CẤU TRÚC MÔ CỦA CÁC CƠ QUAN TRÊN CÁ LÓC CẤU TRÚC MÔ CỦA CÁC CƠ QUAN TRÊN CÁ LÓC

Chia sẻ: bandoctl

Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng hạ lưu châu thổ sông Mê-Kông, được xem là vùng trù phú nhất không chỉ của Việt Nam mà còn của cả khu vực Đông Nam Á. Nơi đây có đặc trưng của một châu thổ thuộc miền nhiệt đới ẩm điển hình. Với hệ thống sông ngòi chằng chịt, ĐBSCL còn là vùng nuôi thủy sản lớn nhất của cả nước, sản lượng nuôi trồng thủy sản chiếm khoảng 65%, diện tích nuôi trồng khoảng 60% và giá trị xuất khẩu thủy sản chiếm đến 51% của cả nước (Dương Nhựt...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: CẤU TRÚC MÔ CỦA CÁC CƠ QUAN TRÊN CÁ LÓC CẤU TRÚC MÔ CỦA CÁC CƠ QUAN TRÊN CÁ LÓC

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN




NGUYỄN THỊ NGỌC HƯỜNG




CẤU TRÚC MÔ CỦA CÁC CƠ QUAN TRÊN CÁ LÓC
CẤU TRÚC MÔ CỦA CÁC CƠ QUAN TRÊN CÁ LÓC
(Channa Sttriiatta Blloch,, 1793)
(Channa S r a a B och 1793)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CHUYÊN NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN




2008
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN




NGUYỄN THỊ NGỌC HƯỜNG




CẤU TRÚC MÔ CỦA CÁC CƠ QUAN TRÊN CÁ LÓC
CẤU TRÚC MÔ CỦA CÁC CƠ QUAN TRÊN CÁ LÓC
(Channa Sttriiatta Blloch,, 1793)
(Channa S r a a B och 1793)


Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CHUYÊN NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN




CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
PHẠM THANH LIÊM
ĐẶNG THỤY MAI THY




2008
Chương I
GIỚI THIỆU

Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng hạ lưu châu thổ sông Mê-Kông,
được xem là vùng trù phú nhất không chỉ của Việt Nam mà còn của cả khu
vực Đông Nam Á. Nơi đây có đặc trưng của một châu thổ thuộc miền nhiệt
đới ẩm điển hình. Với hệ thống sông ngòi chằng chịt, ĐBSCL còn là vùng
nuôi thủy sản lớn nhất của cả nước, sản lượng nuôi trồng thủy sản chiếm
khoảng 65%, diện tích nuôi trồng khoảng 60% và giá trị xuất khẩu thủy sản
chiếm đến 51% của cả nước (Dương Nhựt Long, 2003). Nhiều mặt hàng thủy
sản của vùng không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn có giá trị xuất
khẩu cao. Trong đó, cá lóc (Channa striata Bloch, 1973) là loài cá quen thuộc
của người dân, được nuôi phổ biến khắp các tỉnh ĐBSCL, không chỉ bởi đặc
điểm dễ nuôi, chất lượng thịt ngon mà còn do chúng có giá trị dinh dưỡng cao
và phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Thời gian qua hiệu quả lợi nhuận thu
được từ hoạt động nuôi đối tượng này đã góp phần cải thiện và nâng cao điều
kiện sống của nhiều bà con nông thôn ĐBSCL.
Trong những năm gần đây, nghề thủy sản ngày càng phát triển và người dân
không ngừng đưa mô hình nuôi thâm canh vào trong nuôi trông thủy sản để
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nhiễm môi cứu
tăng năng suất. Vấn đề này đã dẫn đến sự gia tăng khả năng ô nghiên
trường, cũng như những hiện tượng bệnh trên các đối tượng nuôi…Trước tình
hình đó, việc nghiên cứu cấu trúc vi thể và chức năng hoạt động của các cơ
quan trên cá khỏe cũng như những thay đổi cấu trúc của cá khi nhiễm bệnh là
hết sức cần thiết. Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhiều
phương pháp đã được áp dụng để hỗ trợ cho việc nghiên cứu cá cũng như các
đối tượng thủy sản khác, và mô học được xem là một trong những phương
pháp hiệu quả. Phương pháp mô học đã và đang được các nhà khoa học vận
dụng vào nghiên cứu của họ trên nhiều động vật khác nhau. Nó được xem như
là khoa học nghiên cứu sự phát triển, cấu tạo và hoạt động của các mô, cơ
quan của cơ thể. Bằng phương pháp này, ta có thể quan sát được cấu trúc vi
thể của các cơ quan trong cơ thể của cá nói riêng ở từng giai đoạn phát triển
của chúng, cũng như chẩn đoán và phòng bệnh trên các động vật thủy sản.
Vì những lý do trên, đề tài “Cấu trúc mô của các cơ quan trên cá lóc (Channa
striata Bloch, 1973)” được thực hiện nhằm mục đích: thành lập một bộ sưu tập
cấu trúc vi thể của các cơ quan trên cá lóc khỏe tạo tiền đề cho những nghiên
cứu tiếp theo.




1
Nội dung đề tài
Dùng phương pháp mô học để quan sát cấu trúc 9 cơ quan trên cá lóc khỏe
gồm: da, cơ, mang, tim, gan, thận, tỳ tạng, dạ dày và ruột.
Phân tích và mô tả cấu trúc vi thể của các cơ quan đã quan sát.




Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu




2
Chương II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Sơ lược về nghiên cứu mô học
Việc nghiên cứu tế bào và mô học bắt đầu từ thế kỷ XVII nhưng mãi đến gần
cuối thế kỷ XIX, tế bào học và mô học mới thực sự được coi là ngành khoa
học.
Malpighi (1624-1694), một trong số những nhà khoa học Châu Âu đã có hàng
loạt phát hiện có giá trị trong việc nghiên cứu tế bào và mô. Vào khoảng
những năm 1675-1680, ông đã mô tả cấu tạo của da, thận, lách và một số cơ
quan khác của cơ thể, do đó một số cấu trúc đã được mang tên ông. Năm
1677, người thợ kính Hà Lan Anatolie Leeuwenhoek đã chế tạo được chiếc
kính hiển vi có độ phóng đại đối tượng quan sát tới 300 lần. Từ đó, ông đã có
khả năng mô tả hồng cầu và sự vận chuyển chúng trong các mao mạch máu,
phát hiện những tinh bào, nhìn thấy những vạch sáng, tối của sợi cơ vân, cấu
tạo sợi thần kinh, sợi gân. Tuy vậy, việc nghiên cứu cấu tạo vi thể của cơ thể
động vật được tiến hành muộn hơn so với việc nghiên cứu thực vật. Vào năm
1825-1827, Purkinje mô tả nhân của noãn trong trứng gà và sau đó chính ông
đã mô tả bào tương của tế bào. Ít năm sau, Brown (1831) cũng mô tả nhân
Trung tâm Học bào thực vật.Cần Thơ @ Tài cứu của các nhà khoa học kể trên cứu
trong tế
liệu ĐH Những kết quả nghiên liệu học tập và nghiên
cũng như những công trình nghiên cứu của Dutrochet, Valentin, Schleiden đã
giúp cho Schwann xây dựng và công bố học thuyết tế bào vào năm 1839 (trích
dẫn bởi Phạm Phan Địch, 2004).
Xanvier Bichat (1771 -1802), giảng viên dạy giải phẩu học và phẩu thuật tại
trường đại học của Pari, đã đưa ra khái niệm chung đầu tiên về mô học trên
động vật, và từ đó mô học trở thành một phần của môn giải phẩu học dạy cho
sinh viên y khoa. Tiếp theo đó, các nhà động vật học đã vận dụng công cụ mới
này vào nghiên cứu của họ trên nhiều động vật khác nhau. Trước sự tiến bộ
của nghiên cứu mô học, các nhà sinh vật học đã nhận ra rằng đây là ngành
khoa học không chỉ hữu ích để nghiên cứu cơ quan bình thường mà còn là cơ
sở cho việc nghiên cứu những thay đổi bệnh lý của mô, cơ quan bệnh (trích
dẫn bởi Hibiya, 1982).
Thêm vào đó, sự có mặt của parrafin cũng góp phần không nhỏ đối với nghiên
cứu mô học. Năm 1830, Carl Reichenbach đã phát hiện ra sáp parrafin, chất
dùng cho việc cố định mẫu mô vào khung để cắt mẫu dễ dàng hơn. Nó là một
chất sáp màu trắng, không mùi, không vị, nhiệt độ nóng chảy khoảng 470C-
640C. Parrafin không tan trong nước nhưng có thể tan trong ete, benzen, và tan


3
ít trong este. Vì nhiệt độ nóng chảy của parrafin tương đối thấp và có thể đông
nhanh nên quá trình đúc khối mẫu mô được thực hiện một cách dễ dàng
(http://en.wikipedia.org/wiki/Paraffin).
Những thành công tiếp theo trong kỹ thuật mô học nữa thế kỷ XIX như việc
chế tạo máy cắt lát mỏng (microtome), cho phép người ta nghiên cứu tỉ mỉ cấu
trúc vi thể của các tế bào và mô. Máy microtome có khả năng cắt mẫu mô
thành những lát rất mỏng (vài micromet) để quan sát cấu trúc vi thể các mô, cơ
quan dưới kính hiển vi.
Đến cuối thế kỷ XIX, sau khi học thuyết tế bào ra đời thì ngành mô học mô tả
bắt đầu phát triển mạnh. Những thành phần khác nhau của các cơ quan và các
mô đã được nghiên cứu cẩn thận. Từ các kết quả đạt được trong lĩnh vực
nghiên cứu cấu tạo vi thể tế bào đã cho phép người ta tách việc nghiên cứu tế
bào thành một phần riêng biệt trong mô học gọi là Tế bào học. Học thuyết tế
bào không chỉ là cơ sở của việc nghiên cứu cấu trúc mô bình thường mà còn là
cơ sở của việc nghiên cứu những thay đổi bệnh lý của mô, cơ quan và đồng
thời nó cũng là cơ sở của việc nghiên cứu những hoạt động sinh lý (Phạm
Thanh Liêm, 2004).
Rudolph Virchow (1821 -1902), một nhà nghiên cứu bệnh người Đức đã đề
Trung tâm Họctưởng: “bệnh Cần Thơ đặc trưng liệunhững biến đổi ở nghiên cứu
xuất ý liệu ĐH có thể được @ Tài bởi học tập và cấp độ tế
bào”. Ý tưởng này của ông đã đóng góp to lớn cho học thuyết tế bào và cho sự
phát triển của mô bệnh học. Từ đó, mô học không chỉ được ứng dụng trong
nghiên cứu cấu trúc mô bình thường mà còn được áp dụng trong nghiên cứu
những biến đổi cấu trúc của các cơ quan khi bị nhiễm bệnh.
Những tiến bộ về mặt kỹ thuật mô đã thúc đẩy ngành mô học ngày càng phát
triển mạnh mẽ và chuyên sâu hơn trên nhiều đối tượng khác nhau. Và đến khi
thủy sản trở thành ngành mũi nhọn ở nhiều quốc gia thì mô học cũng trở thành
một công cụ không thể thiếu để nghiên cứu trên các đối tượng thủy sản.

2.2 Nghiên cứu mô học trên cá
Trên cá, nghiên cứu mô học và mô bệnh học đã được tiến hành khá nhiều trên
thế giới từ nữa cuối thế kỷ XX như:
Vào năm 1982, Hibiya đã dùng mô học để mô tả cấu trúc bình thường của tất
cả các cơ quan trên một số loài cá, đồng thời ông cũng phân tích những biến
đổi của các cơ quan ấy khi cá bị tác nhân gây bệnh xâm nhập. Tác giả đã
nghiên cứu trên các loài cá quan trọng như cá chép, cá hồi, cá chình (Anguilla
anguilla, Anguilla japonicus).



4
Cũng trong năm 1982, Groman đã dùng mô học để nghiên cứu cấu trúc mô
bình thường trên cá chẽm. Nghiên cứu này được tiến hành có ý nghĩa như một
tiền đề cho những nghiên cứu kế tiếp. Ông đã quan sát cấu trúc vi thể bình
thường của hệ hô hấp, hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, hệ tiêu hoá, hệ sinh dục, hệ
bài tiết,…ở nhiều giai đoạn của cá từ cá giống đến cá 3 năm tuổi.
Nash ctv. (1986) cũng đã dùng phương pháp mô học để xác định những thay
đổi vi thể trên các cơ quan cá khi bị vi khuẩn tấn công (trong nghiên cứu bệnh
vi khuẩn có liên quan đến dịch bệnh ở cá chẽm (Lates calcarifer) và cá bống
mú (Epinephalus tauvina). Nghiên cứu cho thấy nhiều thay đổi như: lớp biểu
bì ở da bị thoái hóa, vẩy bị mất, lớp bì và trung tâm các bó cơ xuất huyết và
hoại tử dữ dội, các tế bào bị viêm, sưng, chứa đầy các khuẩn lạc lớn gram âm.
Trên thận và tỳ tạng xuất hiện những vùng mô tạo máu bị hoại tử mất hết các
tế bào máu trưởng thành, viêm cầu thận và có sự xâm nhập của lympho bào.
Gan, tuyến tụy xuất hiện dịch viêm, hoại tử rãi rác và các trung tâm hoại tử…
(trích dẫn bởi Bùi Châu Trúc Đan, 2003).
Cũng vào năm 1986, Miyazaki ctv. mô tả những biến đổi mô bệnh học của cá
nheo Mỹ khi bị Ictalurus punctatus tấn công cùng với Ichthyobodo necator,
Ambiphyrya ameiuri, Apiosoma micropteri, và Heteropolaria colisarum. Sau
khi đã quan sát biểu hiện ngoài và kiểm tra ký sinh trùng, họ tiến hành làm
Trung tâm Học liệu ĐH Cầncác cơ quan Tàitạng. Kết quảtập thấy nghiên cứu
mẫu mô của da, mang và
Thơ @ nội liệu học cho và những sợi
mang bị nhiễm I. necator nặng sẽ có sự phát triển quá mức của tế bào biểu mô
mang, thay đổi này làm rối loạn hoạt động hô hấp của mang và ảnh hưởng đến
quá trình trao đổi chất của cơ thể. Còn khi A. ameiuri bám vào bề mặt cơ thể
gây ra sự thói hóa da, A. micropteri bám chặt vào mang làm thói hóa biểu mô
hô hấp, H. colisarum xâm nhập vào da thì hình thành những vết loét trên bề
mặt cơ thể kể cả các vi.
Nối tiếp những nghiên cứu về bệnh cá, Shariff (1989) tiến hành nghiên cứu
mô bệnh học trên mắt cá chép đầu lớn (Anristichthys nobilis) bị nhiễm trùng
mỏ neo (Lernaea piscinae). Kết quả của nghiên cứu này cho thấy sự thay đổi
mô bệnh học trên mắt cá khi trùng mỏ neo xâm nhập và phát triển trong nhiều
tế bào mô của mắt. Rukyani (1990) nghiên cứu thay đổi mô bệnh học trên
mang cá chép (Cyprinus carpio) bị nhiễm thích bào tử trùng (Myxobolus). Kết
quả cho thấy: các phiến mang bị dính lại, sưng viêm, xung huyết và hoại tử
khi mang cá bị túi thích bào tử trùng ký sinh nhiều (trích dẫn bởi Phạm Thị
Như Sang, 2006).
Chinabut ctv. (1991) đã nghiên cứu và mô tả cấu trúc vi thể của tất cả các cơ
quan trên cá trê trắng Clarias batrachus. Họ tiến hành nghiên cứu trên cá trê


5
trắng khỏe và đã mô tả cấu trúc bình thường của các hệ cơ quan như: hệ cơ, bộ
xương, hệ tiêu hóa, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ hô hấp, hệ sinh dục… Kết quả
của nghiên cứu này sẽ là cơ sở so sánh khi cá bệnh.
Nghiên cứu tiếp theo trên các đối tượng cá khỏe là nghiên cứu của Herrera
(1996) trên cá rô phi (Oreochromis niloticus). Ông cũng dùng mô học để
nghiên cứu và đã tiến hành mô tả cấu trúc vi thể các cơ quan như hệ da, hệ cơ,
hệ xương, hệ tiêu hóa, hệ hô hấp, hệ bài tiết, hệ sinh dục, hệ thần kinh, các cơ
quan cảm giác, hệ tuần hoàn,… Đối tượng thí nghiệm của ông trong nghiên
cứu này là cá rô phi ở giai đoạn từ một tuần tuổi (dài từ 1.0-1.3cm) đến cá
trưởng thành (dài từ 15-20cm).
Tiếp theo đó, phương pháp mô học cũng đã được Chinabut và Robert áp dụng
khi họ nghiên cứu về bệnh bệnh lở loét (Epizootic Ulcerative Syndrome- EUS)
trên cá vào năm 1999. Họ đã mô tả những biến đổi cấu trúc của các cơ quan
như da, cơ, thận, ống mật,… trên các loài: cá lóc, cá chép Ấn Độ, cá rô phi, cá
hồi,...
Ở nước ta nói chung và ở Đại học Cần Thơ nói riêng cũng đã có những nghiên
cứu mô học trên các đối tượng thủy sản, đặc biệt là trên cá tra như:
Nguyễn Quốc Thịnh (2002) với đề tài “Nghiên cứu mô bệnh đốm trắng trong
Trung tâm Học liệu ĐH Cần hypophthalmus)” liệu học tập vàcứu mô học cứu
nội tạng cá tra (Pangasius Thơ @ Tài đã tiến hành nghiên nghiên
trên cá tra nuôi ao, bè ở các cơ quan như: gan, thận, tỳ tạng, tim, mang, cơ của
cá khỏe và cá bệnh. Tác giả đã so sánh và đưa ra kết quả về những biến đổi
cấu trúc của mô cá bệnh so với cá khỏe như hiện tượng xung huyết, xuất huyết
và hoại tử.
Bùi Châu Trúc Đan (2003) cũng dùng phương pháp mô học nghiên cứu cấu
trúc vi thể của cá tra khỏe và cá tra bệnh phù mắt trên các cơ quan: da, cơ,
mang, tim, gan, thận, dạ dày, mắt… Dựa trên đặc điểm phân tích được từ cá
bệnh, tác giả kết kuận cá tra bị bệnh phù mắt có các tổn thương chủ yếu là
xung huyết, xuất huyết. Các cơ quan bị tổn thương nặng nhất là gan, tỳ tạng và
mắt với những vùng hoại tử và mất cấu trúc.
Cũng vào năm 2003, Trần Hồng Ửng đã tiến hành nghiên cứu sự thay đổi mô
tỳ tạng và số lượng tế bào bạch cầu trên cá tra có dấu hiệu trắng gan. Tác giả
tiến hành quan sát cấu trúc vi thể của tỳ tạng cá tra bình thường sau đó so sánh
với tỳ tạng của cá khi chúng có dấu hiệu trắng gan, đồng thời tác giả cũng so
sánh thành phần phần trăm các loại tế bào bạch cầu giữa cá bệnh và cá khỏe.
Kết quả cho thấy tỳ tạng ở cá bệnh có phần tủy trắng chiếm nhiều hơn so với
cá khỏe, khi cá bị bệnh nặng thì xuất hiện nhiều vùng hoại tử, tỳ tạng mất chức
năng sản sinh ra các tế bào hồng cầu, bạch cầu…

6
Đến năm 2004, Phan Thị Hừng dùng mô học nghiên cứu cá tra bị bệnh vàng
da trên các cơ quan như: gan, thận và tỳ tạng, đồng thời chị cũng nghiên cứu
về sự biến động số lượng tế bào hồng cầu của chúng khi bị bệnh. Sau khi so
sánh với cấu trúc mô của các cơ quan này ở cá bệnh với cá khỏe, tác giả cho
biết cá tra bị bệnh vàng da có cấu trúc mô gan, thận, tỳ tạng không thay đổi
nhiều so với cá khỏe. Tuy nhiên, do số lượng hồng cầu trong máu cá bệnh
giảm 50% so với ở cá khỏe nên lượng hồng cầu trong các mao mạch của gan,
thận, tỳ tạng cá bệnh rất ít so với cá khỏe...
Trần Thị Ngọc Hân (2006) đã tiến hành “Khảo sát mô học cá tra (Pangasius
hypophthalmus) bị bệnh mủ gan trong điều kiện gây cảm nhiễm”. Với đề tài
này, tác giả cũng mô tả sự biến đổi cấu trúc mô ở 9 cơ quan của cá tra giống
khi gây cảm nhiễm vi khuẩn Edwarsiella ictaluri, và tiến hành so sánh sự biến
đổi cấu trúc mô của cá ở 2 phương pháp gây cảm nhiễm: ngâm và tiêm. Kết
quả cho thấy thận và tỳ tạng là 2 cơ quan biến đổi đầu tiên khi cá bị vi khuẩn
gây bệnh xâm nhập. Trong cùng mật độ vi khuẩn, cấu trúc mô của mẫu thu ở
phương pháp tiêm có sự biến đổi nhanh hơn mẫu thu ở phương pháp ngâm…
Phạm Thị Như Sang (2006) nghiên cứu đặc điểm mô học của cá tra nuôi ao và
bè thâm canh trên 3 cơ quan: gan, thận, tỳ tạng. Kết quả phân tích cho thấy: cá
nuôi ao hay nuôi bè đều có biến đổi vi thể tương đối giống nhau trong cùng
Trung tâm Học liệu ĐH Cầncơ quan @ Tàiđều có học tập và nghiên cứu
biểu hiện bệnh. Trên cả 3
Thơ khảo sát liệu sự xuất hiện của trùng bào
tử sợi Myxozoa ký sinh làm cho các cơ quan này bị hoại tử và mất chức năng.

2.4 Vài nét về cá lóc
2.4.1 Đặc điểm sinh học của cá lóc
Theo Phạm Văn Khánh, 2000 thì cá lóc được phân loại như sau:
Bộ cá vược Perciformes
Họ cá Lóc Channidae
Giống cá Lóc Channa
Loài cá Lóc Channa striata Bloch, 1793
Cá lóc sống phổ biến ở đồng ruộng, kênh rạch, ao, hồ, sông… thích nghi được
cả với môi trường nước đục, nước tù, nước lợ và có thể chịu đựng nhiệt độ
trên 30oC (Ngô Trọng Lư và Thái Bá Hồ, 2001). Do có khả năng hô hấp phụ
nên chúng có thể sống rất lâu trên cạn chỉ cần ẩm ướt toàn thân. Cá sống chủ
yếu ở nước ngọt nhưng cũng gặp ở môi trường nước lợ 5 -7 o/oo (Phạm Văn
Khánh, 2000).



7
Cá lóc là loài cá dữ cơ thể có hình dạng tròn dài, thực quản ngắn và vách dày,
bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn. Dạ dày dạng túi, to, hình chữ Y. Quan
sát trong ống tiêu hóa của cá có chứa cá chiếm 63,01%, tép 35,94%, ếch nhái
1,03% và 0,02% là bọ gạo, côn trùng và mùn bã hữu cơ. Đặc điểm này chứng
tỏ đây là loài cá ăn động vật điển hình (Dương Nhựt Long, 2003).
Cá lóc có thể sinh sản quanh năm nhưng thường tập trung từ tháng 5-7 dương
lịch hàng năm và đẻ rộ sau những cơn mưa lớn. Sức sinh sản của cá phụ thuộc
vào trọng lượng cá cái: cá có trọng lượng từ 1-1,5kg sức sinh sản từ 150000-
20000 trứng/ tổ cá và từ 5000-10000 trứng/ tổ đẻ (Kiểm ctv., 2004).
Cá thường đẻ vào sáng sớm sau mỗi trận mưa rào một hai ngày ở nơi yên tĩnh
và có nhiều động vật thủy sinh. Trước lúc đẻ, cá dùng miệng thu rong, cỏ nước
làm tổ hình tròn, đường kính khoảng 40-50cm. Sau khi đẻ, cá bố mẹ nằm dưới
bảo vệ tổ đẻ. Ở nhiệt độ 20-35 oC sau 3 ngày trứng nở thành cá bột. Trong môi
trường tự nhiên, sau 3 ngày cá tiêu hết noãn hoàng, cá con cỡ 4-5cm bắt đầu
tách khỏi đàn sống độc lập (Ngô Trọng Lư và Thái Bá Hồ, 2001).

2.4.2 Tình hình nuôi cá lóc ở ĐBSCL
Cá lóc là loài cá rất quen thuộc với bà con vùng ĐBSCL không chỉ vì đây là
loài cá có chất lượng thịt ngon, dễ nuôi mà còn vì nó đã góp phần giúp bà con
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệusống vật chấtvà nghiên cứu
nông dân thoát nghèo và ngày càng nâng cao cuộc
học tập của họ.
Có thể nói An Giang và Đồng Tháp là hai tỉnh nuôi cá lóc nhiều nhất ở
ĐBSCL với các mô hình nuôi như nuôi cá lóc đăng quần, nuôi mùng trong
mùa lũ. Các hình thức nuôi này khá hiệu quả, vừa dễ tiến hành, người dân lại
không cần có diện tích đất nuôi nên được nuôi phổ biến.
Theo kết quả điều tra ở thời điểm tháng 4/2005, sản lượng cá lóc nuôi trong
toàn tỉnh An Giang là 6.911 tấn, tập trung nhiều ở các huyện như: Phú Tân
2.593 tấn, Chợ Mới 812 tấn, Châu Đốc 742 tấn, An Phú 687 tấn, Thoại Sơn
616 tấn, Long Xuyên 529 tấn, Châu Phú 494 tấn,… Các hình thức nuôi chủ
yếu là nuôi ao và nuôi vèo, cụ thể như sau:
Nuôi ao có diện tích: 64,7 ha, sản lượng là 2.543 tấn, chiếm 36,8 %,
Nuôi vèo có diện tích: 9,758 ha, sản lượng là 2.721 tấn chiếm 39,4 %
Các hình thức nuôi khác như: Nuôi bè, nuôi chân ruộng 23,8 % (Trần Phùng
Hoàng Tuấn, 2005).
Ngoài những mô hình nuôi mùa lũ đã nêu thì cá lóc còn được nhiều hộ dân ở
Bến Tre nuôi trong vèo lưới với qui mô công nghiệp cũng có hiệu quả.



8
Vèo nuôi cá thương phẩm với mật độ là 50 con/m 2. Vèo được xây dựng hình
vuông hoặc hình chữ nhật, đáy vèo đặt cách đáy ao khoảng 0,5m, độ sâu nước
trong vèo phải đạt từ 2,5m trở lên. Nuôi cá lóc trong vèo có nhiều ưu điểm như
nuôi ở mật độ cao để có sản lượng lớn, thức ăn được tập trung, cá không bị cọ
sát đáy ao hoặc không chui được xuống bùn nên ít bị xây xát, cá tập trung ăn
và ngủ rồi lại ăn nên cá tăng trọng nhanh và kích cỡ đồng đều. Giá trị thương
phẩm cao hơn cá chỉ trong nuôi ao. Đồng thời, bên ngoài vèo lưới thả thêm
các loại cá ăn tạp nhằm cải tạo ao, tận dụng thức ăn thừa, đây cũng là nguồn
thu không nhỏ (Trần Quốc, 2007).
Do cá lóc là loài thích nghi tốt với điều kiện môi trường nên chúng được nuôi
ngày càng phổ biến trong nhiều mô hình. Ngoài các mô hình nuôi cá lóc thoát
nghèo trong mùa lũ thì còn có vài mô hình nuôi cá lóc như sau:
Mô hình nuôi cá lóc trong ao
Diện tích nuôi từ 100-1000m2, sâu từ 1,5-2m. Mật độ trung bình 20-30con/m2
tùy vào kích cỡ giống thả nuôi (cá 7-10cm mật độ từ 10- 20con/m2, 5-7cm
nuôi 20-50con/m2). Thức ăn có thể sử dụng để cho cá ăn là thức ăn tươi sống
như: cá tạp, ếch nhái, tép, thức ăn công nghiệp hoặc thức ăn tự chế biến…
Khẩu phần ăn mỗi ngày từ 5-7% trọng lượng cá. Sau khi nuôi 6-7 tháng, nếu
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ thể đạt trọng lượng từ tập và nghiên cứu
chăm sóc và quản lý tốt thì cá có @ Tài liệu học 0,8-1kg/con (Dương
Nhựt Long, 2003).
Mô hình nuôi cá lóc trong giai đặt trong ao đất
Cỡ giống được chọn từ 20-30g/con, mật độ thả trung bình từ 60- 90con/m 3.
Thức ăn cho cá cũng tương tự khi nuôi cá trong ao. Khẩu phần ăn tùy thuộc
vào sức khỏe và giai đoạn phát triển của cá, ví dụ: cỡ cá 20-30g/con mỗi ngày
cho ăn 5-8% trọng lượng cơ thể sau đó tăng lên 5% khi cá có trọng lượng
>100g/con. Sau 7-8 tháng nuôi cá có thể đạt trọng lượng 1,2-1,5kg/con
(Dương Nhựt Long, 2003).

2.4.3 Những nghiên cứu trên cá lóc
Trong nghiên cứu về lĩnh vực sinh sản nhân tạo, cá lóc đã được bộ môn Kỹ
Thuật Nuôi Cá Nước Ngọt Khoa Nông Nghiệp cho sinh sản thành công từ
năm 1997-1998.
Tiếp theo đó, Phan Phương Loan (2000) tiến hành thử nghiệm ương nuôi cá
lóc đen (Ophiocephalus striatus) bằng một số loại thức ăn khác nhau. Thí
nghiệm tiến hành trên 3 loại thức ăn là trùn chỉ, cá nục và thức ăn chế biến.
Kết quả cho thấy, cá ăn trùn chỉ và cá nục có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn cá
ăn thức ăn chế biến.

9
Năm 2001, Ngô Thị Hạnh nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học, biện pháp kích
thích sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá lóc (Channa striatus Bloch, 1797). Cá
lóc nuôi vỗ trong thí nghiệm được cho ăn bằng cá tạp, cá biển xắt nhỏ. Kết quả
thu được là sau khi nuôi vỗ 33 ngày cá có thể tái thành thục và tiến hành kích
thích sinh sản. Các chỉ tiêu sinh học được khảo sát trong quá trình ương cá lóc
giống bao gồm: ngưỡng oxy, ngưỡng nhiệt độ, ngưỡng độ mặn, ngưỡng pH,…
Tiếp theo những nghiên cứu trong việc ương nuôi cá lóc giống, vào năm 2002,
Đặng Thụy Mai Thy tiến hành thử nghiệm ương cá lóc đen và cá lóc môi trề
bằng thức ăn có hàm lượng đạm khác nhau. Hai loại thức ăn được dùng để
ương cá trong thí nghiệm là thức ăn tổng hợp có hàm lượng đạm là 25% và
30%. Sau 30 ngày ương, ta thấy hàm lượng đạm trong thức ăn có ảnh hưởng
trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng của cá lóc, thể hiện qua kết quả: cá ăn thức ăn
có hàm lượng đạm 30% tăng trưởng nhanh hơn cá ăn thức ăn có hàm lượng
đạm 25%.
Những nghiên cứu nói trên có vai trò không nhỏ trong việc duy trì và phát
triển nguồn cá lóc giống nói riêng và nghề nuôi thủy sản nói chung. Tuy
nhiên, hầu hết các nghiên cứu về cá lóc được biết đến đều là những nghiên cứu
trên lĩnh vực sản xuất giống. Vì thế trước tình hình nuôi cá lóc ngày càng phổ
biến ở các tỉnh ĐBSCL hiện nay, việc nghiên cứu cấu trúc vi thể của các cơ
Trung tâm Học liệu ĐH Cầnlóc khỏe@ Tài liệucho việc nghiên cứu những cứu
quan bình thường trên cá
Thơ sẽ là tiền đề học tập và nghiên
biến đổi bệnh lý trong các cơ quan khi cá bệnh cũng như tìm ra các biện pháp
phòng trị bệnh cá càng hoàn thiện hơn.




10
Chương III
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian
Từ tháng 2/2008 đến tháng 5/2008
3.2 Địa điểm
Thu mẫu: mẫu được thu tại Cần Thơ
Phân tích mẫu: mẫu được phân tích tại phòng thí nghiệm Khoa Thuỷ Sản
trường Đại học Cần Thơ
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Vật liệu nghiên cứu
Dụng cụ
Dụng cụ giải phẩu, khay nhựa, thớt, dao, khuôn đúc, casset có nắp, casset
không nắp, khay nhuộm, bút chì, sổ ghi chép,... và các dụng cụ cần thiết để
làm tiêu bản mẫu mô.
Hóa chất

Trung tâm Học liệucố địnhCần hóa chất xử Tài liệu học tập và nghiên cứu
Các hóa chất ĐH mẫu, Thơ @ lý mẫu, nhuộm mẫu như: formol, acid
acetic, Na2SO4, NaHSO4, cồn tuyệt đối, xylen, paraffin,...
3.3.2 Phương pháp
Phương pháp thu và lấy mẫu
Thu mẫu: cá lóc được mua từ chợ Tân An, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ. Khi
mua, cá được chọn có trọng lượng từ 100g-200g, hoạt động bơi lội nhanh nhẹn
và linh hoạt. Cơ thể cá cân đối, da sáng bóng và trơn láng, màu sắc bình
thường, các vi không bị tưa rách, trên thân không có các dấu hiệu khác thường
như: vết loét, xuất huyết hay mất màu. Mang cá đỏ tươi, đồng nhất không bị
rách hay tưa. Mắt cá sáng và linh hoạt… Quan sát bên trong xoang cơ thể cá
sau khi giải phẩu không thấy có chất dịch hay dấu hiệu xuất huyết. Các cơ
quan nội tạng có màu sắc bình thường và đồng nhất trên từng cơ quan, không
có đốm trắng hay dấu hiệu bất thường khác…
Lấy mẫu: các cơ quan được lấy bao gồm da, cơ, mang, tim, gan, thận, tỳ tạng,
dạ dày và ruột (Hình 3).




11
Cách lấy mẫu
Da-cơ: dùng dao bén cắt một phần gồm da, cơ và vẩy dài khoảng 2cm, dày
khoảng 1cm.
Mang: dùng kéo cắt hai đầu cung mang để lấy được nguyên phần mang.
Tim, gan, thận, tỳ tạng: lấy nguyên cơ quan.
Ống tiêu hoá: dùng dao bén cắt nguyên phần dạ dày và phần ruột cho vào
dung dịch cố định.




d e
c
g a
f


b
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu



Hình 3. Các cơ quan của cá lóc khỏe
a. Dạ dày; b. Ruột; c. Gan; d. Mang;
e. Tim; f. Tỳ tạng; g. Thận

Cố định mẫu
Việc cố định mẫu phải được tiến hành ngay sau khi các cơ quan được tách
khỏi cơ thể. Dung dịch dùng cố định mẫu là dung dịch formol trung tính 10%
(đối với mẫu da-cơ) và dung dịch Bouin’s (đối với các cơ quan còn lại). Thời
gian cố định mẫu cho cả hai dung dịch trên là từ 18h-24h. Thể tích của dung
dịch cố định thường gấp nhiều lần kích thước mẫu mô.
Rửa mẫu
Mẫu được rửa dưới vòi nước trong khoảng 2 giờ sau khi cố định bằng formol
trung tính 10%. Đối với mẫu được cố định bằng Bouin’s, mẫu được rửa đến
khi dung dịch nhạt màu. Sau đó, tiếp tục chuyển mẫu sang cồn 60% trong


12
khoảng 12h-24h để loại nước dần và cuối cùng cho mẫu qua lọ chứa cồn 70%
để loại nước và bảo quản trong thời gian chờ xử lý.
Phương pháp làm tiêu bản mô
Cắt tỉa định hướng
Mẫu mô đã cố định cần được cắt tỉa trước khi xử lý mẫu. Kích cỡ các mẫu sau
khi cắt tỉa từ 0,5-1mm, dày từ 0,3-0,5 mm và phải có tính đại diện cho mẫu
(Ví dụ: da-cơ được cắt thành một mẫu cắt dọc và một mẫu cắt ngang, dạ dày
thì lấy một đoạn ở giữa và một đoạn ở gần đáy dạ dày, mẫu thận được cắt gồm
một đoạn thận trước, đoạn cắt dọc và cắt ngang của thận sau,…). Mẫu mô đã
cắt tỉa được cho vào các casset để chuẩn bị xử lý mẫu.
Xử lý mẫu
Sau khi cắt tỉa định hướng, mẫu được xử lý trong máy Sproceeding tissue
(MICROM, STP 120-2) theo các bước sau:
Khử nước
Mục đích của khử nước là loại nước hoàn toàn trong mô mà không làm mô và
tế bào bị teo hoặc vị trí của các thành phần cấu tạo trong mô bị thay đổi. Vì
thế, mẫu sẽ được chuyển qua các lọ cồn có nồng độ tăng dần từ 80%, 90%,
Trung tâm Học 100% để quáCầnkhử nước không xảy ra quá nhanh. và nghiên cứu
95% và liệu ĐH trình Thơ @ Tài liệu học tập
Làm trong mẫu
Vì cồn không thể hòa lẫn với paraffin nên sau khi khử nước thì cồn cũng được
loại ra khỏi mẫu. Nếu không loại bỏ hết cồn, phần mô đó sẽ bị co rút lại, khối
mẫu đúc trong paraffin sẽ không đồng nhất, tạo nên những lổ hỗng trên lát cắt.
Do đó, mẫu mô sẽ được ngấm một dung môi trung gian (xylen) có thể hòa tan
được cồn và paraffin. Để đạt được mục đích này, mẫu được ngâm qua 3 lọ
xylen, mỗi lọ được ngâm khoảng 2 giờ.
Ngấm paraffin
Paraffin là chất nền để bảo đảm cho tế bào giữ nguyên được hình dạng khi cắt.
Vì thế sau khi làm trong, mẫu mô sẽ được ngấm paraffin nóng chảy (57-600C)
bằng cách chuyển mẫu qua nhiều lọ paraffin, mỗi lọ ngâm khoảng 2 giờ.




13
Qui trình xử lý mô được cài đặt trong máy xử lý mô tự động theo các bước sau
(Coolidge & Howard, 1997, có điều chỉnh):

Cồn 80% Cồn 90% Cồn 95% Cồn 100%
1 giờ 1 giờ 1 giờ 1 giờ




Xylen Xylen Cồn 100% Cồn 100%
2 giờ 2 giờ 1 giờ 1 giờ




Xylen Paraffin+Xylen Paraffin+sáp ong Paraffin+sáp ong
2 giờ 2 giờ 2 giờ 2 giờ



Cho các casset vào sọt chứa mẫu đặt lên vị trí lọ 1 của máy xử lý mô tự động
và tiến hành qui trình xử lý.
Đúc khối
Sau khi hoàn thành quá trình xử lý, mẫu được lấy ra khỏi máy xử lý và tiến
hành đúc khối bằng máy MICROM EC350-1. Mẫu mô được định hướng đặt
vào giữa khuôn inox, cho một ít paraffin nóng chảy ở 60 0C vào. Để đảm bảo
Trung tâm Học liệu đúng vị trí, cho khuôn đúc qua liệu làm lạnh nhanh (MICROM, cứu
mẫu được giữ
ĐH Cần Thơ @ Tài máy học tập và nghiên
EC350-2) để cố định vị trí của mẫu trong khuôn. Tiếp tục cho paraffin đầy
khuôn và đặt casset có ký hiệu mẫu lên trên. Sau đó đặt khuôn mẫu qua ngăn
làm lạnh nhanh để paraffin rắn lại và tách khối paraffin ra khỏi khuôn.
Cắt mẫu
Sử dụng máy microtome (Yamato PR-50) để cắt mẫu, lát cắt có độ dày là
2µm. Mẫu được cắt thành băng dài và cho vào chậu nước nóng 45-500C để
paraffin căng ra, dùng kim mũi giáo nhẹ nhàng tách riêng từng đoạn mẫu đạt
yêu cầu.
Dán mẫu lên lame
Dùng lame sạch cho vào chậu nước gần lát cắt đạt yêu cầu và nâng từ từ lên,
dùng kim mũi giáo chỉnh mẫu ngay ngắn trên lame. Mẫu dán xong sẽ được sấy
khô bằng bàn sấy ở nhiệt độ 45-60 0C để lát cắt dính vào lame.




14
Nhuộm mẫu
Mẫu được nhuộm bằng Haematoxyline & Eosin (H&E) theo qui trình của
Harris (1900) (có điều chỉnh) như sau:

Xylen Xylen Xylen Cồn100% Cồn100%
10 phút 10 phút 10 phút 1 phút 1 phút



Cồn 65% Cồn 90% Cồn 95% Cồn 100%
1 phút 1 phút 1 phút 1 phút



Nước máy Hematoxylin Nước máy 1%acidalcohol
1 phút 10 phút 1 phút Nhúng 3 lần



Nước máy Eosin 2% Potassium acetate Nước máy
1 phút 3 phút 5phút 1 phút



Cồn 65% Cồn 90% Cồn 95% Cồn 100% Cồn100%
1 phút 1 phút 1 phút 1 phút 1 phút


Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Xylen Xylen Xylen Cồn100%
5 phút 5 phút 5 phút 1 phút


Dán lamella vào lame
Sử dụng keo Enterlant để dán tiêu bản. Nhỏ một giọt keo lên lame, dán lamella
lên trên ngay vùng có miếng mô, thao tác phải cẩn thận tránh để bọt khí vào
trong tiêu bản.
Quan sát tiêu bản và đọc kết quả
Sử dụng kính hiển vi quang học (Carl Zeiss) để quan sát. Đầu tiên, mẫu được
quan sát ở độ phóng đại 5X để nhìn tổng quan tiêu bản. Sau đó chuyển qua độ
phóng đại lớn hơn và chụp hình các tiêu bản đặc trưng bằng máy chụp ảnh
Canon PC-1145.




15
Chương IV
KẾT QUẢ THẢO LUẬN
Sau khi tiến hành làm tiêu bản mô học, kết quả phân tích cấu trúc vi thể của
các cơ quan trên cá lóc như sau:

4. 1 Da
Da cá là một hệ thống bao phủ toàn bộ bề mặt cơ thể cá. Mặt cắt ngang của
phần da ở mặt bên cơ thể cá lóc cho thấy da của nó được tạo thành từ 3 lớp:
lớp biểu bì, lớp bì và hạ bì (Hình 4.1).
Lớp bì là lớp ngoài cùng của da cá lóc, được tạo thành từ các tế bào biểu mô
hình vẩy xen kẽ với tế bào tiết chất nhày. Các tế bào tiết chất nhày có mặt ở
khắp bề mặt của da, thường có dạng cốc và có dụng tiết ra chất nhày phủ lên
lớp biểu mô (Hình 4.2). Theo Harris ctv. (1973), kết quả phân tích thành phần
sinh hóa của nhớt cá cho thấy chúng có cấu tạo từ protein và carbohydrate
(trích dẫn bởi Chinabut ctv., 1991). Tác dụng của nhớt cá giống như là rào cản
đầu tiên giữa cá với môi trường, bảo vệ biểu bì, làm giảm tính nguy hiểm của
các vết thương, ngăn chặn nước xuyên qua bằng sự thẩm thấu và giảm bớt ma
sát của cá khi chúng di chuyển (theo Harder, 1975 trích dẫn bởi Groman,
Trung tâm HọcNgoài ra, khiCần Thơ trên Tài liệu học tập và nghiên cứu
1982). liệu ĐH nghiên cứu @ da của một số loài cá xương, Hibiya
(1982) đã quan sát được các khoảng trống lympho nằm ở giữa gốc của các tế
bào biểu mô, những khoảng trống này thường có dạng tròn hoặc oval chứa từ
1 đến 2 lympho bào. Tuy nhiên cấu trúc của lớp biểu bì quan sát được trên da
cá lóc không thể hiện rõ sự có mặt của các tế bào này.
Lớp kế tiếp của da và nằm dưới biểu bì là lớp bì. Ở cá lóc, lớp bì cũng được
chia ra làm hai lớp phụ đó là lớp đặc và lớp xốp (Hình 4.3). Lớp đặc nằm sâu
bên trong và rộng hơn lớp xốp, có chứa các sợi collagen thô sắp xếp song song
với bề mặt da. Theo Chinabut ctv. (1991), trong lớp đặc còn chứa các nhánh
thần kinh và nhiều mao mạch máu, tuy nhiên đặc điểm này không thể hiện rõ
trong các mẫu da cá lóc quan sát được. Lớp xốp là lớp tương đối mỏng, gồm
một mạng lưới thưa của các sợi collagen và một lớp tế bào sắc tố. Khi quan sát
mẫu da cá lóc trong thí nghiệm này, các sợi dây thần kinh, các mao mạch máu
cũng như khoang chứa vẩy nằm ở lớp xốp không được thể hiện rõ ràng. Điều
này có thể là do hạn chế trong các thao tác cắt tỉa định hướng hoặc do quá
trình xử lý mẫu.
Bên dưới lớp bì là phần hạ bì. Nó là phần mỏng nhất của da cá, nằm giữa lớp
đặc và các bó cơ, gồm một mạng lưới của mô liên kết thưa và có chứa nhiều tế
bào tế bào sắc tố. Ngoài ra, khi tiến hành nghiên cứu trên da cá trê trắng,


16
Chinabut ctv. (1991) đã mô tả sự có mặt của các tế bào lipid trong lớp hạ bì
của da cá, nhưng các mẫu phân tích trong thí nghiệm này chỉ thấy được phần
mô liên kết và các tế bào sắc tố, không thấy rõ sự hiện diện của các tế bào
lipid (Hình 4.4).



a




b




c

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Cấu trúc da cá lóc (H&E, 40X) và nghiên cứu
Hình 4.1 Thơ @ Tài liệu học tập
a. Lớp biểu bì; b. Lớp bì; c. Lớp hạ bì




c


a


b

Hình 4.2 Cấu trúc lớp biểu bì (H&E, 40X)
a. Tế bào biểu mô vẩy; b. Tế bào tiết chất nhày; c. Tế bào sắc tố



17
c

b d
a



e




Hình 4.3 Cấu trúc lớp bì của da cá lóc (H&E, 40X)
a. Lớp đặc; b. Lớp xốp; c. Lớp tế bào sắc tố; d. Sợi collagen;
e. Tế bào sắc tố của lớp hạ bì


Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu



a

c
b




Hình 4.4 Cấu trúc hạ bì của da cá lóc (H&E, 100X)
a. Mô liên kết; b. Lớp đặc; c. Bó cơ




18
4.2 Cơ
Cơ cá lóc được chia làm 3 loại gồm: cơ vân, cơ trơn và cơ tim. Cơ vân chịu sự
điều khiển của thần kinh trung ương nên phản ứng nhanh nhẹn hơn cơ tim và
cơ trơn, chúng thường dính chặt vào xương và được phân bố chủ yếu ở hai
mặt bên của cơ thể cá. Khi quan sát lát cắt dọc của phần cơ dính hai bên vách
thân của cá lóc, cơ vân là loại cơ được cấu tạo từ các tế bào có hình trụ dài và
chứa nhiều nhân và thường được gọi là sợi cơ (Hình 4.6). Các sợi cơ này liên
kết lại thành các bó cơ và các bó cơ thì được nối với nhau bằng mô liên kết
(Hình 4.5). Khi quan sát dưới kính hiển vi, các sợi cơ vân của cá lóc cũng có
cấu trúc vạch sáng và vạch tối như cơ vân của cá trê trắng đã được mô tả bởi
Chinabut ctv. (1991). Theo Hibiya (1982), các sợi cơ vân có chứa hàng trăm
sợi protein cơ gồm hai loại protein là actin và myosin. Sự có mặt của hai loại
protein này là nguyên nhân của việc xuất hiện vạch sáng và vạch tối trên sợi
cơ vân. Những vạch sáng (gọi là vạch A- anisotropic) chứa các sợi actin, còn
những vạch tối (vạch I- isotropic) chứa các sợi myosin.
Cơ trơn chịu sự điều khiển của thần kinh giao cảm nên hoạt động của cơ trơn
có tính nhịp nhàng, được phân bố chủ yếu ở thành ống tiêu hóa (dạ dày, ruột),
các mạch máu,… Quan sát lắt cắt ngang của thành dạ dày cá lóc cho thấy cơ
trơn cũng được cấu tạo từ các sợi cơ, mỗi sợi cơ chỉ chứa một nhân (Hình 4.7).
Trung tâm Học cơ trơnĐH Cần Thơcá cũng có liệu học tập và nghiên cứu
Các sợi
liệu ở thành ruột của @ Tài cấu trúc tương tự như các sợi cơ
trơn đã được tìm thấy ở thành dạ dày (Hình 4.8).
Cơ tim là loại cơ đặc biệt chỉ có ở tim và sẽ được mô tả chi tiết hơn khi phân
tích cấu trúc tim cá ở phần 4.7.




19
c




a
b




Hình 4.5 Lát cắt ngang của cơ vân cá lóc (H&E, 100X)
a. Bó cơ; b. Mô liên kết; c. Nhân tế bào




b
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

a



c



d

Hình 4.6 Lát cắt dọc của cơ vân cá lóc (H&E, 100X)
a. Các sợi cơ; b. Nhân tế bào; c. Vạch sáng; d. Vạch tối




20
b
a




Hình 4.7 Lắt cắt ngang phần cơ dạ dày cá lóc (H&E,100X)
a. Các sợi cơ trơn; b. Nhân tế bào




Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu


a




b




Hình 4.8 Lắt cắt ngang phần cơ ruột cá lóc (H&E, 100X)
a. Các sợi cơ trơn; b. Nhân tế bào




21
4.3 Dạ dày
Dạ dày là đoạn phình to của ống tiêu hóa, nối thực quản với ruột. Là cơ quan
có nhiệm vụ chứa và tiêu hóa thức ăn vì thế dạ dày đóng vai trò tiêu hóa cả về
mặt cơ học lẫn hóa học. Quan sát cơ quan nội tạng của cá lóc sau khi giải phẩu
cho thấy dạ dày có dạng túi, tương đối to và vách dày, được nối tiếp sau thực
quản và nối với phần ruột (Hình 3). Đây là một đặc điểm phù hợp với dạ dày
của loài cá ăn động vật như cá lóc. Lát cắt ngang của dạ dày cá lóc thể hiện
thành dạ dày của cá gồm 4 lớp: niêm mạc, lớp dưới niêm mạc, lớp cơ trơn và
màng ngoài (Hình 4.9).
Quan sát thành dạ dày từ trong ra ngoài, phần niêm mạc được phủ bởi lớp biểu
mô trụ đơn, đỉnh của các tế bào biểu mô có hình quạt, hướng vào trong xoang
và nhân thì nằm ở gốc tế bào (Hình 4.10). Ở lớp này có chứa các tế bào tiết ra
chất giống như chất nhày phủ lên bề mặt biểu mô bảo vệ biểu mô chống tác
dụng của HCl thường xuyên có mặt trong dịch dạ dày. Khi dạ dày chứa đầy và
căng thì mặt niêm mạc nhẵn còn khi dạ dày trống rỗng, nó co lại, niêm mạc có
nhiều nếp gấp. Các nếp gấp này có thành phần cấu tạo là mô liên kết xốp và
được cung cấp nhiều mao mạch máu (Hình 4.9).
Tiếp theo niêm mạc là lớp dưới niêm mạc. Lớp này được cấu tạo từ các sợi mô
Trung tâm Học thưa và có một lượng lớn @ Tài liệu (Hình 4.12).và nghiên cứu
liên kết liệu ĐH Cần Thơ các mạch máu học tập Theo Groman
(1982) thì ở lớp niêm mạc có chứa nhiều tế bào lympho, bạch cầu có hạt ưa
eosin thô, tế bào mỡ, các ống bạch huyết… và trong cùng có một lớp đặc với
các sợi mô tạo keo. Tuy nhiên, cấu trúc này chưa thể hiện được rõ ở các mẫu
dạ dày đã quan sát được trên cá lóc.
Lớp dày nhất của thành dạ dày cá lóc là lớp cơ, được cấu tạo từ hai lớp cơ trơn
gồm lớp cơ hướng dọc và lớp cơ hướng vòng. Các sợi cơ dọc có từ 1-5 nhân
nằm ở trung tâm, tại phần rộng nhất của sợi cơ (Hibiya, 1982). Mẫu quan sát
được của thành dạ dày cá lóc cho thấy lớp cơ vòng nằm ở bên trong thì dày và
xấp xỉ gấp đôi độ dày của lớp cơ dọc bên ngoài (Hình 4.11).
Phần tiếp theo lớp cơ và bao bên ngoài thành dạ dày là màng ngoài dạ dày, nó
được tạo thành từ lớp biểu mô phẳng đơn, bên dưới lớp biểu mô là lớp mô liên
kết thưa và vài mạch máu.
Dạ dày cá có thể được chia ra làm hai phần là phần dạ dày tuyến và phần dạ
dày cơ. Tuyến dạ dày là một thành phần quan trọng của dạ dày, thường có
dạng ống thẳng, giữ vai trò quan trọng trong việc tiết ra dịch vị hỗ trợ dạ dày
tiêu hóa thức ăn và nó thường nằm ở phần dạ dày tuyến của cá (Hình 4.13). Ở
cá lóc, các tế bào tuyến dạ dày quan sát được có hình hơi tròn và nằm xung
quanh thành ống (Hình 4.14).

22
d

c
e a




b



Hình 4.9 Cấu trúc thành dạ dày cá lóc (H&E, 10X)
a. Lớp niêm mạc; b. Lớp dưới niêm mạc; c. Lớp cơ trơn;
d. Màng ngoài; e. Nếp gấp



Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu


b



a




Hình 4.10 Các tế bào biểu mô của niêm mạc dạ dày
(H&E, 100X)
a. Các tế bào biểu mô; b. Nhân tế bào




23
d c




a


b


Hình 4.11 Lớp cơ trơn của thành dạ dày cá lóc (H&E, 20X)
a. Lớp cơ vòng; b. Lớp cơ dọc; c. Lớp dưới niêm mạc;
d. Xoang mao mạch



Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
a




b




Hình 4.12 Cấu trúc của lớp dưới niêm mạc dạ dày cá lóc
(H&E, 40X)
a. Các sợi mô liên kết; b. Mạch máu




24
b


a




Hình 4.13 Tuyến dạ dày cá lóc (H&E, 40X)
a. Lớp biểu mô; b. Tuyến dạ dày




Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
a




b




Hình 4.14 Các tế bào tuyến dạ dày cá lóc (H&E, 100X)
a. Tế bào tuyến; b.Nhân tế bào




25
4.4 Ruột
Ruột cá là phần dài nhất của ống tiêu hóa, được nối từ dạ dày đến hậu môn của
cá (Hình 3). Chức năng chủ yếu của ruột là tiêu hóa thức ăn và hấp thụ dinh
dưỡng để nuôi cơ thể.
Cũng như các phần khác của ống tiêu hóa, thành của ruột cá lóc gồm có lớp
niêm mạc, lớp dưới niêm mạc, lớp cơ và màng bao bên ngoài ruột. Niêm mạc
ruột được phủ lớp biểu mô trụ đơn giống như ở niêm mạc dạ dày. Những nếp
gấp của niêm mạc ruột thì hẹp và cao hơn so với nếp gấp ở dạ dày, gồm mô
liên kết thưa và có nhiều mạch máu (Hình 4.15, 4.16).
Groman (1982), Hibiya (1982), Chinabut ctv. (1991) và Herrera (1996) dựa
vào cấu trúc của niêm mạc ruột để chia ruột ra thành các đoạn: ruột trước, ruột
giữa và ruột sau. Tuy nhiên do hạn chế trong quá trình làm mẫu mô, các lát cắt
của ruột quan sát được đa số là đoạn ruột giữa nên mẫu không minh họa được
cấu trúc của các đoạn ruột trước và ruột sau. Theo Chinabut ctv. (1991), ruột
trước có các nếp gấp hẹp và phân nhánh, chứa các tế bào tiết chất nhày xếp rãi
rác giữa các tế bào biểu mô trụ đơn. Còn ở đoạn ruột sau thì nếp gấp của niêm
mạc ngắn và ít phân nhánh hơn ở ruột trước, các tế bào tiết chất nhày thì xuất
hiện nhiều hơn. Riêng ở đoạn ruột giữa, độ dày của niêm mạc tăng, các nếp
Trung tâm Học hơn vàĐH Cần rẽ nhánh, trên bề mặt của nó có mộtvà nghiên cứu
gấp cao liệu cũng có sự Thơ @ Tài liệu học tập lượng lớn các
tế bào tiết chất nhày (Hình 4.15, 4.17). Với cấu trúc của các nếp gấp này, niêm
mạc ruột có thể gia tăng bề mặt tiếp xúc của thức ăn với enzyme cũng như
giữa những tế bào biểu mô hút với các sản phẩm tiêu hóa, giúp cho quá trình
tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng ở ruột xảy ra tốt hơn (Herrera, 1996).
Chinabut ctv. (1991) nghiên cứu trên cá trê trắng cho biết lớp dưới niêm mạc
của ruột cũng giống như lớp dưới niêm mạc của dạ dày, được cấu tạo từ mô
liên kết khoanh thưa, bên trong mô liên kết này lại có chứa các lympho bào
nhỏ và các tế bào hạt ưa eosin. Ở cá lóc cũng quan sát được lớp dưới niêm
mạc ruột có cấu trúc tương tự như lớp dưới niêm mạc của dạ dày nhưng không
thấy rõ các lympho bào và tế bào hạt ưa eosin như ông đã mô tả (Hình 4.16).
Lớp cơ của ruột cá lóc cũng được tạo thành từ hai lớp cơ trơn gồm một lớp cơ
hướng dọc và một lớp cơ hướng vòng (Hình 4.18). Hibiya (1982) quan sát cấu
trúc thành ruột ở một số loài cá xương cho biết lớp cơ ở ruột sau thì dày hơn ở
ruột trước, có các mạch máu nhỏ giữa hai lớp cơ trơn, đồng thời giữa lớp niêm
mạc và lớp cơ cũng có các mạch máu lớn hơn.
Cũng giống như ở dạ dày, phần bao bên ngoài ruột cá là lớp màng ngoài, được
phủ bởi một lớp mỏng của mô liên kết thưa và các tế bào biểu mô, đồng thời
cũng có vài mạch máu ở giữa lớp cơ và màng ngoài của ruột.

26
c




b a



Hình 4.15 Lát cắt ngang ruột giữa của cá lóc (H&E, 5X)
a. Thành ruột; b. Niêm mạc ruột; c. Nhánh của nếp gấp



b
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
e




a c

d


Hình 4.16 Cấu trúc của thành ruột cá lóc (H&E, 20X)
a. Niêm mạc; b. Lớp dưới niêm mạc; c. Lớp cơ trơn;
d. Màng ngoài; e. Mao mạch




27
c




b a




Hình 4.17 Cấu trúc nếp gấp của ruột cá (H&E, 100X)
a. Nếp gấp; b. Lớp biểu mô; c. Nhân của tế bào




Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu



a



b



Hình 4.18 Cấu trúc lớp cơ của thành ruột cá lóc (H&E, 20X)
a. Lớp cơ dọc; b. Lớp cơ vòng




28
4.5 Gan
Theo Hibiya (1982), gan là một trong những tuyến tiêu hóa được phát triển từ
ruột nguyên thủy, nó có cấu tạo từ các tế bào gan và lớp mạng giữ chức năng
nâng đỡ gan. Quan sát các cơ quan nội tạng của cá lóc sau khi giải phẩu cho
thấy gan cá có màu nâu đỏ hay nâu vàng, dính liền với túi mật đồng thời cũng
nối với dạ dày và ruột cá (Hình 3).
Dưới kính hiển vi, gan cá lóc được bao phủ bởi lớp tế bào biểu mô vẩy, phía
dưới là lớp mô liên kết và bên trong có chứa các tế bào gan hình đa giác với
một nhân hình cầu nằm ở giữa hoặc ở một góc của tế bào, đồng thời có nhiều
mao mạch nhỏ chứa hồng cầu xen kẽ với các tế bào này (Hình 4.19). Sự khác
nhau về vị trí nhân ở các tế bào gan bị ảnh hưởng bởi sự có mặt của glycogen
và lipid trong tế bào chất của chúng (Chinabut ctv., 1991). Theo Hibiya
(1982), các tế bào này có nhiều chức năng khác hơn là tiết ra mật, giữ vai trò
quan trọng trong việc dự trữ năng lượng, giải độc, chuyển hóa lipid và
carbohyrate. Ở mặt cắt ngang của gan cá lóc có rất nhiều mao mạch chứa hồng
cầu, mỗi mao mạch được bao vây bởi 5-8 tế bào gan và tách rời nhau bởi ít
nhất 2 tế bào, đặc điểm này cũng được Groman (1982) mô tả ở gan cá rô phi
(Hình 4.20).

Trung tâm Học liệu ĐH có tuyến tụy ngoại Tài liệutạng mở rộngvà nghiên cứu
Ngoài ra, ở gan còn Cần Thơ @ tiết do tụy học tập vào bên trong
gan và kết hợp với gan tạo thành tuyến gan tụy. Các tế bào nang của tuyến này
tập hợp thành nhiều nhóm có 5- 6 tế bào với tế bào chất ưa bazơ chứa một
lượng lớn hạt men ưa eosin, sự có mặt của các hạt men này làm cho tế bào
chất của tế bào thể hiện màu hồng khi nhuộm với Haematoxylin và Eosin
(Groman, 1982), những đặc điểm này cũng thể hiện rõ trên các mẫu gan cá lóc
đã được quan sát (Hình 4.21). Theo Hibiya (1982), chức năng của tuyến tụy
trong gan là tiết dịch tụy để tiêu hóa thức ăn và chức năng nội tiết của nó là
tiết hormone Insulin và Glucagon có tác dụng điều hòa lượng đường trong
máu. Dịch tụy được tiết ra từ tuyến gan tụy sẽ đổ vào ống tụy- nằm ở giữa các
tế bào nang của tuyến và có cấu tạo từ mô liên kết (Hình 4.24).
Khi quan sát gan cá lóc dưới kính hiển vi cho thấy có nhiều mạch máu ra vào
gan và phân tán khắp gan (Hình 4.20). Ngoài ra, tĩnh mạch gan cũng được tìm
thấy ở tuyến gan tụy, nó được bao quanh bởi các tế bào nang của tuyến và có
chứa nhiều tế bào máu (Hình 4.22). Groman (1982) đã mô tả đường đi của
máu qua gan như sau: máu tĩnh mạch chảy vào gan theo hướng tĩnh mạch cửa
gan và lan tỏa khắp các mao mạch nhỏ trên gan rồi đổ dồn vào tĩnh mạch
trung tâm trước khi theo tĩnh mạch gan đến xoang tĩnh mạch của tim. Trong
các xoang mao mạch có các tế bào rất nhỏ gọi là tế bào Kupffer có khả năng


29
thực bào, nhờ đó gan có khả năng khử độc, nhưng chúng không thể nhìn thấy
được dưới kính hiển vi. Ngoài ra, trên gan cá lóc cũng được tìm thấy các trung
tâm đại thực bào sắc tố giống như ở tỳ tạng cá, chúng nằm kề sát với các tuyến
gan tụy (Hình 4.23).




b
a c




Hình 4.19 Cấu trúc màng ngoài của gan cá lóc (H&E, 40X)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần mô vẩy; @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
a. Lớp biểu
Thơ b. Mô liên kết; c. Tế bào gan



a

b



c



Hình 4.20 Các mao mạch trong gan cá lóc (H&E, 100X)
a. Mặt cắt dọc qua xoang mao mạch;
b. Mặt cắt ngang qua xoang mao mạch; c. Tế bào gan


30
d b


c




a


Hình 4.21 Cấu trúc tuyến gan tụy (H&E, 100X)
a. Các tế bào nang của tuyến gan tụy; b. Tế bào gan;
c. Các hạt enzyme; d. Hồng cầu trong mao mạch


Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

b


a



c


Hình 4.22 Tĩnh mạch gan trong tuyến gan tụy (H&E, 100X)
a. Tĩnh mạch chứa hồng cầu;
b. Các tế bào nang của tuyến gan tụy; c. Các hạt enzyme




31
b d




a
c




Hình 4.23 Trung tâm đại thực bào sắc tố trên gan cá (H&E, 100X)
a. Trung tâm đại thực bào sắc tố; b. Các tế bào nang tuyến;
c. Các hạt enzyme; d. Hồng cầu trong xoang mao mạch


Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu



b

a


c d



Hình 4.24 Ống tụy trên gan cá lóc (H&E, 100X)
a. Ống tụy; b. Mô liên kết; c. Tế bào nang tuyến gan tụy;
d. Hồng cầu trong xoang mao mạch




32
4.6 Mang
Mang cá lóc có 4 đôi cung mang nằm dưới nắp mang, mỗi cung mang gồm có
các sợi mang sơ cấp xếp thành hai hàng dọc xương cung mang. Đối xứng với
các sợi mang sơ cấp trên xương cung mang là hai hàng lược mang dạng gai,
cấu trúc giống như răng, hỗ trợ cho cá trong quá trình tiêu hóa thức ăn về mặt
cơ học. Mỗi sợi mang sơ cấp được tạo thành từ các sợi mang thứ cấp xếp
thành hàng giống như hình lông chim, cách sắp xếp này góp phần gia tăng bề
mặt trao đổi khí của cá với môi trường (Hình 4.25). Hibiya (1982) cho biết cấu
trúc mang của cá có cơ quan hô hấp phụ hơi khác so với cá chỉ hô hấp bằng
mang như là về độ dài của sợi mang, cung mang. Ở cá lóc, cá có cơ quan hô
hấp phụ là màng nhầy xoang miệng hầu, các sợi mang của nó có cấu trúc ngắn
hơn so với sợi mang của cá he vàng (khi quan sát bằng mắt thường).
Cấu trúc của sợi mang sơ cấp thể hiện tương đối rõ trên các mẫu đã quan sát,
nó được bao phủ bởi các tế bào biểu mô vẩy, bên trong có chứa nhiều tế bào
tiết chất nhày và được nâng đỡ bởi các tế bào sụn. Cấu trúc này tương tự như
mô tả của Chinabut ctv. (1991) trên mang cá trê trắng. Ngoài ra, trên mang cá
lóc cũng có các động mạch vào mang được phân bố ở gần sụn nâng đỡ của tơ
mang và động mạch ra mang thì nằm ở hướng ngược lại tức là ở đỉnh của tơ
mang (Hình 4.26, 4.27). Thêm vào đó, trên mang cá còn có nhiều mao mạch
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài mà oxy hòa tan trong nước có thể cứu
vách mỏng nằm ở các sợi mang thứ cấp, nơi
liệu học tập và nghiên
khuếch tán vào máu (Hình 4.28). Cấu trúc của sợi mang thứ cấp ở cá lóc gồm
lớp ngoài là lớp biểu mô vẩy đơn, có một vài tế bào tiết chất nhày và được
nâng đỡ bởi những tế bào trụ (Hình 4.28). Theo Kirschner (1977) thì trên
mang cá có các tế bào chloride bắt màu hồng nhạt của H&E, chúng phân bố ở
gốc của các sợi mang thứ cấp; chức năng chủ yếu của các tế bào này là điều
hòa áp suất thẩm thấu của cá và chúng có nhiều nhất ở cá xương nước mặn
(trích dẫn bởi Hibiya, 1982). Tuy nhiên, lát cắt của mang cá lóc không thể
hiện được sự hiện diện của các tế bào chloride tại gốc của các sợi mang thứ
cấp.
Theo Groman (1982), mang cá là cơ quan giữ chức năng hô hấp, bài tiết và
điều hòa áp suất thẩm thấu của cá. Chức năng này được thực hiện nhờ vào các
mao mạch có mặt trên mang, giúp cho sự trao đổi oxy cũng như các khí thải
hòa tan khác (CO2, NH3) xảy ra liên tục.




33
a


c
b




Hình 4.25 Cấu trúc mang cá lóc (H&E, 5X)
a. Phần cung mang; b. Sợi mang sơ cấp; c. Sợi mang thứ cấp




Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
a c




b




Hình 4.26 Động mạch vào mang (H&E, 40X)
a. Động mạch vào mang; b. Các tế bào sụn; c. Lớp biểu mô




34
c




a b




Hình 4.27 Phần ngọn của sợi mang sơ cấp (H&E, 100X)
a. Động mạch ly tâm; b. Tế bào biểu mô; c. Tế bào tiết chất nhày


c
e
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu


a
d b




Hình 4.28 Cấu trúc của sợi mang thứ cấp (H&E, 100X)
a. Tế bào sụn; b. Tế bào trụ; c. Tế bào biểu mô;
d. Xoang mao mạch; e. Mao mạch chứa hồng cầu




35
4.7 Tim
Tim cá lóc nằm trong xoang bao tim ở phía trước gốc vi ngực bao gồm 4 phần
cơ bản là: tâm nhỉ, tâm thất, xoang tĩnh mạch và bầu động mạch (Hình 3).
Theo mô tả của Hibiya (1982), các thành phần của tim có cấu tạo gồm 3 lớp:
màng ngoài, màng trong và lớp trung gian. Tuy nhiên, lát cắt mô ở mẫu tim cá
lóc đã khảo sát không thể hiện rõ cấu trúc của xoang tĩnh mạch và màng trong
tim.
Quan sát thành của tim cá lóc từ ngoài vào, màng ngoài tim là một màng bao
phủ toàn bộ bề mặt tim, gồm có lớp biểu mô vẩy đơn cùng với mô liên kết
(Hình 4.29, 4.30). Màng này tương đối giống nhau ở các phần của tim. Tiếp
theo màng ngoài tim là lớp trung gian, được tạo thành từ các bó cơ tim và giữa
các bó cơ tim có rất nhiều tế bào máu. Có thể nói cơ tim là loại cơ đặc biệt chỉ
được tìm thấy ở tim, có đặc điểm trung gian giữa cơ trơn và cơ vân của cá như
là: sợi cơ tim chứa một nhân giống như cơ trơn, đồng thời nó có cấu trúc vạch
sáng và vạch tối như ở cơ vân (Hình 4.31). Ở bầu động mạch, lớp trung gian
không có sự hiện của phần cơ tim mà thay vào đó là lớp mô liên kết đàn hồi
và các sợi cơ trơn (Hình 4.32).
Theo Hibiya (1982), xoang tĩnh mạch của tim là một buồng có vách mỏng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệuGrizzle tập và nghiên cứu
được tạo thành từ màng ngoài và màng trong tim. học và Rogers (1976) đã
quan sát được các sợi cơ tim trong xoang tĩnh mạch của tim cá Nheo Mỹ và
các tế bào sắc tố melanin ở giữa màng ngoài và lớp cơ tim (trích dẫn bởi
Chinabut ctv., 1991). Tuy nhiên, đặc điểm này không quan sát được trên tim
cá lóc.
Theo Groman (1982), xoang tĩnh mạch là nơi tiếp nhận máu từ các cơ quan đổ
về tim, nó nối với hai tĩnh mạch gan và phía trước nó là phần tâm nhĩ của tim.
Đặc điểm này không thể hiện rõ trên các mẫu quan sát được, có thể là do mẫu
cá có kích thước lớn khó cắt được lát cắt đầy đủ các phần của tim.
Tâm nhĩ là một buồng lớn nằm phía trên tâm thất, có màng ngoài mỏng và lớp
cơ cũng tương đối mỏng gồm các bó cơ tim liên kết với nhau tạo thành một
mạng lưới xốp (Hình 4.30). Theo Groman (1982), các tế bào máu có thể thâm
nhập vào giữa các sợi cơ tim theo tất cả các lối để đến màng ngoài tim. Đồng
thời, ông cũng cho biết ở màng ngoài và lớp cơ tim của tâm thất có sự hiện
diện của các tế bào bạch cầu có hạt ưa eosin dạng thô và nhiều đại thực bào.
Tuy nhiên, các mẫu tim cá lóc quan sát được không thể hiện rõ sự có mặt của
các tế bào này, chỉ thấy có nhiều tế bào máu xen giữa các sợi cơ.
Tâm thất có dạng nón với đỉnh của nó hướng về phía sau và nó đóng vai trò là
bộ phận co bóp chủ yếu của tim (Chinabut ctv., 1991). Lát cắt dọc của tim cá

36
lóc cho thấy thành tâm thất gồm một lớp mỏng của màng ngoài, lớp cơ dày
với một mạng lưới xốp của các sợi cơ tim và có nhiều tế bào máu lắp đầy các
khoảng trống giữa các sợi cơ (Hình 4.30, 4.31). Nghiên cứu của Groman
(1982) trên cá chẽm cho thấy tâm thất của cá có một lượng lớn các tế bào bạch
cầu có hạt ưa eosin dạng thô nằm ở phần cơ và màng ngoài tim, đồng thời có
sự hiện diện của các cụm đại thực bào và trung tâm tạo máu nhỏ trong mô liên
kết của màng ngoài ở một vài cá lớn. Tuy nhiên, mẫu cá lóc đã khảo sát chưa
thể hiện được rõ sự xuất hiện của các tế bào kể trên.
Thành phần cấu tạo tiếp theo của tim cá là bầu động mạch. Phần này có màng
ngoài mỏng, lớp trung gian dày gồm mô liên kết đàn hồi và các sợi cơ trơn.
Cấu trúc này giúp cho bầu động mạch có tính đàn hồi tự nhiên góp phần cân
bằng áp suất máu từ tâm thất đổ vào, đẩy máu đi đến động mạch chủ bụng để
nó chảy đều khắp các mao mạch nhỏ của sợi mang thứ cấp.
Nghiên cứu của Groman (1982) trên cá chẽm, Chinabut ctv. (1991) trên cá trê
trắng và Hibiya (1982) nghiên cứu trên một số loài cá xương đã mô tả cấu
trúc của các van của tim cá gồm van nhĩ-thất nằm giữa tâm nhĩ và tâm thất,
van bán nguyệt giữa tâm thất với bầu động mạch, van xoang-nhĩ giữa xoang
tĩnh mạch và tâm nhĩ. Họ cho biết các van này được cấu tạo từ mô liên kết có
tính đàn hồi cao phù hợp với chức năng co bóp của tim. Đối với mẫu cá lóc
Trung tâm Học liệu ĐH các vanThơkhôngTài liệu học tập và tả trên (có cứu
trong khảo sát này,
Cần tim @ được thấy rõ như các mô nghiên
hiện diện trên mẫu nhưng thể hiện không đầy đủ cấu trúc), vấn đề này có thể
là do hạn chế trong kỹ thuật lấy mẫu.




37
a



b




Hình 4.29 Thành tâm thất (H&E, 20X)
a. Màng ngoài; b. Lớp cơ




Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu


b




a

Hình 4.30 Thành tâm nhĩ (H&E, 100X)
a. Màng ngoài; b. Lớp cơ




38
c


a


b




Hình 4.31 Các sợi cơ tim cá lóc (H&E, 100X)
a. Cơ tim; b Nhân; c. Tế bào máu




Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
a b




D

Hình 4.32 Phần cơ trơn ở bầu động mạch (H&E, 100X)
a. Các sợi cơ trơn; b. Nhân tế bào




39
4.8 Thận
Thận là cơ quan bài tiết chủ yếu và quan trọng của cá cũng như các động vật
có xương sống khác. Thận cá lóc nằm trong xoang cơ thể bao gồm thận trước
và phần sau. Quan sát cá lóc sau khi giải phẩu cho thấy thận trước gồm một
đôi thận nằm ở phần trước xoang cơ thể nối liền với thận sau nằm dọc theo và
sát với xương sống của cá (Hình 3).
Theo Anderson và Mitchum (1974) thì thận trước gồm có cơ quan lympho, mô
tạo máu và mô gian thận (được trích dẫn bởi Chinabut ctv., 1991). Quan sát
dưới kính hiển vi, thận trước của cá lóc có nhiều tế bào máu, một số ít ống
thận hẹp và vài trung tâm đại thực bào sắc tố (Hình 4.33). Tuy chưa phân biệt
được cơ quan lympho, mô tạo máu và mô gian thận như khi quan sát dưới kính
hiển vi, cấu trúc của thận trước cá lóc trông giống như cấu trúc ở tỳ tạng cá.
Điều này có thể cho biết rằng thận trước cá lóc cũng giữ chức năng của một cơ
quan tạo máu.
Trung thận (hay thận sau) là một cơ quan bài tiết quan trọng của cá xương. Kết
hợp với da, màng nhày ruột, gan và biểu mô mang, thận sau duy trì sự cân
bằng áp suất thẩm thấu giữa cá với môi trường sống (Groman, 1982). Thận
sau của cá lóc có tạo thành từ quản cầu thận và các ống thận. Khi quan sát cấu
Trung tâm Học của thận cá Cần Thơ @ Tài liệuquản cầu được bao bọc bởi cứu
trúc mô liệu ĐH lóc, quản cầu thận gồm một học tập và nghiên
nang Bowman’s- có cấu trúc từ hai lớp biểu mô. Lớp biểu mô bên trong phủ
lên trên và nhô ra bề mặt của quản cầu, còn lớp biểu mô vách thì hình thành
nên ranh giới của nang. Giữa hai lớp biểu mô của nang Bowman’s là khoảng
trống Bowman’s (Hình 4.35). Các cấu trúc này cũng giống như mô tả của
Herrera (1996) trên thận cá rô phi, mô tả thận cá trê trắng của Chinabut ctv.
(1991). Quản cầu nằm trong nang Bowman’s và được cấu tạo từ nhiều mao
mạch chứa các tế bào hồng cầu, các mao mạch này được phủ bởi các tế bào
máu có cuốn và các tế bào biểu mô của lớp trong (Hình 4.35). Một cấu trúc
của thận cá cũng không kém phần quan trọng so với quản cầu thận đó là các
ống thận. Ở các mẫu thận cá lóc quan sát được, cấu tạo của ống thận gồm các
đoạn như: đoạn cổ, đoạn gần tâm thứ nhất, đoạn gần tâm thứ hai, đoạn xa tâm
và ống góp chung. Không tìm thấy được đoạn trung gian ở thận cá lóc và đặc
điểm này cũng giống như mô tả của Groman (1982) ở thận cá chẽm. Xen với
các ống thận là các mạch máu chứa hồng cầu và một vài trung tâm đại thực
bào sắc tố tương tự như các trung tâm đại thực bào sắc tố được tìm thấy ở tỳ
tạng của cá (Hình 4.34). Đoạn cổ của ống thận có vách mỏng, chỉ gồm một lớp
tế bào biểu mô thấp và có các lông mịn dài (Hình 4.36).




40
Kề sát đoạn cổ là đoạn gần tâm thứ nhất, nó gồm các tế bào biểu mô khối với
nhiều lông mịn và các vi lông sắp xếp dày đặc trong khoang ống tạo thành cấu
trúc trông giống như vùng lược (Hình 4.37). Cấu trúc này cũng được tìm thấy
ở đoạn gần tâm thứ hai (Hình 4.37). Dưới kính hiển vi, cấu trúc của đoạn gần
tâm thứ nhất và đoạn gần thứ hai có thể phân biệt như sau: đoạn gần tâm thứ
nhất có đường kính ống lớn hơn và cấu trúc của vùng lược thì mỏng hơn so
với đoạn gần tâm thứ hai. Đặc điểm đó cũng đã được Groman (1982) mô tả
trên thận cá chẽm và Chinabut ctv. (1991) tìm thấy trên thận cá trê trắng.
Đoạn kế tiếp của ống thận là đoạn xa tâm. Quan sát dưới kính hiển vi, đoạn
này gồm các tế bào biểu mô khối và không có sự hiện diện của các sợi lông
mịn (Hình 4.38).
Theo mô tả của Groman (1982) ở thận cá chẽm, ống góp chung có thể phân
biệt với đoạn thận xa bởi sự gia tăng về số lượng và kích thước của các tế bào
ống cũng như đường kính của ống và của khoang, thêm vào đó là một lớp mô
liên kết bên ngoài. Ở thận cá lóc, ống góp chung quan sát được có cấu tạo từ
các tế bào biểu mô khối với một nhân hình cầu nằm ở giữa tế bào, xung quanh
ống có một lớp mô liên kết và đường kính xoang ống cũng lớn hơn các ống
thận khác (Hình 4.39).

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu


a
b




c



Hình 4.33 Thận trước cá lóc (H&E, 40X)
a. Mao mạch chứa hồng cầu; b. Ống thận;
c. Trung tâm đại thực bào sắc tố




41
b




a c d




Hình 4.34 Mặt cắt dọc của thận cá lóc (H&E, 40X)
a. Động mạch chủ; b. Mao mạch chứa hồng cầu;
c. Ống thận; d. Trung tâm đại thực bào sắc tố


Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
c
d




b

a


Hình 4.35 Quản cầu thận cá lóc (H&E, 100X)
a. Lớp biểu mô của nang Bowman’s; b. Khoảng không Bowman’s;
c. Mao mạch chứa tế bào máu; d. Trung tâm đại thực bào sắc tố




42
a



b




Hình 4.36 Đoạn thận cổ (H&E, 100X)
a. Đoạn thận cổ; b. Tế bào biểu mô



Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
c d

b
a




Hình 4.37 Đoạn gần tâm thứ nhất và thứ hai (H&E, 100X)
a. Đoạn gần tâm thứ nhất; b. Đoạn gần tâm thứ hai;
c. Vùng lược của đoạn gần tâm thứ nhất;
d. Vùng lược của đoạn gần tâm thứ hai.




43
a


b




Hình 4.38 Đoạn thận xa (H&E, 100X)
a. Ống thận xa; b. Tế bào biểu mô




Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu



b
a
c




Hình 4.39 Ống góp chung (H&E, 100X)
a. Ống góp chung lớn; b. Ống góp chung nhỏ; c. Tế bào biểu mô




44
4.9 Tỳ tạng
Cũng như mô tả của Herrera (1996) ở cá rô phi và Chinabut ctv. (1991) ở cá
trê trắng, tỳ tạng của cá lóc là một cơ quan riêng biệt nằm gần ruột cá và được
bao bởi màng treo ruột. Nó có dạng bầu dục với một mặt phẳng và một mặt lồi
ở phía ngược lại, có màu đỏ sậm hay đỏ tươi (Hình 3). Thành phần cấu tạo chủ
yếu của tỳ tạng gồm tủy đỏ, tủy trắng và các trung tâm đại thực bào sắc tố
tương tự như mô tả của Hibiya (1991) trên một số loài cá xương.
Bao phủ bên ngoài tỳ tạng là lớp tế bào biểu mô vẩy đơn và mô liên kết, bên
dưới có rất nhiều mao mạch (Hình 4.41). Khi vào tỳ tạng, các động mạch dần
dần rẽ nhánh hình thành các mạch máu nhỏ hơn và cuối cùng tạo thành một
mạng lưới mao mạch bên trong tỳ tạng.
Tủy đỏ và tủy trắng của tỳ tạng cá nhỏ gần như đồng nhất, còn ở cá lớn thì hai
thành phần này có thể dễ dàng phân biệt dưới kính hiển vi (Hibiya, 1982). Khi
quan sát lát cắt ngang của tỳ tạng bằng phương pháp nhuộm Haematoxylin và
Eosin, phần tủy trắng nằm bên trong và bắt màu sậm hơn phần tủy đỏ, tủy đỏ
tạo thành mạng lưới bao quanh tủy trắng (Hình 4.40). Các đặc điểm đó đã
được mô tả trên cá chẽm, cá trê trắng và cá rô phi (Groman, 1982, Chinabut
ctv., 1991 và Herrera, 1996).
Trung tâm Học được cấu tạo từ nhiều mao mạch chứa đầy các tập và nghiên cứu
Tủy đỏ liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tế máu (Hình 4.42).
Theo Hibiya (1982), các tế bào máu có ở tủy đỏ bao gồm hồng cầu, nguyên
hồng cầu và các đại thực bào. Còn tủy trắng thì có tính ưa bazơ và chứa các tế
bào lympho, tế bào hồng cầu và đại thực bào (Hình 4.43). Ngoài ra, trên các
mẫu tỳ tạng cá lóc còn quan sát được rất nhiều trung tâm đại thực bào sắc tố
nằm trong phần tủy trắng (Hình 4.40, 4.43). Theo Roberts (1975), trung tâm
đại thực bào sắc tố (TTĐTBST) là những điểm có màu nâu vàng hoặc nâu đen
rất dễ nhận biết, được tạo thành do sự tập hợp các tế bào sắc tố ở tỳ tạng, thận
và một số ít ở gan. Ông cũng cho biết các vật chất sắc tố ở TTĐTBST gồm có
một số sắc tố melanin, sắc tố mỡ và sắc tố máu (haemosiderin) (trích dẫn bởi
Bucke ctv., 1992). Nguồn gốc và chức năng của các bộ phận cấu thành
TTĐTBST thì hoàn toàn không rõ, tuy nhiên người ta đã biết haemosiderin là
sắc tố được chứa trong các tế bào hồng cầu. Khi các tế bào hồng cầu này suy
yếu thì những sản phẩm suy thoái cũng như các vật chất hư hỏng của chúng sẽ
được thực bào ở tỳ tạng bởi các đại thực bào (Bucke ctv., 1992). Kranz (1989)
nghiên cứu trên cá bơn cho biết TTĐTBST có chức năng như là một cơ quan
bảo vệ không đặc hiệu, và sự thay đổi về số lượng TTĐTBST ở tỳ tạng cá sẽ
phản ánh sự biến đổi hệ thống thực bào cũng như một phần hệ thống miễn
dịch tế bào không đặc hiệu (trích dẫn bởi Bucke ctv., 1992).


45
Ngoài ra, Ferguson (1976) cũng đã tìm thấy ở tỳ tạng cá có ít tế bào máu và
nhiều đại thực bào hơn ở thận trước và thận sau. Từ đặc điểm này, ông đã đưa
ra kết luận chức năng chính của tỳ tạng là phân hủy các tế bào hồng cầu già và
hình thành các tế bào máu mới (trích dẫn bởi Herrera, 1996). Bên cạnh đó, khi
quan sát cấu trúc vi thể của tỳ tạng cá lóc dưới kính hiển vi còn có sự hiện
diện của rất nhiều trung tâm đại thực bào sắc tố, vì thế có thế nói tỳ tạng của
cá cũng đóng vai trò của cơ quan miễn dịch.




Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu




46
b


a

c




Hình 4.40 Cấu tạo của tỳ tạng cá lóc (H&E, 10X)
a.Tủy đỏ; b. Tủy trắng; c. Các trung tâm đại thực bào sắc tố



Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu




b
a


Hình 4.41 Lớp biểu mô quanh tỳ tạng cá lóc (H&E, 100X)
a. Lớp biểu mô; b. Các mao mạch chứa hồng cầu




47
a



Hình 4.42 Cấu trúc tủy đỏ (H&E, 100X)
a. Mao mạch chứa hồng cầu




Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

b
a




Hình 4.43 Cấu trúc tủy trắng (H&E, 100X)
a. Trung tâm đại thực bào sắc tố; b. Mao mạch chứa hồng cầu




48
Chương V
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

5.1 Kết luận
Kết quả phân tích mô học của 30 con cá lóc đã thành lập được một bộ sưu tập
với 114 tiêu bản, ghi nhận lại 44 hình ảnh đặc trưng minh họa cho cấu trúc vi
thể của 9 cơ quan gồm: da, cơ, dạ dày, ruột, gan, mang, tim, thận và tỳ tạng.
Cấu trúc vi thể của các hệ cơ quan như: da, cơ, thận, tỳ tạng, dạ dày, gan và
mang đã được quan sát và mô tả gần như hoàn chỉnh.
Đới với ruột cá, phần ruột trước và ruột sau chưa được quan sát cũng như chưa
mô tả được các thành phần cấu tạo của nó. Ngoài ra, cấu trúc của xoang tĩnh
mạch tim và các van tim cũng chưa được phân tích và mô tả.

5.2 Đề xuất
Tiếp tục nghiên cứu về cấu trúc vi thể của các cơ quan chưa được mô tả đầy
đủ trong đề tài như ruột trước, ruột sau và tim, cũng như các hệ cơ quan khác
trên cá lóc để có thể thành lập một bộ sưu tập hình ảnh phong phú hơn.


Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu




49
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bucke ctv., 1992. Quantitative assessment of melanomacrophage centres
(MMCs) in dab Limanda limanda along a pollution transect in the German
Bight.
http://www.fisheries.go.th/aahri/Healthnew/AAHRI/AAHRI/Topics/Newle
tter/art29.htm (cập nhật ngày 26/05/2008).
2. Bùi Châu Trúc Đan, 2003. Bước đầu nghiên cứu đăc điểm mô bệnh học
bệnh phù mắt trên cá tra (Pangasius hypophthalmus). Luận văn tốt nghiệp
đại học, Khoa Thủy Sản, trường Đại Học Cần Thơ.
3. Chinabut S. and R.J. Robert, 1999. Pathology and Histopathology of
Epizootic Ulcerative Syndrome (EUS)”. Aquatic Animal Health Research
Insitute, Department of Fisheries, Kasetsart University Campus, Jatujak,
Bangkok 10900, Thailand. 116pp.
4. Chinabut S., C. Limsuwan and P. Kitsawat, 1991. Histology of the walking
catfish, Clarias batrachus. International Development Research Center,
Canada, 96pp.
5. Đặng Thụy Mai Thy, 2002. “Bước đầu thử nghiệm ương cá lóc đen và cá
lóc môi trề bằng thức ăn có hàm lượng đạm khác nhau”. Luận văn tốt
nghiệp đại học, Khoa Thủy Sản, trường Đại Học Cần Thơ.
6. Dương Nhựt Long, 2003. Giáo trình Kỹ thuật nuôi thủy sản nước ngọt.
Khoa Thủy Sản trường Đại Học Cần Thơ.
7. Groman D., 1982. Histology of the Striped Bass. Department of
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học Connecticut 06268. cứu
Pathobiology University of Connectcut Storrs, tập và nghiên
Bethesda, Maryland, 115pp.
8. Herrera A.A. , 1996. Histology of Tilapia (Oreochromis niloticus). Bureau
of Fisheries & Agriculture, University of the Philippines, Quezon City,
Philippines 1101, 86pp.
9. Hibyia T., 1982. An atlas of Fish Histology (Normal and Pathological
Features). College of Agriculture and Veterinary Medicine, Nihon Univ.
Tokyo, Japan, 147pp.
10. http://en.wikipedia.org/wiki/Paraffin cập nhật ngày 06/02/2008.
11. Miyazaki T., W.A. Rogers, and J.A. Plumb, 1986. Histopathological
Studies on Parasitic Protozoan Diseases of the Channel Catfish in the
United States. Faculty of Fisheries, Mie University. Journal of fish
diseases, No. 13: 1-9, November 15, 1986.
12. Ngô Thị Hạnh, 2001. Tiếp tục nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học, biện
pháp kích thích sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá lóc (Channa striatus
Bloch, 1797). Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Thủy Sản, trường Đại
Học Cần Thơ.
13. Ngô Trọng Lư và Thái Bá Hồ, 2001. Kỹ thuật nuôi thủy đặc sản nước ngọt
(tập 1). Nhà Xuất Bản Nông Nghiệp. Hà Nội, 151trang.
14. Nguyễn Quốc Thịnh, 2002. Bước đầu nghiên cứu mô bệnh học bệnh đốm
trắng trong nội tạng cá tra (Pangasius hypophthalmus). Luận văn tốt
nghiệp đại học, Khoa Thủy Sản, trường Đại Học Cần Thơ.



50
15. Nguyễn Văn Kiểm, 2004. Giáo trình Kỹ thuật sản xuất cá giống. Khoa
Thủy Sản trường Đại Học Cần Thơ.
16. Phạm Phan Địch, Trịnh Bình và Đỗ Kính, 2004. Mô Học. Nhà Xuất Bản
Y Học. Hà Nội, 739 trang.
17. Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004. Giáo trình Phương pháp
nghiên cứu sinh học cá. Khoa Thủy Sản, trường Đại Học Cần Thơ.
18. Phạm Thị Như Sang, 2006. Khảo sát mô học trên một số cơ quan của cá
tra (Pangasius hypophthalmus) nuôi ao và bè thâm canh. Luận văn tốt
nghiệp đại học, Khoa Thủy Sản, trường Đại Học Cần Thơ.
19. Phạm Văn Khánh, 2000. Kỹ thuật nuôi một số loài cá xuất khẩu (Lóc, Lóc
bông, Bống tượng, Tra, Basa). Nhà Xuất Bản Nông Nghiệp. Tp Hồ Chí
Minh, 53 trang.
20. Phan Phương Loan, 2000. Bước đầu thử nghiệm ương nuôi cá lóc đen
(Ophiocephalus striatus). Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Thủy Sản,
trường Đại Học Cần Thơ.
21. Phan Thị Hừng, 2004. “Nghiên cứu cấu trúc mô và sự biến động số lượng
tế bào hồng cầu trên cá tra (Pangasius hypophthalmus) bị bệnh vàng da”.
Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Thủy Sản, trường Đại Học Cần Thơ.
22. Trần Hồng Ửng, 2003. “Bước đầu xác định sự thay đổi số lượng tế bào
bạch cầu và mô tỳ tạng cá tra (Pangasius hypophthalmus) bệnh trắng gan”.
Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Thủy Sản, trường Đại Học Cần Thơ.
23. Trần Phùng Hoàng Tuấn, 2005. Một số mô hình nuôi thủy sản có hiệu quả
kinh tế cao trong mùa nước nổi
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
http://sonongnghiep.angiang.gov.vn/wp_ctg_ud/mohinh%20hq/mohinhthu
ysan.htm. Cập nhật ngày 29/01/2008.
24. Trần Quốc, 2007. Nuôi cá lóc công nghiệp trong vèo lưới.
http://www.bentre.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=419
&Itemid=42. Cập nhật ngày 29/01/2008.
25. Trần Thị Ngọc Hân, 2006. Khảo sát mô học cá tra (Pangasius
hypophthalmus) bị bệnh mủ gan trong điều kiện gây cảm nhiễm. Luận văn
tốt nghiệp đại học, Khoa Thủy Sản, trường Đại Học Cần Thơ.




51
PHỤ LỤC
Công thức pha chế một số hóa chất sử dụng
1. Formol trung tính (Neutral buffered formalin: NBF)
Formalin 100ml
NaH2PO4 4g
Na2HPO4 6,5g
Nước cất 900ml
2. Dung dịch cố định Buoin’s
Acid picric quá bão hòa 750ml
Formol 125ml
Glacial acetic acid 50ml
3. Harris’s haematoxyline
Haematoxyline 5g
100% alcohol 50ml
Potassium alum 50g
Nước cất 1lít
Mercuric oxide 2,5g
Glacial acetic acid 40ml
Hòa tan Potassium alum trong nước ấm.
Hòa tan Haematoxyline trong cồn, sau đó đổ vào dung dịch Potassium
alum vừa pha ở trên, rồi thêm Mercuric oxide vào và khoấy đều.
Để ngụi, thêm Glacial acid vào và lọc lại.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
4. Eosin/Phloxine
Stock Eosin (1% Eosin Y trong nước) 100ml
Stock Phloxine (1% Phloxine B trong nước) 10ml
95% Ethanol 780ml
Glacial acetic acid 4ml
5. Acid/ Alcohol
Alcohol 70% 990ml
Hydrochloric acid 10ml
6. 2% Potassium acetate
Potassium acetate 20g
Nước cất 1lít




52
LỜI CẢM TẠ


Em xin gởi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy Phạm Thanh Liêm và cô
Đặng Thụy Mai Thy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo em trong suốt thời
gian thực hiện đề tài.
Em thành thật biết ơn cô Nguyễn Thị Thu Hằng và cô Bùi Thị Bích Hằng đã tạo điều
kiện hết sức thuận lợi và nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành tốt đề tài này. Xin cảm ơn
anh Cao Tuấn Anh và quí thầy cô- cán bộ thuộc bộ môn Sinh học và Bệnh Thủy Sản,
khoa Thủy Sản trường Đại Học Cần Thơ đã quan tâm giúp đỡ và chia sẻ những khó
khăn của em khi thực hiện đề tài.
Cảm ơn gia đình, những người thân thương nhất của em đã luôn luôn bên cạnh ủng
hộ và chia sẻ với em những khó khăn trong suốt bốn năm đại học cũng như trong
khoảng thời gian thực hiện đề tài này.
Và em cũng xin gởi những lời cảm ơn chân thành đến các bạn thuộc tập thể lớp Bệnh
Học Thủy Sản- K30 đã quan tâm và nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt thời gian qua.
Xin chân thành cảm ơn!


Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu




i
TÓM TẮT


Đề tài được tiến hành từ tháng 02/2008 đến tháng 05/2008 với mục tiêu thành
lập một bộ sưu tập về cấu trúc vi thể của các cơ quan trên cá lóc làm cơ sở cho
những nghiên cứu về mô bệnh học tiếp theo. Mẫu cá lóc khỏe có trọng lượng
từ 100-200g được thu ở chợ Tân An, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ và được
phân tích tại phòng thí nghiệm bộ môn Sinh học và Bệnh Thủy Sản khoa Thủy
Sản trường Đại học Cần Thơ. Bằng phương pháp phân tích mô học, cấu trúc vi
thể của các cơ quan trên cá lóc khỏe đã được quan sát và mô tả chi tiết. Sau
khi giải phẩu, mẫu của các cơ quan như da-cơ được cố định trong dung dịch
formol trung tính 10% còn các cơ quan khác như dạ dày, ruột, gan, mang, tim,
thận, tỳ tạng thì được cố định trong dung dịch Bouin’s. Các bước của qui trình
xử lý mẫu, đúc khối, cắt và nhuộm mẫu được thực hiện theo qui trình phân
tích của phòng thí nghiệm Mô bệnh học, khoa Thủy Sản.
Kết quả phân tích mô học trên 30 con cá lóc khỏe đã thành lập được một bộ
sưu tập với 114 tiêu bản của 9 hệ cơ quan gồm: da, cơ, gan, dạ dày, ruột, tim,
mang, thận, tỳ tạng. Luận văn cũng đã ghi nhận lại 44 hình ảnh đặc trưng minh
họa cho cấu trúc vi thể của các hệ cơ quan kể trên.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu




ii
MỤC LỤC


Trang
LỜI CẢM TẠ ..........................................................................................................i
TÓM TẮT ..............................................................................................................ii
MỤC LỤC .............................................................................................................iii
DANH SÁCH HÌNH .............................................................................................. v
Chương I: GIỚI THIỆU..........................................................................................1
Chương II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .....................................................................3
2.1 Sơ lược về nghiên cứu mô học............................................................3
2.2 Nghiên cứu mô học trên cá ................................................................4
2.4 Vài nét về cá lóc .................................................................................7
2.4.1 Đặc điểm sinh học của cá lóc .........................................................7
2.4.2 Tình hình nuôi cá lóc ở ĐBSCL.....................................................8
2.4.3 Những nghiên cứu trên cá lóc.......................................................10
Chương III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................................................11
3.1 Thời gian ..........................................................................................11
Trung tâm Học 3.2 ĐịaĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
liệu điểm...........................................................................................11
3.3 Phương pháp nghiên cứu ..................................................................11
3.2.1 Vật liệu nghiên cứu......................................................................11
3.2.2 Phương pháp................................................................................11
Chương IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ...........................................................17
4.1 Da.....................................................................................................18
4.2 Cơ ....................................................................................................21
4.3 Dạ Dày .............................................................................................24
4.4 Ruột..................................................................................................28
4.5 Gan...................................................................................................31
4.6 Mang ................................................................................................35
4.7 Tim...................................................................................................38
4.8 Thận .................................................................................................42
4.9 Tỳ tạng .............................................................................................47
Chương V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT................................................................49
5.1 Kết luận............................................................................................49
5.2 Đề xuất .............................................................................................49



iii
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................50
PHỤ LỤC .............................................................................................................52




Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu




iv
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 3. Các cơ quan của cá lóc khỏe ........................................................ 12
Hình 4.1 Cấu trúc da cá lóc (H&E, 40X) .................................................. 17
Hình 4.2 Cấu trúc lớp biểu bì (H&E, 40X) ............................................... 17
Hình 4.3 Cấu trúc lớp bì của da cá lóc (H&E, 40X).................................. 18
Hình 4.4 Cấu trúc lớp hạ bì của da cá lóc (H&E, 100X) ........................... 18
Hình 4.5 Lát cắt ngang của cơ vân cá lóc (H&E, 100X) ........................... 20
Hình 4.6 Lát cắt dọc của cơ vân cá lóc (H&E, 100X) ............................... 20
Hình 4.7 Lắt cắt ngang phần cơ dạ dày cá lóc (H&E, 100X)..................... 21
Hình 4.8 Lắt cắt ngang phần cơ ruột cá lóc (H&E, 100X) ........................ 21
Hình 4.9 Cấu trúc thành dạ dày cá lóc (H&E, 5X) .................................... 23
Hình 4.10 Các tế bào biểu mô của niêm mạc dạ dày (H&E, 100X)........... 23
Hình 4.11 Lớp cơ trơn của thành dạ dày cá lóc (H&E, 20X)..................... 24
Hình 4.12 Cấu trúc của lớp dưới niêm mạc dạ dày cá lóc (H&E, 40X) ..... 24
Hình 4.13 Tuyến dạ dày cá lóc (H&E, 40X)............................................. 25
Hình 4.14 Các tế bào tuyến dạ dày cá lóc (H&E, 100X) ........................... 25
Hình 4.15 Lát cắt ngang ruột giữa của cá lóc (H&E, 5X).......................... 27
Hình 4.16 Cấu trúc của thành ruột cá lóc (H&E, 20X).............................. 27
Hình 4.17 Cấu trúc nếp gấp của ruột cá lóc (H&E, 100X) ........................ 28
Hình 4.18 Cấu trúc lớp cơ của thành ruột cá lóc (H&E, 20X) ................... 28
Hình 4.19 Cấu trúc màng ngoài của gan cá lóc (H&E, 40X)..................... 30
Trung tâm Học liệu mao mạch trong gan@ lóc (H&E, 100X) ......................... 30
Hình 4.20 Các ĐH Cần Thơ cá Tài liệu học tập và nghiên cứu
Hình 4.21 Cấu trúc tuyến gan tụy (H&E, 100X)....................................... 31
Hình 4.22 Tĩnh mạch gan trong tuyến gan tụy (H&E, 100X).................... 31
Hình 4.23 Trung tâm đại tực bào sắc tố trên gan (H&E, 100X) ................ 32
Hình 4.24 Ống tụy trên gan cá lóc (H&E, 100X) ...................................... 32
Hình 4.25 Cấu trúc mang cá lóc (H&E, 5X) ............................................. 34
Hình 4.26 Động mạch vào mang (H&E, 40X) .......................................... 34
Hình 4.27 Phần ngọn của sợi mang sơ cấp (H&E, 100X) ......................... 35
Hình 4.28 Cấu trúc của sợi mang thứ cấp (H&E, 100X) ........................... 35
Hình 4.29 Thành tâm thất (H&E, 20X).................................................... 38
Hình 4.30 Thành tâm nhĩ (H&E, 100X).................................................... 38
Hình 4.31 Các sợi cơ tim cá lóc (H&E, 100X).......................................... 39
Hình 4.32 Phần cơ trơn ở bầu động mạch (H&E, 100X)........................... 39
Hình 4.33 Thận trước cá lóc (H&E, 40X)................................................. 41
Hình 4.34 Mặt cắt dọc của thận cá lóc (H&E, 40X).................................. 42
Hình 4.35 Quản cầu thận cá lóc (H&E, 100X).......................................... 42
Hình 4.36 Đoạn thận cổ (H&E, 100X)...................................................... 43
Hình 4.37 Đoạn gần tâm thứ nhất và thứ hai (H&E, 100X) ...................... 43
Hình 4.38 Đoạn thận xa (H&E, 100X)...................................................... 44
Hình 4.39 Ống góp chung (H&E, 100X) .................................................. 44
Hình 4.40 Cấu tạo của tỳ tạng cá lóc (H&E, 10X) .................................... 46
Hình 4.41 Lớp biểu mô quanh tỳ tạng cá lóc (H&E, 100X) ...................... 46
Hình 4.42 Cấu trúc tủy đỏ (H&E, 100X) .................................................. 47
Hình 4.43 Cấu trúc tủy trắng (H&E, 100X) .............................................. 47

v
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản