Chấn thương ngực kín (Kỳ 5)

Chia sẻ: Barbie Barbie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
53
lượt xem
15
download

Chấn thương ngực kín (Kỳ 5)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Điều trị mảng sườn di động: Trước đây, điều trị mảng sườn di động chỉ được xem như là một điều trị gãy xương đơn thuần. Đến năm 1956, vấn đề hô hấp đảo chiều và lắc lư trung thất được xác định là vấn đề trung tâm trong mảng sườn di động. Rối loạn sinh lý cơ bản về hô hấp ở đây là: lúc đầu là tình trạng thiếu oxy kèm theo nhược thán do thở nhanh, nhưng sau đó chuyển nhanh sang tình trạng thiếu oxy, ưu thán và toan máu. + Nguyên tắc chung: - Hai vấn...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chấn thương ngực kín (Kỳ 5)

  1. Chấn thương ngực kín (Kỳ 5) 8.2. Điều trị mảng sườn di động: Trước đây, điều trị mảng sườn di động chỉ được xem như là một điều trị gãy xương đơn thuần. Đến năm 1956, vấn đề hô hấp đảo chiều và lắc lư trung thất được xác định là vấn đề trung tâm trong mảng sườn di động. Rối loạn sinh lý cơ bản về hô hấp ở đây là: lúc đầu là tình trạng thiếu oxy kèm theo nhược thán do thở nhanh, nhưng sau đó chuyển nhanh sang tình trạng thiếu oxy, ưu thán và toan máu. + Nguyên tắc chung: - Hai vấn đề cần làm trước khi xử trí là: . Duy trì đường khí đạo thông suốt. . Cố định thành ngực (mảng sườn di động). - Những vấn đề cần làm tiếp theo là:
  2. . Dẫn lưu máu và khí màng phổi. . Truyền máu để bù lại số máu đã mất. - Điều chỉnh các rối loạn sinh lý khác do mảng sườn di động gây nên. + Duy trì đường khí đạo thông suốt: Phải làm thông khí đạo để duy trì tốt việc trao đổi khí ở máu. Trong mảng sườn di động thường hay có tắc khí đạo và phù phổi do chấn thương. Ngoài ta còn có thể có xuất huyết ở nhu mô phổi làm hạn chế diện tích trao đổi khí. Khi có mảng sườn di động thì bệnh nhân có nhiều đờm dãi tăng tiết do kích thích, nhưng lại ho rất khó khăn, vì đau, vì dạ dày căng trướng, có khi vì liệt nhẹ cơ hoành và vì tình trạng tràn khí, tràn máu, hiện tượng hô hấp đảo chiều của mảng sườn làm cản trở ho. Do đó bệnh nhân tuy có nhiều đờm mà không khạc được ra ngoài, nên dễ bị suy hô hấp. Ở những trường hợp nặng; bệnh nhân rất khó thở. Phải hút đờm ở khí quản, có thể phải mở khí quản để làm giảm khoảng chết, giảm sức cản không khí lưu thông để sự trao đổi khí tốt hơn, bệnh nhân dễ thở, giảm được hô hấp đảo chiều. + Cố định thành ngực: - Cố định tạm thời: Có nhiều biện pháp đơn giản để cố định thành ngực tạm thời :
  3. . Dùng bàn tay áp nhẹ lên thành ngực bệnh nhân và ấn nhẹ vào mảng sườn. . Cho bệnh nhân nằm nghiêng sang bên bị thương trong trường hợp mảng sườn di động bên. . Đặt một đệm bông dày phủ kín lên bề mặt của mảng sườn rồi băng chặt quanh ngực. . Dùng kìm có mấu dài kẹp vào xương sườn qua da, sau khi gây tê tại chỗ. Sau đó kéo nhẹ mảng sườn ra ngoài và giữ bằng tay. Những biện pháp tạm thời trên đây có nhược điểm là hạn chế động tác thở và ho của bệnh nhân, làm ứ đọng đờm dãi, nên không thể làm lâu dài được. - Cố định thành ngực cơ bản: có hai phương pháp: . Phương pháp gián tiếp: thở máy (còn được gọi là phương pháp cố định bên trong bằng khí). Bệnh nhân được mở khí quản, hoặc được đặt nội khí quản, lắp vào máy thở, tiêm cura. Máy thở hoạt động với áp lực dương tính. Bệnh nhân không còn hoạt động tự thở nữa, nên mảng sườn không còn di động đảo chiều như trước nữa. Sau 20 - 40 ngày, mảng sườn đã được cố định thì cho tự thở. Phương pháp thở máy không chỉnh hình được chỗ gẫy. Đối với mảng sườn có đường gãy hai
  4. bên xương ức thì ít tác dụng. Trong trường hợp có rách phổi hay phù phổi hay khí phế thũng thì không áp dụng được. Nếu có tràn máu, tràn khí thì trước khi cho thở máy phải dẫn lưu màng phổi, nếu không có thể bị tràn khí màng phổi van dưới áp lực của máy thở. Phương pháp thở máy có thể gây nên một số tai biến như: viêm khí - phế quản, xẹp khí quản, rò khí - thực quản, và phải săn sóc, theo dõi phức tạp trong một thời gian dài (chế độ ăn uống...). Nói chung thở máy là phương pháp cần được cân nhắc khi sử dụng. Thường chỉ được áp dụng trong những trường hợp có tổn thương mảng sườn trầm trọng. . Phương pháp trực tiếp (phẫu thuật): Phương pháp cố định thành ngực trực tiếp có thể phục hồi hình thể lồng ngực trở lại vững chắc, đồng thời phục hồi hoạt động sinh lý của xương sườn: Kết xương sườn bằng kim loại: thường mổ sau 24 - 48 giờ, sau một thời gian hô hấp viện trợ để phục hồi lại cân bằng về hô hấp. Thường dùng đinh Kirschner buộc chỉ kim loại qua những lỗ xuyên xương, hoặc các mẫu được sản xuất riêng cho thủ thuật này (agaraffe julet). Phương pháp kết xương sườn bằng kim loại thường có chỉ định trong những trường hợp mở lồng ngực để xử trí các thương tổn bên trong. Qua thủ thuật mở ngực mà kết hợp luôn. Phương pháp này thuận lợi trong mảng sườn trước bên
  5. vì bộc lộ dễ dàng các ổ gãy để phẫu thuật. Ngoài ra còn có chỉ định ở những trường hợp có di lệch lớn các đầu xương sườn gãy. Phương pháp này không có chỉ định trong gãy sườn làm nhiều mảnh, hoặc gãy ở cung sườn dẹt và xốp.
Đồng bộ tài khoản