Câu hỏi:Những chính sách xã hội đối với sinh viên hiện nay có những ưu điểm và phát huy tác dụng ra sao? Còn những hạn chế gì và phương hướng khắc phục

Chia sẻ: Ma Dinh Tuan | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:7

0
635
lượt xem
214
download

Câu hỏi:Những chính sách xã hội đối với sinh viên hiện nay có những ưu điểm và phát huy tác dụng ra sao? Còn những hạn chế gì và phương hướng khắc phục

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sinh viên là tầng lớp trí thức, là chất xám của xã hội. Chính sách xã hội dành cho sinh viên hiện nay đang được Đảng và chính phủ quan tâm đầu tư bao gồm nhiều dự án và hạng mục. Những hạng mục và dự án đó đã tác động không nhỏ đến quá trình học tập của sinh viên, đặc biệt là sinh viên nghèo miền núi, vùng sâu, vùng xa… Ngoài những măt tích cực thì nó cũng có những mặt hạn chế. Để thấy rõ được điều đó mời các bạn cùng tham khảo một số chính sách qua nội dung chi tiết của tài liệu .

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Câu hỏi:Những chính sách xã hội đối với sinh viên hiện nay có những ưu điểm và phát huy tác dụng ra sao? Còn những hạn chế gì và phương hướng khắc phục

  1. Câu hỏi:Những chính sách xã hội đối với sinh viên hiện nay có những ưu điểm và phát huy tác dụng ra sao? Còn những hạn chế gì và phương hướng khắc phục. Bài làm Sinh viên là tầng lớp trí thức, là chất xám của xã hội. Chính sách xã hội dành cho sinh viên hiện nay đang được Đảng và chính phủ quan tâm đầu tư bao gồm nhiều dự án và hạng mục. Những hạng mục và dự án đó đã tác động không nhỏ đến quá trình học tập của sinh viên, đặc biệt là sinh viên nghèo miền núi, vùng sâu, vùng xa… Ngoài những măt tích cực thì nó cũng có những mặt hạn chế. Để thấy rõ được điều đó thì ta sẽ xét một số chính sách sau đâ. Thứ nhất:Chính sách tín dụng đối với học sinh, sinh viên bao gồm 15 điều quy định về đối tượng, trách nhiệm và quyền lợi của đối tượng vay vốn. Chính sách này đã tác động tích cực đến đời sống của sinh viên. Những mặt tích cực đó thể hiện qua các mặt sau đây: Đời sống vật chất: Nguồn vốn của nhà nước thông qua chính sách vay vốn đến tay sinh viên đã góp phần trang trải đời sống, sinh hoạt. Điều kiện học tập. Nguồn vốn của chính phủ đã làm cho điều kiện học tập của sinh viên thay đổi theo hướng tích cực. Nếu không có nguồn vốn đó thì việc mua sách tham khảo, dụng cụ hoặc các dịch vụ học tập của sinh viên sẽ rất hạn chế. Khi có nguồn vốn đó sinh viên có điều kiện mua sắm dụng cụ học tập, sử dụng đầy đủ các dịch vụ học tập như học thêm, đi thực tế… Làm cho sinh viên có cái nhìn tích cực hơn về chế độ. Họ thấy rằng chế độ mà họ đang sống, học tập và rèn luyện là một chế độ trọng nhân 1
  2. tài. Họ cảm thấy được coi trọng do vậy họ tích cực phấn đấu và bảo vệ chế độ. Việc đầu tư của nhà nước đã làm cho đối tượng học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề được mở rộng, không hạn chế như những năm chưa có chính sách tín dụng. Chính sách tín dụng của nhà nước đối với sinh viên được đánh giá là chính sách thực thi nhất trong thời gian vừa qua. Nhờ chính sách này mà những con em dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo có điều kiện sống thiếu thốn, kinh tế còn nhiều khó khăn được theo học ở những nơi có chất lượng đào tạo cao. Lịch sử cho thấy những triều đại phong kiến nào biết trọng hiền tài, chiều hiền đãi sỹ thì vững bền và phát triển, còn những triều đại nào không coi trọng việc này thì cũng sớm đi vào suy vong. Chính vì vậy mà mới có câu nói “ Hiền tài là nguyên khí quốc gia” nguyên khí đó có thịnh thì nước mới thịnh, nguyên khí suy thì thế nước cũng theo đó mà suy. Kế thừa kinh nghiệm đó nhà nước ta đã đầu tư vào giáo dục. Việc đầu tư đó là việc làm gián tiếp tạo động lực cho tổ quốc phát triển. Khi có vốn vay cua nhà nước, không phải chỉ có tác dụng giúp cho sinh viên có điều kiện học tập trước mắt tốt hơn mà nó còn có thể được dung vào việc đầu tư sản xuất tạo ra nguồn thu lâu dài để sinh viên có thể theo học. Ví dụ như có thể đầu tư vào chăn nuôi để tạo ra lợi nhuận… Điều kiện vay vốn đơn giản do vậy nó mở rộng nhiều đối tượng. Đối với mỗi đối tượng thì áp dụng điều kiện vay vốn khác nhau. Điều kiện vay vốn có nhiều điểm rất linh hoạt. Ví dụ như: Đối tượng là sinh viên thì phải có người đứng vay là cha mẹ, và người này có trách nhiệm trả lãi và vốn gốc. Tuy nhiên khi đối tượng là sinh viên mà mồ côi cả cha lẫn mẹ thì được tự vay vốn ở ngân hàng chính sách xã hội nơi cơ quan học tập của sinh viên đó đóng. 2
  3. Hồ sơ vay vốn đơn giản, rõ rang, dễ thực hiện, không phức tạp như những thủ tục vay vốn khác, lãi suất thấp, thời hạn trả nợ dài. Ngoài những mặt tích cực đó thì chính sách tín dụng cho sinh viên cũng không ít những mặt hạn chế như:  Mức vốn cho vay thấp so với nhu cầu thực tế của sinh viên. Trên thực tế cho thấy, với số tiền là 800.000 đồng/ tháng mà lại học tập ở những trung tâm giáo dục đào tạo lớn như Hà Nội thì sinh viên nghèo không thể đủ để trang trải cuộc sống.  Sự thay đổi mức vốn cho vay không có sự linh động theo giá cả thị trường. Giá cả thị trường thay đổi theo chiều hướng đi lên nhưng nguồn vốn cho vay của nhà nước thì ít thay đổi.  Triển khai không có sự thống nhất giữa các cấp. Ví dụ mức vay vốn của nhà nước cho sinh viên năm 2009 là 860.000 đồng / tháng. Tuy nhiên triển khai trên thực tế lại không đúng. Những sinh viên làm hồ sơ trước khi có quyết định này thì mức vay vẫn là 800.000 đồng/ tháng. Đây là do việc tổ chức quản lý dự án không chặt chẽ.  Điều kiện cho vay không rõ ràng, cụ thể cho nên tạo điều kiện cho một số đối tượng không thuộc đối tượng cũng được vay vốn để đem số vốn đó đi thả lãi. Phương hướng khắc phục: Chúng ta có thể khắc phục các mặt hạn chế đó bằng cách thiết lập một cơ quan chủ quản chịu trách nhiệm quản lí việc cho vay và thu nợ, điều tiết vốn kịp thời sao cho nguồn vốn đó phù hợp với biến động giá cả của thị trường. Có những quy định chặt chẽ hơn về đối tượng vay vốn tránh gây thất thoát tài sản của nhà nước. Nói tóm lại, chính sách tín dụng cho sinh viên tuy có nhiều hạn chế nhưng tác động tích cực của nó là rất lớn, nó làm thay đổi đời sống, điều kiện học tập của sinh viên nghèo, vinh viên có hoàn cảnh khó khăn, sinh 3
  4. viên dân tộc thiểu số... Ngoài ra nó còn nâng cao niềm tin của sinh viên vào chế độ, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Thứ hai là chính sách học bổng cho sinh viên( cũng thuộc dạng chính sách khuyến học). Hiện nay Đảng và nhà nước ta đang thực hiện một chính sách rất hữu ích dành cho sinh viên đó là chính sách học bổng. Trong chính sách này có học bổng trợ cấp học tập và học bổng học tập. Đối với chính sách học bổng học tập thì bao gồm những mặt tích cực sau đây:  Có tác dụng khuyến khích sinh viên phấn đấu học tập, tu dưỡng và rèn luyện để hoàn thiện mình.  Có tác dụng động viên kịp thời những sinh viên có thành tích cao trong học tập và rèn luyện, tạo ra sự hứng thú học tập.  Góp phần trang trải một phần nào đó cho cuộc sống sinh hoạt và học tập của sinh viên. Đối với chính sách học bổng trợ cấp học tập(đây là loại học bổng dành cho dân tộc thiêu số vùng cao) thì ngoài những tác dụng như học bổng học tập còn có tác dụng hỗ trợ con em dân tộc thiểu số vùng cao theo học tiếp thu kiến thức về xây dựng quê hương. Hạn chế của chính sách này là số lượng quá ít và mức thưởng còn nhỏ. Chính vì vậy mà nó chưa có tác động lớn đối với đời sống của sinh viên, đặc biệt là sinh viên ngheò, con em dân tộc thiểu số. Phương hướng khắc phục: Tăng các mức học bổng, xã hội hoá học bổng để cho nhiều cá nhân, tổ chức tham gia. Nếu có điều kiện thì nên mở rộng về đối tượng nhận học bổng. Thứ ba là chính sách miễn giảm học phí. Chính sách miễn giảm học phí hầu hết được áp dụng cho các hệ thống trường đại học cả trong và 4
  5. ngoài công lập. Đối tượng là những sinh viên thuộc diện chính sách xã hội như con em thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, con em dân tộc thiểu số vùng cao… Chính sách này cũng thuộc dạng chính sách khuyến học nói chung. Nó có những ưu điểm và tác dụng như sau:  Chính sách miễn giảm học phí đã làm giảm bớt phần nào gánh nặng cho sinh viên về vấn đề học phí. Số tiền không phải đóng đó sinh viên có thể dùng cho các hoạt động khác phục vụ mục đích học tập. Đối với sinh viên thuộc con em dân tộc vùng cao có hoàn cảnh khó khăn thì hơn 200.000 đồng một tháng là một số tiền rất lớn, giúp được rất nhiều cho họ trong cuộc sống thường ngày.  Thể hiện được tinh thần uống nước nhớ nguồn của dân tộc.  Thể hiện được quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân về công cuộc xoá đói, giảm nghèo, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi. Tuy nhiên nó cũng có một số hạn chế cần khắc phục đó là đối tượng được hưởng chính sách này còn bó hẹp, trong khi đó đa phần sinh viên thuộc hộ nghèo(Đối tượng nghèo nhiều hơn so với thực tế, đặc biệt là ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa). Sinh viên thuộc hộ nghèo chỉ được miễn giảm chứ không được miễn hoàn toàn. Đây là điều bất cập hiện nay bởi vì họ có thể bị thôi học nếu không có đủ tiền để đóng học phí. Giải pháp: Cần phải mở rộng đối tượng miễn giảm thì mới có thể thu hút được đông đảo sinh viên theo học. Đôí với sinh viên thuộc diện hộ nghèo thì nên phải miễn hoàn toàn học phí. Thứ tư là chính sách nhà ở cho sinh viên. Nhà ở cho sinh viên là một vấn đề nóng bỏng trong giai đoạn hiện nay vì số lượng sinh viên thì rất lớn còn nhà ở cho sinh viên lại hạn chế. Chính vì vậy mà dẫn đến nhiều 5
  6. bất cập diễn ra trong cuộc sống sinh viên như: giá thuê nhà thì đắt đỏ, an ninh không đảm bảo, vệ sinh thì kém…Trong những năm gần đây, Đảng và nhà nước ta đã trú trọng đầu tư xây dựng nhà ở cho sinh viên. Hệ thống các kí túc xá được xây dựng đê phục vụ cho sinh viên và nó đã phát huy tác dụng rất tích cực. Cụ thể như sau:  Số tiền chi ra cho chỗ ăn, nghỉ đã không thành nỗi lo thường trực của sinh viên. Sinh viên chỉ phải nộp số tiền khoảng 100.000 là đã đủ để ở một tháng với môi trường sạch sẽ và tiện nghi đầy đủ.  Sinh viên được đảm bảo an ninh khi sống trong kí túc xá, tình trạng trộm cắp không thường xuyên xảy ra như khi trọ ở ngoài kí túc xá.  Sinh viên thuộc diện chính sách được ưu tiên vào ở trong kí tuca xá.  Hệ thống kí túc xá khá nhiều và giải quyết được phần nào đó nhu cầu của sinh viên. Tuy nhiên nó cũng có những hạn chế nhất định:  Việc quản lí kí túc xá không đựơc chặt chẽ, nhiều kí túc xá không có mối liên hệ chặt chẽ với trường do vậy mà có những tình trạng là sinh viên cầm trên tay giấy giới thiệu của nhà trường nhưng kí túc xá thì nhất quyết không nhận với lí do là đang xắp xếp. Điều này gây ra khó khăn rất lớn cho sinh viên là con em dân tộc thiểu số ở vùng cao ít có dịp xuống Hà Nội và các trung tâm kinh tế, văn hoá lớn.  Hệ thống kí túc xá hiện tại còn quá hạn chế so với nhu cầu thực tế. Kí túc xá của nhiều trường Đại học mới chỉ dừng lại ở đối tượng chính sách.  Một số hệ thống kí túc xá đang trong tình trạng xuống cấp, không đạt yêu cầu an toàn, vệ sinh và tiện nghi. 6
  7.  Hệ thống an ninh kí túc xá vẫn chưa đảm bảo, vẫn còn tình trạng xô sát giữa các sinh viên trong kí túc xá và còn xảy ra trộm cắp. Cần phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống kí túc xá, mở rộng đối tượng được lưu trú trong kí túc xá, lực lượng bảo vệ và an ninh kí túc xá phai được huấn luyện, giữa kí túc xá và nhà trường phải có sự liên hệ thống nhất. Ngoài ra nên có thêm chính sách tiền điện, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng… cho sinh viên vì hiện nay hầu hết sinh viên trọ ngoài kí túc xá phải chịu mức tiền điện như các hộ gia đình, khi ra trường phải có nghề nghiệp ổn định… (điện kinh doanh). Nếu như các chính sách nói trên được thực hiện mà chính sách này không được thực hiện thì vấn đề hỗ trợ cho sinh viên về điều kiện sinh hoạt và học tập vẫn chưa thể đạt kết quả cao. Tóm lại, hiện nay nhà nước ta đang thực hiện nhiều chính sách nhằm bồi dưỡng và phát triển nhân tài cho đất nước. Các chính sách đó đã có tác động rất lớn đến đời sống sinh viên cả về vật chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên nó cũng có những tiêu cực, hạn chế nhất định. Nếu có biện pháp khắc phục hiệu quả thì nó sẽ có tác động rất tích cực trong việc phát triển nguồn nhân lực trí thức cho đất nước. 7

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản