ngoại sinh, trong đó, yếu tố nội sinh là gốc, là nền tảng. Bởi Đảng và Nhà nước ta chủ trương mục đích của hiện đại hoá không chỉ vì một cuộc sống tiện nghi, mà là phát triển con người và dân tộc Việt Nam, làm cho nền văn hoá Việt Nam ngày càng tiên tiến, hiện đại và ngày càng đậm đà bản sắc. Như vậy, mục tiêu cho cả của công nghiệp hoá - hiện đại hoá là đạt đến một nền văn hoá nhân văn - nền văn hoá người nhất: nền văn hoá tất cả vì con người, con người ở đây được phát triển toàn diện, hài hòa mang tâm hồn, lý tưởng, sắc thái Việt Nam. Theo phương châm đó, CNH - HĐH ở Việt Nam phải lấy văn hóa truyền thống làm nền tảng và động lực, lấy việc làm đậm dà bản sắc văn hóa làm mục tiêu. Suốt 4000 năm lịch sử, những đặc trưng dân tộc Việt Nam đã kết tụ nên những nét văn hóa riêng và rất đậm. Nó riêng với những đặc trưng chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng, tinh thần nhân ái, nhân văn, tinh thần đoàn kết, cộng đồng, tình yêu lao động, cần cù chịu khó, tinh thần lạc quan yêu đời, óc thông minh sáng tạo, đức khoan dung, lòng cởi mở, hoà hợp, tế nhị, linh hoạt và tình cảm… Nó đậm bởi suốt hàng nghìn năm bị ngoại bang đô hộ, suất hàng trăm năm bị xâm lăng bởi nhiều thế lực mạnh, nhiều khi nước mất, nhưng những nét đặc trưng tinh thần cao đẹp đó không bao giờ mất. Trong công nghiệp hoá - hiện đại hoá, một mặt, để hoà vào được trình độ phát triển thế giời, mặt khác, giữ gìn được bản sắc văn hoá của mình, chúng ta cần phát huy các giá trị truyền thống để tiếp thu những thành quả khoa học - công nghệ - tin học hiện đại, lấy yếu tố nội sinh làm chủ thể nghĩa là yếu tố nội sinh phải đóng vai trò quyết định trong việc định hướng các mối quan hệ của chúng với các yếu tố ngoại sinh, còn các yếu tố ngoại sinh phải trở thành tố chất kích thích sự tiến hoá của các yếu tố nội
  8. sinh. Hội nhập trên cơ sở định hướng với sự lựa chọn tối ưu là làm sao tích hợp được nhiều tinh hoa đặc sắc của nhiều nền khoa học - kỹ thuật - công nghệ và cách điều tiết nền kinh tế - xã hội của nhiều nước một cách hợp lý, phù hợp với đặc điểm và điều kiện dân tộc mình. Nếu nhân danh sự tiếp thu mà bê nguyên xi những cái bên ngoài thì rất cuộc văn hoá sẽ bị mất gốc, bị đồng hoá. Mất nước, chúng ta còn giành lại được nước, nhưng mất bản sắc văn hoá dân tộc thì lịch sử thế giới đã cho thấy, sẽ mất tất cả! Tiếp thu trên tư thế chủ động là điều kiện của việc xử lý mối quan hệ biện chứng nội sinh, ngoại sinh. Điều đó có nghĩa, chủ thể tiếp nhận phải có đủ kiến thức và trình độ đối thoại với đối tác một cách tự tin. Nguyên tắc tiếp thu là lấy bản sắc văn hoá của mình làm gốc, lấy tiêu chí văn hoá dân tộc làm bộ lọc, tiếp thu các giá trị khoa học công nghệ - văn hoá hiện đại của thế giới, lấy cái tiến bộ bổ sung cho những thiếu hụt trong văn hoá truyền thống, tạo thuận lợi cho văn hoá dân tộc phát triển. Đối thoại là bình đẳng và tự do nhưng trên nguyên tắc giữ vững chủ quyền: không để đối tác mạnh khống chế và lấn át, không để các yếu tố độc hại thâm nhập thông qua các con đường chuyển giao công nghệ, kinh tế, khoa học, nghệ thuật, thông tin… Nhiều nước Châu Á, Châu Phi và Mỹ la tinh đã đặt nhiều hy vọng vào con đường hiện đại hoá theo mô hình các nước Âu - Mỹ. Người ta đã đồng nhất hiện đại hoá với phương Tây hoá. Kết quả là, sự thu nhập tuỳ tiện các giá trị bên ngoài không phù hợp với chính mình đã làm cho những chuẩn mực giá trị văn hoá truyền thống bị biến chất, khiến cho các nước đó không nhưng không đạt được mục tiêu hiện đại hoá mà còn đưa đất nước lâm vào tình trạng rối loạn. Chúng ta học tập kinh nghiệm công nghiệp hoá - hiện đại hoá của các nước nhưng không bê nguyên xi các mô hình của họ, mà phải cải biến, sáng tạo chúng thành các giá trị văn hoá mới của Việt Nam, sắp xếp lại các thang giá trị cho thích hợp, cải biến, sáng tạo ra các hình thức mới để biểu đạt sâu sắc nội dung giá trị văn hoá Việt Nam, tạo ra thế và lực phát triển văn hoá dân tộc Việt Nam. Tiến tới hiện đại hoá mọi lĩnh vực đất nước trong đó có văn hoá theo hướng toàn cầu hoá. Điều đó không có nghĩa là đồng nhất hoá các giá trị và các tiêu chí văn hoá dân tộc với mọi nền văn hoá khác. Điều này đã được Tổng thư ký UNESCO cảnh báo: “Xu hướng toàn cầu hoá có thể gây phương hại tới tính sáng tạo và đa văn hoá của thế giới, tạo ra sự đồng nhất nghèo nàn về văn hóa". Chúng ta thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá là nhằm làm phong phú và hiện đai hoá văn hoá Việt Nam, làm đậm đà và bền vững thêm bản sắc văn hoá của mình, chứ không để cho nó bị hoà tan, làm sao để vào khoảng những năm 20 của thiên niên kỷ tới, dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam được sống trong một xã hội hiện đại với
  9. nền văn hoá đặc sắc của chính mình. Câu trả lời hay nhất - Do người sử dụng bình chọn Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới. Một trong những giải pháp để thực hiện chủ trương trên là gắn với phát triển dịch vụ và du lịch. Tại sao phải công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn? Nước ta đang trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, "Mà đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa"(1). Do đó, chúng ta phải công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, mới tạo tiền đề vững chắc để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bởi nông nghiệp, nông thôn là khu vực đông dân cư nhất, lại có trình độ phát triển nhìn chung là thấp nhất so với các khu vực khác của nền kinh tế. Nông dân chiếm hơn 70% dân số và hơn 76% lực lượng lao động cả nước, đóng góp từ 25% - 27% GDP của cả nước... Hơn thế nữa, Đảng ta coi đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, còn vì nông dân, nông thôn Việt Nam có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của đất nước trước đây và trong sự nghiệp đổi mới hiện nay. Khu vực nông nghiệp, nông thôn hiện có tài nguyên lớn về đất đai và các tiềm năng thiên nhiên khác: hơn 7 triệu ha đất canh tác, 10 triệu ha đất canh tác chưa sử dụng; các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là sản phẩm nông - lâm - hải sản (như cà-phê, gạo, hạt tiêu...). Nông nghiệp, nông thôn còn giữ vai trò chủ đạo trong cung cấp các nguồn nguyên, vật liệu cho phát triển công nghiệp - dịch vụ. Bộ mặt nông thôn Việt Nam trong thời gian vừa qua đã có nhiều đổi mới, từ chỗ bị thiếu ăn, phải nhập khẩu gạo, đến nay đã và đang xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới (sau Thái Lan). Tuy nhiên, vẫn còn đó những hạn chế, yếu kém, mà nhiều năm nay vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu. Chẳng hạn, vốn đầu tư cho khu vực này vẫn thấp (chiếm 11% - 12% tổng đầu tư toàn xã hội); sản phẩm nông nghiệp lại chủ yếu thiên về số lượng, chứ chưa nâng cao về chất lượng, giá thành nông sản còn cao, năng suất lao động và hiệu quả sản xuất còn thấp; sản lượng nông sản tuy tăng nhưng chi phí đầu vào vẫn tăng cao (chi phí cho sản xuất 1ha lúa tăng từ 1 triệu đến 1,5 triệu đồng), trong khi giá các mặt hàng nông sản trên thị trường quốc tế lại giảm. Trong khi đó, các chính sách và biện pháp mà Nhà nước đã áp dụng cho phát triển nông nghiệp những năm gần đây chưa tạo bước đột phá mạnh. Trình độ dân trí của một bộ phận nông dân (nhất là vùng sâu, vùng xa) chưa được cải thiện, đời sống, xã hội nông thôn mặc dù có sự chuyển biến song chưa mạnh và không đồng đều. Tình trạng đó dẫn đến sự chênh lệch giữa khu vực thành thị và nông thôn ngày càng lớn. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng thế giới (WB) (năm 2003) hệ số chênh lệch giữa thành thị và nông thôn còn là 3,65 lần.
  10. Thêm nữa, kinh nghiệm từ các nước trên thế giới và trong khu vực (như Xin-ga-po, Thái Lan, Trung Quốc, Thụy Điển, Tây Ban Nha...) đều cho thấy bài học: công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là cơ sở để chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế đất nước. Nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là gì? Tiếp tục khuyến khích phát triển mạnh thêm du lịch sẽ giúp cho nông thôn giải quyết hàng loạt vấn đề: tạo công ăn việc làm, nâng cao dân trí, phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, từ đó, làm thay đổi cơ cấu kinh tế và lao động trong nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, phát triển nông thôn văn minh, hiện đại, phù hợp với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ngay từ Đại hội Đảng lần thứ VIII Đảng ta đã quyết định và chỉ đạo phải luôn luôn coi trọng và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX chỉ rõ nội dung tổng quát của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta giai đoạn 2001 - 2010 là (2): - Là quá trình chuyển dịch kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, hiện đại hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học đưa vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường. - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch và phát triển nông thôn, tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nông dân nông thôn. Tới Đại hội X, Đảng ta xác định: "Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn vẫn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng. Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn"(3). Tóm lại, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn chính là từng bước để phát triển nông thôn Việt Nam theo hướng hiện đại, xóa dần khoảng cách giữa thành thị với nông thôn. Để làm được điều này, cần rất nhiều giải pháp, trong đó một giải pháp quan trọng là phải phát triển dịch vụ và du lịch. Với tính chất là ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, du lịch phát triển sẽ tạo nhiều công ăn việc làm cho lao động nông thôn mà không cần phải đào tạo công phu, từ đó góp phần từng bước nâng cao tích lũy và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Hiện nay tỷ lệ hộ kinh tế làm dịch vụ trong nông thôn mới chỉ chiếm 11,2%. Tiếp tục khuyến khích
  11. phát triển mạnh thêm du lịch sẽ giúp cho nông thôn giải quyết hàng loạt vấn đề: tạo công ăn việc làm, nâng cao dân trí, phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, từ đó, làm thay đổi cơ cấu kinh tế và lao động trong nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, phát triển nông thôn văn minh, hiện đại phù hợp với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Một thực tế nữa là, ở nước ta trên 3/4 số các khu di tích văn hóa, lịch sử, khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng của đất nước đều nằm tại các vùng nông thôn, miền núi và vùng hải đảo. Song thu nhập hiện từ du lịch mới tập trung chủ yếu ở hai thành phố du lịch lớn của đất nước là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (chiếm 62% tổng doanh thu), vì thế phát triển du lịch ở các vùng miền nông thôn không những sẽ đánh thức những tiềm năng trên để phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mà còn làm tăng thêm thu nhập cho đông đảo người dân sống ở nông thôn. Các biện pháp gắn phát triển du lịch với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Nhằm gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn với phát triển du lịch bền vững, thiết nghĩ chúng ta cần tập trung phát triển du lịch ở khu vực nông thôn bằng các biện pháp sau: Một là, bằng nhiều hình thức, cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho lĩnh vực du lịch ở các vùng nông thôn có nhiều tiềm năng du lịch theo hướng khai thác các nguồn vốn trong nước, ngoài nước, đặc biệt là vốn trong dân. Từ đó tạo ra những sản phẩm du lịch đặc thù mang đậm bản sắc nông thôn Việt Nam (như du lịch đồng quê, du lịch làng nghề, du lịch sinh thái, văn hóa và sông nước). Hai là, phục hồi và phát triển các nghề truyền thống của làng quê Việt Nam, tạo ra những sản phẩm phục vụ khách du lịch. Đây là lĩnh vực không những đẩy mạnh xuất khẩu tại chỗ và xuất khẩu ra nước ngoài, mà còn kết hợp để mở rộng phát triển Câu trả lời hay nhất - Do người đặt câu hỏi bình chọn + Từ 1975 đến 1985, Việt Nam quyết tâm xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội theo khẩu hiệu đầy đường : "Tiến nhanh, Tiến mạnh, Tiến vững chắc trên con đừong xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội" + Từ 1986 đến 1995, Việt Nam bắt đầu sửa sai "những điều trông thấy mà đau đớn lòng". Một số điều nầy đã được Báo Tuổi Trẻ viết trong loạt bài "Đêm trước đổi mới" : http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.… + Tử 1996 đến nay, Việt Nam quyết "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". - Công Bằng Xã Hội là một chủ đề rất rộng, nó không thể tóm gọn vào một trang
  12. giấy, bạn hãy tự tìm hiểu ở đây : http://www.google.com.vn/search?hl=vi&q=… và nên đi kiểm chứng nó trường học, bệnh viện, công sở, quán cà phê... Nhớ đừng bao giờ thắc mắc vì sao "Kẻ ăn không hết, người mò không ra". - Dân chủ tại Việt Nam là vấn đề nhạy cảm, bạn vui lòng tự tìm hiểu : http://www.google.com.vn/search?hl=vi&so… - Thực hiện nếp sống văn minh tại Việt Nam : http://www.google.com.vn/search?hl=vi&q=… • cách đây 2 tháng • Đến năm 2010 tăng trưởng trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng 43 - 44% Bảo đảm diện tích nhà ở đến năm 2010, đạt mức bình quân 14 - 15m2 sàn/người Trong khuôn khổ Đại hội X của Đảng, chiều qua (19/4) Trung tâm báo chí Đại hội X đã có buổi họp báo giới thiệu thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội qua 20 năm đổi mới (1986 - 2005) và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010. Thứ trưởng Bộ Kế hoạch - Đầu tư Trần Đình Khiển chủ trì cuộc họp báo. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch - Đầu tư, 20 năm đổi mới đã đưa đất nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế, đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, tăng cường cơ sở vật chất, tạo tiền đề cho giai đoạn phát triển mới. Cùng với việc khẳng định những thành tựu đã đạt được, báo cáo cũng đề ra kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm tới (2006 - 2010). Theo đó, những chỉ tiêu định hướng về phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu đến năm 2010 là: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) gấp 2,1 lần so với năm 2000; mức tăng GDP bình quân đạt 7,5 - 8%/năm, phấn đấu đạt trên 8%/năm. Cơ cấu ngành trong GDP: Khu vực nông nghiệp khoảng 15 - 16%; công nghiệp và xây dựng 43 - 44%; dịch vụ 40 - 41%. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội chiếm 40% GDP. Tạo việc làm cho 8 triệu lao động, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị dưới 5%. Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn mới) giảm xuống còn 10 - 11%. Bảo đảm diện tích nhà ở đến năm 2010 đạt mức bình quân 14 - 15m2 sàn/người. Đến năm 2010 phấn đấu 100% số đô thị loại 3 trở lên, 50% số đô thị loại 4 và tất cả các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm thiểu ô nhiễm, xử lý chất thải. Tất cả các KCN, KCX có hệ thống xử lý nước thải, thu gom và xử lý 90% chất thải rắn thông thường, 80% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế. Phấn đấu đạt 95% dân cư thành thị và 75% dân cư ở nông thôn sử dụng nước sạch... Trả lời phỏng vấn báo chí về tầm nhìn trong việc xây dựng kế hoạch, quy hoạch, ông Khiển thừa nhận “chất lượng xây dựng kế hoạch, quy hoạch ngắn hạn là một thực tế”. Và để khắc phục tình trạng này, ông Khiển cho biết, thời gian tới dứt khoát việc xây dựng kế hoạch, quy hoạch phải có tầm nhìn dài hạn. Nếu những lĩnh vực nào chúng ta chưa làm được có thể mời chuyên gia nước ngoài. Ngoài ra, ông Khiển còn trả lời nhiều vấn đề như: Có hay không việc phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp? Biện pháp nào để
  13. tránh xung đột lợi ích kinh tế giữa Đảng và kinh tế tư nhân? Thực trạng của “nguy cơ tụt hậu” mà Báo cáo chính trị của Đảng đề cập? Thời điểm cụ thể đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển?… Câu trả lời hay nhất - Do người sử dụng bình chọn Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra: từ nay đến năm 2020 chúng ta phải phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại. "Mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội”. Như vậy, công nghiệp hoá không phải chỉ là phát triển nền công nghiệp, mà là phát triển mọi lĩnh vực từ sản xuất vật chất và dịch vụ của nền kinh tế, cho đến các khâu trang thiết bị, phương pháp quản lý, tác phong lao động, kỹ năng sản xuất… Hiện đại hoá cũng không có nghĩa chỉ là đưa khoa học - công nghệ - kỹ thuật thông tin - vi điện tử hiện đại vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế, mà là quá trình vận dựng tất cả những phương tiện đó vào tổng thể hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội, nó đòi hỏi phải thực hiện cách mạng công nghệ trong các cơ cấu kinh tế - xã hội một cách hợp lý, cân đối, tạo lập cơ chế quản lý xã hội ở trình độ chuyên môn cao với phương pháp quản lý hiện đại. Công nghiệp hoá - hiện đại hoá phải hoàn thiện cơ cấu - tổ chức - vận hành xã hội, chuyên môn hoá chức năng ngày càng sâu của các thể chế, nâng cao chất lượng các phương tiện thông tin đại chúng và chất lượng sống: dân chủ hoá đời sống xã hội trong khuôn khổ một Nhà nước pháp quyền, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí và dân đức thông qua việc phát triển nền giáo dục quốc gia. Như vậy, quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, thực chất tự bản thân nó chính là một quá trình biến mọi hoạt động kinh tế - chính trị - xã hội, đặc biệt là hoạt động sản xuất tinh thần và đời sống văn hóa từng bước lên trình độ tiên tiến và hiện đại. Đó là quá trình văn hoá hoá đời sống xã hội và văn hoá hoá ngày càng cao bản thân con người. Bởi văn hoá là hiện thân sức mạnh bản chất người được thể hiện trong "Thiên nhiên thứ hai" của con người (Mác). Tất cả sức mạnh bản chất người đó được tàng chứa trong toàn bộ thế giới vật chất - tinh thần, nó thể hiện một cách năng động nhất trong cơ cấu - tổ chức - vận hành của một xã hội, đặc biệt là ở phần tinh thần nơi thăng hoa toàn bộ giá trị văn hoá nằm tương ứng bên trên cơ cấu - tổ chức - vận hành đó. Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã vạch ra qui luật khách quan rằng, đời sống vật chất (hiện thực) quy định đời sống tinh thần của xã hội. Do đó, trình độ kinh tế - chính trị - xã hội tiên tiến và hiện đại do công nghiệp hoá - hiện đại hoá tạo ra sẽ là cơ sở quy định bản chất và trình độ của nền văn hoá xã hội. Một vấn đề lớn và quan trọng đặt ra là: Nền văn hoá tiên tiến, hiện đại do công nghiệp hoá - hiện đại hoá hình thành nên có mâu thuẫn, có thủ tiêu nền văn hoá truyền thống và làm mất đi bản sắc dân tộc của văn hoá truyền thống? Phép biện chứng duy vật và thực tiễn xã hội cho thấy, đời sống tinh thần có cuộc sông độc lập của nó so với nền tảng vật chất xã hội. Văn hoá, một khi ra đời, dù là
  14. xuất phát từ tồn tại kinh tế, từ đời sống vật chất, nó trở thành thực thể độc lập với cơ sở kinh tế - xã hội. Thực tế đã chứng minh, những hệ tư tưởng, chính trị, văn hoá đã đóng vai trò điều chỉnh và qui định chiều hướng vận động của xã hội. Ngày nay, loài người càng nhận rõ rằng, văn hoá không chỉ là cái phái sinh của điều kiện kinh tế - xã hội, mà còn là động lực nội sinh của sự phát triển kinh tế - xã hội. Nghĩa là, trước sự hiện đại hoá xã hội, và cùng với nó là sự hình thành những yếu tố văn hoá tiên tiến, hiện đại, thì những yếu tố, những thực thể văn hoá truyền thống như là bản sắc văn hoá Việt Nam vẫn độc lập tồn tại và không những tồn tại, mà chúng còn làm tiền đề cho sự nảy sinh và phát triển các yếu tố văn hoá mới. Lịch sử phát triển văn hoá nhân loại cho thấy, mỗi nền văn hoá bao giờ cũng tàng chứa những tố chất đặc sắc, tạo nên nét riêng của mình đó là bản sắc. Cái bản sắc đó được kết tinh từ tâm hồn, khí phách hàng ngàn đời của dân tộc, tạo nên nhân lõi, cốt cách, bản lĩnh và sức sống của một dân tộc, nó là căn cước để nhận dạng nó trong trăm ngàn nền văn hoá, là bộ gien để di truyền bản sắc truyền thống của mình cho các thế hệ mai sau. Bản sắc văn hoá là cái bảo đảm cho thế ổn định và trường tồn của một nền văn hoá. Văn hoá Việt Nam với bản sắc của mình, qua bao lần tiếp biến vẫn không bị sai lạc, phai mờ, thậm chí qua bao lần đất nước bị xâm lăng, dân tộc bị chôn tính, nhưng bản sắc đó không bao giờ mất, không những không mất mà nó ngày càng được khẳng định và phát triển. Mỗi lần tiếp biến, văn hoá Việt Nam với bản lĩnh và sức sống của mình, lấy bản sắc dân tộc làm tiêu chí, nó gạn lọc, tiếp thu những tinh hoa tốt đẹp của các nền văn hoá khác trên khắp thế giới, làm giàu có và đậm đà thêm, phong phú thêm cho bản sắc của mình. Công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá hiện nay ở nước ta thực sự đang là một cuộc tiếp biến lớn lao, rất căn bản của văn hoá Việt Nam với thế giới văn hoá hiện đại. Với truyền thống luôn giữ vững bản sắc của mình, văn hoá Việt Nam không bao giờ bị văn hoá hiện đại làm lu mờ, thôn tính, mà sẽ tiếp thu những yếu tố văn hoá tiên tiến, hiện đại chứa đựng trong khoa học - công nghệ hiện đại, nó cộng sinh, làm phong phú và hiện đại thêm nền văn hoá của chính mình. Theo nghĩa đó, công nghiệp hoá - hiện đại hoá không nhưng không là tác dụng xấu, mà là tác dụng tích cực, hay có thể nói, chúng đem lại những yếu tố mới cho việc làm sâu sắc thêm phong phú thêm bản sắc văn hoá Việt Nam. Nói như vậy không có nghĩa công nghiệp hoá - hiện đại hoá chỉ có đem lại những thuận lợi, tạo ra tất cả những yếu tố tích cực cho và giữ gìn bản sắc văn hoá Việt Nam. Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nâng cao chất lượng sống, từ đó hình thành nên những chuẩn mực mới lạ trong đời sống tinh thần, có thể dẫn đến "sự va chạm" giữa lối sống, lối tư duy hiện đại với lối sống và tư duy truyền thống: Lối sống và cách tư duy hoà với thiên nhiên, tình cảm cộng đồng tình làng nghĩa xóm dường như "mặc cảm" với lối sống đô thị và toan tính kinh tế có tính cá nhân, nếp sống thanh bình dễ "dị ứng” với nhịp độ gấp gáp của tác phong công nghiệp, ứng xử tình cảm nghiêng về đạo đức thường tương phản với văn hoá trí tuệ và nền pháp lý chặt chẽ, lối sống tiêu xài không mấy phù hợp với truyền thống thanh đạm của con người Việt Nam… Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại là hoá có kết quả hay không còn phụ thuộc vào quá trình giao lưu hội nhập quốc tế. Hội nhập quốc tế không chỉ là nhập công nghệ mà là hoạt động toàn diện khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất - quản lý kinh tế
  15. - xã hội. Sự hội nhập sẽ làm tăng nhanh nhiều loại sản phẩm văn hoá, trong đó, bên cạnh các yếu tố tốt đẹp, có cả những yếu tố không phù hợp với văn hoá truyền thống, thậm chí độc hại nữa. Chúng ta chủ động lựa chọn chính sách trong tiếp biến của công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Những thế mạnh trong dối sách đó là tương đối bởi trình độ kinh tế - xã hội nước ta rất thấp so với các nước đầu tư vào ta. Trong biết bao loại đầu tư, ở đó đồng thời cũng kèm theo những dạng văn hoá nhất định. Cái ta cần, nói chung là vượt hẳn cái ta có khả năng cho. Trong một xã hội nghèo, sự thâm nhập ồ ạt từ bên ngoài làm đảo lộn nhiều thói quen, nếp sống, kể cả suy nghĩ của nhân dân ta trên một bình diện rộng hơn bao giờ hết. (Các) nguồn Vài năm gần đây, không chỉ ở thành thị mà cả ở nông thôn, điều kiện sống, tiện nghi sinh hoạt, lối sống đã có sự thay đổi lớn, sư thay đổi đó diễn ra không chỉ ở bề ngoài mà cả ở chiều sâu. Sự khủng hoảng một số mặt trong nhiều phương diện đời sống đang hình thành liên quan đến từng gia đình. Trước đây một số người đi tìm sự thoả mãn lối sống của họ ở nước ngoài, thì nay lôi sống đó đã nảy nở tại Việt Nam, trên một số lĩnh vực lối sống đó đã khống chế lối sống truyền thống Việt Nam, nhiều cách sinh hoạt, cách sống, cách nghĩ... thực sự đã xung đột với những chuẩn mực mà nhân dân ta cho là lành mạnh. Nhiều hiện tượng trước đây hoàn toàn xa lạ thì nay ở không ít người được xem như là chuyện bình thường: bạo lực, kích dâm, xem tiền là tối thượng, xem hưởng thụ vật chất là mục đích của cuộc đời. Đồng minh của lối sống buông thả là luận điệu tự do, dân chủ không ranh giới. Tất cả những cái đó nếu không kịp thời ngăn chặn, đến một lúc, an ninh quốc gia, thậm chí độc lập dân tộc sẽ là cái bia bắn phá, lối sống dân tộc, văn hoá dân tộc sẽ bị coi là lạc hậu, lạc lõng. Rõ ràng, làm thế nào để thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hóa mà vẫn giữ gìn được bản sắc văn hoá dân tộc đang là vấn đề bức xúc đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hiện nay. Điều đầu tiên phải thấy rằng, một trong những biện pháp để công nghiệp hoá - hiện đại hoá không chỉ đơn giản là nhập nội khoa học - kỹ thuật - công nghệ tiên tiến từ bên ngoài, mà là biết kết hợp các yếu tố nội sinh và ngoại sinh, trong đó, yếu tố nội sinh là gốc, là nền tảng. Bởi Đảng và Nhà nước ta chủ trương mục đích của hiện đại hoá không chỉ vì một cuộc sống tiện nghi, mà là phát triển con người và dân tộc Việt Nam, làm cho nền văn hoá Việt Nam ngày càng tiên tiến, hiện đại và ngày càng đậm đà bản sắc. Như vậy, mục tiêu cho cả của công nghiệp hoá - hiện đại hoá là đạt đến một nền văn hoá nhân văn - nền văn hoá người nhất: nền văn hoá tất cả vì con người, con người ở đây được phát triển toàn diện, hài hòa mang tâm hồn, lý tưởng, sắc thái Việt Nam. Theo phương châm đó, CNH - HĐH ở Việt Nam phải lấy văn hóa truyền thống làm nền tảng và động lực, lấy việc làm đậm đà bản sắc văn hóa làm mục tiêu. Trong công nghiệp hoá - hiện đại hoá, một mặt, để hoà vào được trình độ phát triển thế giời, mặt khác, giữ gìn được bản sắc văn hoá của mình, chúng ta cần phát huy các giá trị truyền thống để tiếp thu những thành quả khoa học - công nghệ - tin học hiện đại, lấy yếu tố nội sinh làm chủ thể nghĩa là yếu tố nội sinh phải đóng vai trò quyết định trong việc định hướng các mối quan hệ của chúng với các yếu tố ngoại sinh, còn các yếu tố ngoại sinh phải trở thành tố chất kích thích sự tiến hoá của các yếu tố nội sinh.
  16. Hội nhập trên cơ sở định hướng với sự lựa chọn tối ưu là làm sao tích hợp được nhiều tinh hoa đặc sắc của nhiều nền khoa học - kỹ thuật - công nghệ và cách điều tiết nền kinh tế - xã hội của nhiều nước một cách hợp lý, phù hợp với đặc điểm và điều kiện dân tộc mình. Nếu nhân danh sự tiếp thu mà bê nguyên xi những cái bên ngoài thì rất cuộc văn hoá sẽ bị mất gốc, bị đồng hoá. Mất nước, chúng ta còn giành lại được nước, nhưng mất bản sắc văn hoá dân tộc thì lịch sử thế giới đã cho thấy, sẽ mất tất cả! Tiếp thu trên tư thế chủ động là điều kiện của việc xử lý mối quan hệ biện chứng nội sinh, ngoại sinh. Điều đó có nghĩa, chủ thể tiếp nhận phải có đủ kiến thức và trình độ đối thoại với đối tác một cách tự tin. Nguyên tắc tiếp thu là lấy bản sắc văn hoá của mình làm gốc, lấy tiêu chí văn hoá dân tộc làm bộ lọc, tiếp thu các giá trị khoa học công nghệ - văn hoá hiện đại của thế giới, lấy cái tiến bộ bổ sung cho những thiếu hụt trong văn hoá truyền thống, tạo thuận lợi cho văn hoá dân tộc phát triển. Đối thoại là bình đẳng và tự do nhưng trên nguyên tắc giữ vững chủ quyền: không để đối tác mạnh khống chế và lấn át, không để các yếu tố độc hại thâm nhập thông qua các con đường chuyển giao công nghệ, kinh tế, khoa học, nghệ thuật, thông tin… Nhiều nước Châu Á, Châu Phi và Mỹ la tinh đã đặt nhiều hy vọng vào con đường hiện đại hoá theo mô hình các nước Âu - Mỹ. Người ta đã đồng nhất hiện đại hoá với phương Tây hoá. Kết quả là, sự thu nhập tuỳ tiện các giá trị bên ngoài không phù hợp với chính mình đã làm cho những chuẩn mực giá trị văn hoá truyền thống bị biến chất, khiến cho các nước đó không nhưng không đạt được mục tiêu hiện đại hoá mà còn đưa đất nước lâm vào tình trạng rối loạn. Chúng ta học tập kinh nghiệm công nghiệp hoá - hiện đại hoá của các nước nhưng không bê nguyên xi các mô hình của họ, mà phải cải biến, sáng tạo chúng thành các giá trị văn hoá mới của Việt Nam, sắp xếp lại các thang giá trị cho thích hợp, cải biến, sáng tạo ra các hình thức mới để biểu đạt sâu sắc nội dung giá trị văn hoá Việt Nam, tạo ra thế và lực phát triển văn hoá dân tộc Việt Nam. Tiến tới hiện đại hoá mọi lĩnh vực đất nước trong đó có văn hoá theo hướng toàn cầu hoá. Điều đó không có nghĩa là đồng nhất hoá các giá trị và các tiêu chí văn hoá dân tộc với mọi nền văn hoá khác. Điều này đã được Tổng thư ký UNESCO cảnh báo: “Xu hướng toàn cầu hoá có thể gây phương hại tới tính sáng tạo và đa văn hoá của thế giới, tạo ra sự đồng nhất nghèo nàn về văn hóa". Chúng ta thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá là nhằm làm phong phú và hiện đai hoá văn hoá Việt Nam, làm đậm đà và bền vững thêm bản sắc văn hoá của mình, chứ không để cho nó bị hoà tan, làm sao để vào khoảng những năm 20 của thiên niên kỷ tới, dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam được sống trong một xã hội hiện đại với nền văn hoá đặc sắc của chính mình. Câu hỏi đã giải đáp Xem câu khác » Hiện đại hóa - công nghiệp hóa? cho em hỏi tính tất yếu khách quan của CNH-HĐH và tác dụng của CNH-HĐH ở Nước ta.....help me!!
  17. • cách đây 2 năm Báo cáo vi phạm by Hương Tình Yêu Bảy Dặm Thành viên từ: ́ ̣ 22 thang môt 2008 Tổng số điểm: 2100 (Cấp bậc 3) • Thêm vào Danh bạ • Chặn người này Câu trả lời hay nhất - Do người sử dụng bình chọn a- Tính tất yếu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế. - Mỗi phương thức sản xuất của xã hội chỉ có thể được xác lập một cách vững chắc trên một cơ sở vật chất - kỹ thuật thích ứng nhất định và chính cơ sở vật chất - kỹ thuật này là một trong những nhân tố quan trọng nhất để xác định phương thức sản xuất đó thuộc loại hình xã hội - lịch sử nào và thuộc thời đại kinh tế nào. Công nghiệp hoá là quá trình tạo dựng nên cơ sở vật chất - kỹ thuật đó. - Cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH, một mặt là sự kế thừa những thành quả đạt được trong xã hội Tư bản, mặt khác nó được phát triển và hoàn thiện trên cơ sở những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại và theo yêu cầu của chế độ xã hội mới. Đó chính là một nền công nghiệp có công nghệ tiên tiến. Công nghiệp hoá là một tất yếu khách quan mang lại thành tựu đó cho nền sản xuất xã hội. - Các nước đxa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa bước vào thời kỳ quá độ xây dựng CNXH, tiến hành thực hiện quá trình tái công nghiệp hoá nhằm điều chỉnh, bổ xung và hoàn thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật và công nghệ hiện đại theo yêu cầu của chế độ xã hội mới. - Các nước có nền kinh tế chưa phát triển cao, nhất là các nước nông nghiệp lạc hậu thì tiến lên CNXH, tiến hành công nghiệp hoá Xã hội chủ nghĩa để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH là một tất yếu khách quan. Không tiến hành công nghiệp hoá thì không thể xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật, không thể thực hiện phân công lao động xã hội, không có Chủ nghĩa Xã hội. b- Tác dụng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá - Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình làm biến đổi về chất lựclượng sản xuất và là quá trình xã hội hoá nền sản xuất. Nhờ đó mà năng suất lao động xã hội tăng lên cao góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân và tích luỹ cho nền kinh tế, nhờ đó mà nền kinh tế tăng trưởng và phát triển. - Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo ra được những cơ sở vật chất - kỹ thuật và công nghệ hiện đại làm cơ sở kinh tế vững chắc cho việc xây dựng, củng cố và phát huy vai trò kinh tế của Nhà nước. - Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình thực hiện phân công lại lao
  18. động xã hội, phân vùng kinh tế theo hướng chuyên môn hoá sản xuất, làm cho nền sản xuất xã hội phát triển đồng đều khắp mọi miền và mọi vùng. Từ đó tạo tiền đề xoá bỏ sự bất bình đẳng về kinh tế giữa đồng bào các dân tộc, giữa thành thị và nông thôn. - Công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo tiền đề vật chất xây dựng nền kinh tế dân tộc tự chủ làm cơ sở vững chắc thực hiện sự phân công và hợp tác kinh tế Quốc tế. - Công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo điều kiện cho việc tăng cường, củng cố và hiện đại hoá nền quốc phòng và an ninh nhân dân. Thật sự đây là câu hỏi khó đấy bạn ạ. Hy vọng mình hỏi đã giải đáp Xem câu khác » Công nghiệp hóa hiện đại hóa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam.? lam giúp em nhé. em đang cần gấp. thank. • cách đây 1 năm Báo cáo vi phạm by Long Khanh K Thành viên từ: ́ ́ 08 thang chin 2008 Tổng số điểm: 13626 (Cấp bậc 6) Hình Huy hiệu: Đóng góp tại: Tác phẩm & Tác giả • Thêm vào Danh bạ • Chặn người này Câu trả lời hay nhất - Do người sử dụng bình chọn Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một giai đoạn của quá trình phát triển xã hội, là sự biến đổi cơ cấu của nền kinh tế nông nghiệp và thủ công sang nền kinh tế công
  19. nghiệp và dịch vụ với khoa học công nghệ hiện đại. Giai đoạn này phải được đánh dấu sự thay đổi về tính hiệu quả, tính công nghiệp, tính bền vững của sự phát triển. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước ta theo định hướng XHCN thể niện ở các mục tiêu sau: - Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lí. Lực lượng sản xuất đạt trình độ tương đối hiện đại, phần lớn lao động thủ công được thay thế bằng lao động sử dụng máy móc, điện khí hoá cơ bản được thực hiện trong cả nước, năng suất lao động xã hội vàhiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn nhiều so với hiện nay, GDP tăng từ 8 đến 10 lần so với năm 1990. Trong cơ cấu kinh tế, tuy nông nghiệp cần phát triển mạnh, nhưng công nghiệp và dịch vụ chiếm tỉ lệ cao, Khoa học-Công nghệ phát triển, hiện đại. - Có quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Chế độ sở hữu, cơ chế quản lí và chế độ phân phối gắn kết với nhau, phát huyđược các nguồn lực, tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội. Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế hợp tác xã trở thành nền tảng của nền kinh tế. Kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân chiếm tỉ trọng đáng kể. Kinh tế tư bản Nhà nước dưới các hình thức khác nhau tồn tại phổ biến. - Nhân dân có đời sống vật chất và tinh thần cao; Quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.Về đời sống vật chất và văn hoá, tinh thần nhân dân có cuộc sống no đủ, có nhà ở tương đối tốt, có điều kiện thuận lợi về đi lại, học hành, chữa bệnh, có mức hưởng thụ văn hoá khá. Quan hệ xã hội lành mạnh, lối sống văn minh gia đình hạnh phúc. Thực hiện được các mục tiêu trên là đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp, là một bước tiến lớn trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản