Cấu tạo hoá học của prôtêin

Chia sẻ: Nguyen Phuonganh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
140
lượt xem
40
download

Cấu tạo hoá học của prôtêin

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

. Acid amin - đơn vị cơ bản cấu tạo nên phân tử protein Vào đầu thế kỷ XIX (thời kỳ của nhà hoá học Hà Lan Mulder) người ta chưa phân biệt được protein của động vật và thực vật.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Cấu tạo hoá học của prôtêin

  1. Cấu tạo hoá học của prôtêin 1. Acid amin - đơn vị cơ bản cấu tạo nên phân tử protein Vào đầu thế kỷ XIX (thời kỳ của nhà hoá học Hà Lan Mulder) người ta chưa phân biệt được protein của động vật và thực vật. Người ta tưởng rằng protein là đồng nhất, chỉ khác nhau về số lượng ở các sinh vật. Mãi cho tới năm 1820 lần đầu tiên Bracono đã dùng kiềm và acid đặc để thuỷ phân protein ở nhiệt độ cao (100 -
  2. 1200c) Và đã thu được Các acid amin đầu tiên, trong đó có tinh thể glycocol. Năm 1871 Lubavin đã cho thấy rằng protein dưới tác dụng của các dịch tiêu hoá phân tích thành các acid amin. Đặc biệt công trình của Fisher (1901 - 1902) đã có ý nghĩa quan trọng về việc nghiên cứu bản chất hoá học của protein. Tất cả các công trình nghiên cứu trên đã cho chúng ta thấy rằng: thành phần phân tử của protein là các acid amin. Ngày nay, người ta đã tìm thấy hơn 200 acid amin khác nhau, nhưng trong thành phần của protein tự nhiên thường có 20 loại acid amin.
  3. 1.1. Định nghĩa acid amin Acid quân là một acid hữu cơ, mà trong đó một nguyên tử hydro của gốc carbonalfa (Ca) được thay thế bởi nhóm quan (NH2) Nếu trong một acid amin có hai nhóm quản thì nhóm quan thứ 2 nằm ở vị trí carbon cuối cùng kể từ nhóm carboxyl (COOH). Ví dụ:
  4. 1.2. Hoạt tính quang học của acid amin Chỉ trừ glycin trong phân tử chất này không có nguyên tử carbon bất đối, còn tất cả các acid amin còn lại đều có ít nhất một nguyên tử carbon bất đối (tức là bốn hóa trị của nó được bão hòa bởi bốn nhóm nguyên tử khác nhau - ký hiệu C*), do đó chúng đều có khả năng làm quay mặt phẳng phân cực của ánh sáng, nghĩa là chúng đều là những chất hoạt quang. Tất cả các acid amin có trong thành phần protein đều có cấu hình L ở nguyên tử carbon a, các acid amin có cấu hình D rất ừ gặp trong thiên nhiên.
  5. Chữ L cho ta biết cấu lluul của phân tử chứ không cho ta biết hướng góc quay của mặt phẳng phân cực . - Các đồng phân hữu tuyến (làm quay mặt phẳng phân cực sang phải) được ký hiệu bằng dấu (+) - Các đồng phân tả tuyến (làm quay mặt phẳng phân cực sang trái) được ký hiệu bằng dấu (-) Người ta qui ước rằng đối với glucid, chất aldehyd D-glyceric được chọn làm chất tiêu chuẩn để so sánh, còn đối với acid amin L-serin được chọn làm chất tiêu chuẩn.
  6. Đa số các acid amin dãy D đều có vị ngọt, còn các acid quân thiên nhiên thuộc dãy L - thì đều có vị đắng hoặc không vị. Các acid amin tổng hợp đều là những RAXEMAT không có tính hoạt quang, nghĩa là một hỗn hợp cùng phân tử của dạng D và dạng L.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản