Cấy chuyển Gene thế hệ mới với gene kháng Dicamba

Chia sẻ: Phuong Thanh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:3

0
84
lượt xem
23
download

Cấy chuyển Gene thế hệ mới với gene kháng Dicamba

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Các nhà khoa học tại trường ĐH Nebraska ở Lincoln vừa phát triển một thế hệ cây chuyển gene mới sử dụng gene kháng thuốc diệt cỏ từ vi khuẩn. Bộ đôi thuốc diệt cỏ-gene kháng nhiều ưu điểm này giúp người nông dân có nhiều lựa chọn hơn trong tình hình cỏ kháng thuốc thế hệ cũ ngày càng nhiều.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Cấy chuyển Gene thế hệ mới với gene kháng Dicamba

  1. Cấy chuyển Gene thế hệ mới với gene kháng Dicamba Các nhà khoa học tại trường ĐH Nebraska ở Lincoln vừa phát triển một thế hệ cây chuyển gene mới sử dụng gene kháng thuốc diệt cỏ từ vi khuẩn. Bộ đôi thuốc diệt cỏ-gene kháng nhiều ưu điểm này giúp người nông dân có nhiều lựa chọn hơn trong tình hình cỏ kháng thuốc thế hệ cũ ngày càng nhiều. Cây trồng chuyển gene thế hệ cũ chủ yếu dựa trên gene kháng Glyphosate (bar gene) đã được ứng dụng rộng rãi. Tuy nhiên trên thực tế , người nông dân xử lý thuốc gốc Glyphophosate trên những cánh đồng không canh tác thấy rõ biến dị kháng thuốc xuất hiện khá nhanh với tỷ lệ cao. Điều này cũng có thể do người nông dân không có chọn lựa thứ hai ngoài việc xịt glyphosate trên đất canh tác các loại cây mẫn cảm. Mô hình thứ hai thuốc diệt cỏ dicamba-gene kháng dicamba ra đời để giải quyết vấn đề này. Dicamba là loại thuốc diệt cỏ đã được sử dụng trong khoảng 40 năm và được ghi nhận là tạo ra rất ít giống kháng. Phổ tác dụng của dicamba là các loại cây dại lá rộng nhưng không diệt cây họ cỏ, do đó người ta thường dùng cho bắp hoặc kết hợp với một số loại thuốc khác để phát quang đất. Một ưu điểm của dicamba là an toàn và ít gây ô nhiễm môi trường do thời gian bán hủy rất ngắn (từ 1 đến 6 tuần). Khi bị phóng thích vào đất, thuốc có thể tự hủy trong vài tháng hoặc là nguồn cơ chất của nhiều loại vi sinh vật khác nhau. Dicamba tan trong nước nhưng chỉ gây độc trên các loại cá nước lạnh và hầu như không độc với các loại cá nước ấm và các loài động vật còn lại. Thử trên chuột mang thai cho thấy ở một số nồng độ chuột mẹ có triệu chứng nhiễm độc và chuột con bị giảm nhẹ khối lượng. Ở chuột bình thường có dấu hiệu sưng gan, tuy nhiên không có biến đổi tương tự nào được tìm thấy ở người.
  2. Don Weeks và công sự đã dòng hóa một gene từ vi khuẩn Pseudomonas maltophilia giúp phân giải dicamba, sau đó chuyển vào thuốc lá, đậu nành, cà chua và cả cây mô hình Arabidopsis thaliana, trong tất cả các trường hợp, cây mang gene chuyển đều có khả năng kháng dicamba. Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Science tuần qua. Nhà sản xuất dòng cây chuyển gene kháng Glyphosat (Roundup Ready) đầu tiên trên thế giới, Monsanto, cũng đã ký hợp đồng mua bản quyền các kết quả nghiên cứu trên dicamba. Công ty này cho biết họ hy vọng đậu nành kháng dicamba sẽ có mặt trên thị trường trong khoảng 3-7 năm tới, tiếp sau đó sẽ là bông. Thế hệ cây chuyển gene mới này sẽ giúp làm nhẹ bớt sự phụ thuộc vào glyphosate như hiện nay. Hiện nay khoảng 90% đậu nành và 60% bông trồng tại Mỹ được biến đổi gene và một lượng lớn mang gene kháng glyphosate. Những người phản đối cho rằng xu hướng chuyển gene làm gia tăng sử dụng thuốc diệt cỏ có hại cho môi trường, trong khi một số người khác ủng hộ việc dùng thuốc diệt cỏ để tránh phải cày đất trước khi trồng làm xói mòn đất và ô nhiễm nguồn nước. Sau khi phát quang bằng thuốc gốc Glyphosate, họ trồng trực tiếp cây chuyển gene lên đồng, nhưng vấn đề là cỏ dại kháng Glyphosate đang ngày càng nhiều làm gia tăng đáng kể chi phí giữ đất không canh tác đặc biệt là ở những bãi chăn thả. Tuy giải quyết được nhiều vấn đề của Glyphosate nhưng dicamba vẫn có những nhược điểm riêng của nó. Theo Hartzler, tính bay hơi của hợp chất dicamba giúp cho nó có thể diệt cây bụi lá rộng hiệu quả trên một diện tích lớn hơn khu vực
  3. xử lý đến 0,5km. Nghĩa là trong phạm vi tiêu diệt của nó, từ cây bụi đến các loại cây nông nghiệp nhạy cảm đều sẽ bị phát quang sạch sẽ…Đây cũng là lời phàn nàn thường xuyên danh cho nhà sản xuất dicamba. Hartzler cho rằng sự phát tán của dicamba như một trục trặc nội bộ hơn là một mối nguy về sinh thái. Theo Don Weeks, tác giả chuyển nhượng cho Monsanto công trình nghiên cứu cho rằng kinh nghiệm sử dụng và các phưong pháp quản lý dicamba đã phát triển đủ để khắc phục nhược điểm trên.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản