Chất lượng và đặc điểm của chất lượng

Chia sẻ: Nguyen Ngoc Hung | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:23

0
939
lượt xem
298
download

Chất lượng và đặc điểm của chất lượng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chất lượng là một khái niệm quá quen thuộc với loài người ngay từ những thời cổ đại, tuy nhiên chất lượng cũng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi. Tùy theo đối tượng sử dụng, từ " chất lượng" có ý nghĩa khác nhau. Người sản xuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các qui định và yêu cầu do khách hàng đặt ra...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chất lượng và đặc điểm của chất lượng

  1. Quaûn lyù chaát löôïng TCVN Chất lượng và đặc điểm của chất lượng Chất lượng là một khái niệm quá quen thuộc với loài người ngay từ những thời cổ đại,  tuy nhiên chất lượng cũng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi.  Tùy theo đối tượng sử dụng, từ "chất lượng" có ý nghĩa khác nhau. Người sản xuất coi  chất lượng là điều họ phi làm để đáp ứng các qui định và yêu cầu do khách hàng đặt ra,  để được khách hàng chấp nhận. Chất lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ  cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả. Do con người và nền văn hóa trên thế  giới khác nhau, nên cách hiểu của họ về chất lượng và đảm bảo chất lượng cũng khác  nhau.  Nói như vậy không phải chất lượng là một khái niệm quá trừu tượng đến mức người ta  không thể đi đến một cách diễn giải tương đối thống nhất, mặc dù sẽ còn luôn luôn thay  đổi. Tổ chức Quốc tế về Tiệu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000, đã đưa ra  định nghĩa sau:  Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay qúa   trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan".  ở đây yêu cầu là các nhu cầu và mong đợi được công bố, ngụ ý hay bắt buộc theo tập  quán.  Từ định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểm sau đây của khái niệm chất lượng:  1/ Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu. Nếu một sản phầm vì lý do nào đó mà  không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ  công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại. Đây là một kết luận then chốt  và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình.  Page 1 of 23
  2. Quaûn lyù chaát löôïng TCVN 2/ Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động  nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng.  3/ Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phi xét và chỉ xét đến mọi đặc tính của  đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể. Các nhu cầu này không  chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang  tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội.  4/ Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các qui định, tiêu chuẩn nhưng cũng  có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận  chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong chúng trong quá trình sử dụng.  5/ Chất lượng không phi chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà ta vẫn hiểu hàng  ngày. Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình.  Khái niệm chất lượng trên đây được gọi là chất lượng theo nghĩa hẹp. Rõ ràng khi nói  đến chất lượng chúng ta không thể bỏ qua các yếu tố giá cả và dịch vụ sau khi bán,  vấn đề giao hàng đúng lúc, đúng thời hạn đó là những yếu tố mà khách hàng nào cũng  quan tâm sau khi thấy sản phẩm mà họ định mua thỏa mãn nhu cầu của họ.  Quản lý chất lượng Chất lượng không tự sinh ra; chất lượng không phải là một kết qủa ngẫu nhiên, nó là kết  qủa của sự tác động của hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Muốn đạt  được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này. Hoạt  động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được gọi là quản lý chất lượng. Phải có hiểu biết  và kinh nghiệm đúng đắn về quản lý chất lượng mới giải quyết tốt bài toán chất lượng.  Quản lý chất lượng đã được áp dụng trong mọi ngành công nghiệp, không chỉ trong sản  xuất mà trong mọi lĩnh vực, trong mọi loại hình công ty, qui mô lớn đến qui mô nhỏ, cho  Page 2 of 23
  3. Quaûn lyù chaát löôïng TCVN dù có tham gia vào thị trường quốc tế hay không. Quản lý chất lượng đảm bảo cho công  ty làm đúng những việc phải làm và những việc quan trọng. Nếu các công ty muốn  cạnh tranh trên thị trường quốc tế, phải tìm hiểu và áp dụng các khái niệm về quản lý  chất lượng có hiệu quả. Quản lý chất lượng là các hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát một tổ   chức về chất lượng  Việc định hướng và kiểm soát về chất lượng thường bao gồm lập chính sách, mục tiêu,  hoạch định, kiểm soát, đảm bảo và cải tiến chất lượng Các nguyên tắc của quản lý chất lượng Nguyên tắc 1. Định hướng bởi khách hàng  Doanh nghiệp phụ thuộc vào khách hàng của mình và vì thế cần hiểu các nhu cầu hiện  tại và tương lai của khách hàng, để không chỉ đáp ứng mà còn phấn đấu vượt cao hơn  sự mong đợi của họ.  Nguyên tắc 2. Sự lãnh đạo  Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất đồng bộ giữa mục đích và đường lối của doanh  nghiệp. Lãnh đạo cần tạo ra và duy trì môi trường nội bộ trong doanh nghiệp để hoàn  toàn lôi cuốn mọi người trong việc đạt được cắc mục tiêu của doanh nghiệp. Nguyên tắc 3. Sự tham gia của mọi người  Con người là nguồn lực quan trọng nhất của một doanh nghiệp và sự tham gia đầy đủ  với những hiểu biết và kinh nghiệm của họ rất có ích cho doanh nghiệp.  Nguyên tắc 4. Quan điểm quá trình  Page 3 of 23
  4. Quaûn lyù chaát löôïng TCVN Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách hiệu quả khi các nguồn và các hoạt động có  liên quan được quản lý như một quá trình.  Nguyên tắc 5: Tính hệ thống Việc xác định, hiểu biết và quản lý một hệ thống các quá trình có liên quan lẫn nhau đối  với mục tiêu đề ra sẽ đem lại hiệu quả của doanh nghiệp. Nguyên tắc 6. Cải tiên liên tục  Cải tiến liên tục là mục tiêu, đồng thời cũng là phương pháp của mọi doanh nghiệp.  Muốn có được khả năng cạnh tranh và mức độ chất lượng cao nhất, doanh nghiệp phải  liên tục cải tiến.  Nguyên tắc 7. Quyết định dựa trên sự kiện  Mọi quyết định và hành động của hệ thống quản lý hoạt động kinh doanh muốn có hiệu  quả phải được xây đựng dựa trên việc phân tích dữ liệu và thông tin.  Nguyên tắc 8. Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng  Doanh nghiệp và người cung ứng phụ thuộc lẫn nhau, và mối quan hệ tương hỗ cùng  có lợi sẽ nâng cao năng lực của cả hai bên để tạo ra giá trị. Một số phương pháp quản lý chất lượng 1. Kiểm tra chất lượng  Một phương pháp phổ biến nhất để đảm bảo chất lượng sản phẩm phù hợp với qui định  là bằng cách kiểm tra các sản phẩm và chi tiết bộ phận nhằm sàng lọc và loại ra bất cứ  một bộ phận nào không đảm bảo tiêu chuẩn hay qui cách kỹ thuật.  Page 4 of 23
  5. Quaûn lyù chaát löôïng TCVN Đầu thế kỷ 20, việc sản xuất với khối lượng lớn đã trở nên phát triển rộng rãi, khách  hàng bắt đầu yêu cầu ngày càng cao về chất lượng và sự cạnh tranh giữa các cơ sở  sản xuất về chất lượng càng ngày càng mãnh liệt. Các nhà công nghiệp dần dần nhận  ra rằng kiểm tra không phải là cách đảm bảo chất lượng tốt nhất. Theo định nghĩa, kiểm  tra chất lượng là hoạt động như đo, xem xét, thử nghiệm, định cỡ một hay nhiều đặc  tính của đối tượng và so sánh kết quả với yêu cầu nhằm xác định sự phù hợp của mỗi  đặc tính. Như vậy kiểm tra chỉ là một sự phân loại sản phẩm đã được chế tạo, một cách  xử lý "chuyện đã rồi". Nói theo ngôn ngữ hiện nay thì chất lượng không được tạo dựng  nên qua kiểm tra.  Vào những năm 1920, người ta đã bắt đầu chú trọng đến những quá trình trước đó, hơn  là đợi đến khâu cuối cùng mới tiến hành sàng lọc sản phẩm. Khái niệm kiểm soát chất  lượng (Quality Control ­ QC) ra đời.  2. Kiểm soát chất lượng  Theo đính nghĩa, Kiểm soát chất lượng là các hoạt động và kỹ thuật mang tính tác   nghiệp được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chất lượng.  Để kiểm soát chất lượng, công ty phi kiểm soát được mọi yếu tố ảnh hưởng trực tiếp  đến quá trình tạo ra chất lượng. Việc kiểm soát này nhằm ngăn ngừa sản xuất ra sản  phẩm khuyết tật. Nói chung, kiểm soát chất lượng là kiểm soát các yếu tố sau đây:  ­ con người;  ­ phương pháp và quá trình;  ­ đầu vào;  ­ thiết bị;  Page 5 of 23
  6. Quaûn lyù chaát löôïng TCVN ­ môi trường.  QC ra đời tại Mỹ, nhưng rất đáng tiếc là các phương pháp này chỉ được áp dụng mạnh  mẽ trong lĩnh vực quân sự và không được các công ty Mỹ phát huy sau chiến tranh. Trái  lại, chính ở Nhật Bản, kiểm soát chất lượng mới được áp dụng và phát triển, đã được  hấp thụ vào chính nền văn hóa của họ.  3. Kiểm soát Chất lượng Toàn diện  Các kỹ thuật kiểm soát chất lượng chỉ được áp dụng hạn chế trong khu vực sản xuất và  kiểm tra. Để đạt được mục tiêu chính của quản lý chất lượng là thỏa mãn người tiêu  dùng, thì đó chưa phải là điều kiện đủ, nó đòi hỏi không chỉ áp dụng các phương pháp  này vào các quá trình xảy ra trước quá trình sản xuất và kiểm tra, như khảo sát thị  trường, nghiên cứu, lập kế hoạch, phát triển, thiết kế và mua hàng, mà còn phải áp  dụng cho các quá trình xảy ra sau đó, như đóng gói, lưu kho, vận chuyển, phân phối,  bán hàng và dịch vụ sau khi bán hàng. Phương thức quản lý này được gọi là Kiểm soát  Chất lượng Toàn diện  Thuật ngữ Kiểml soát chất lượng toàn diện (Total quality Control ­ TQC) được  Feigenbaum định nghĩa như sau:  Kiểm soát chất lượng toàn diện là một hệ thống có hiệu quả để nhất thể hoá các nỗ lực  phát triển, duy trì và cải tiến chất lượng của các nhóm khác nhau vào trong một tổ chức  sao cho các hoạt động marketing, kỹ thuật, sản xuất và dịch vụ có thể tiến hành một  cách kinh tế nhất, cho phép thảo mãn hoàn toàn khách hàng.  Kiểm soát chất lượng toàn diện huy động nỗ lực của mọi đơn vị trong công ty vào các  quá trình có liên quan đến duy trì và cải tiến chất lượng. Điều này sẽ giúp tiết kiệm tối  đa trong sản xuất, dịch vụ đồng thời thỏa mãn nhu cầu khách hàng.  Page 6 of 23
  7. Quaûn lyù chaát löôïng TCVN 4. Quản lý chất lượng toàn diện  Trong những năm gần đây, sự ra đời của nhiều kỹ thuật quản lý mới, góp phần nâng  cao hoạt động quản lý chất lượng, như hệ thống "vừa đúng lúc" (Just­in­time), đã là cơ  sở cho lý thuyết Quản lý chất lượng toàn diện (TQM). Quản lý chất lượng toàn diện  được nảy sinh từ các nước phương Tây với lên tuổi của Deming, Juran, Crosby.  TQM được định nghĩa là Một phương pháp quản lý của một tổ chức, định hướng vào  chất lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên và nhằm đem lại sự thành công dài  hạn thông qua sự thảo mãn khách hàng và lợi ích của mọi thành viên của công ty đó và  của xã hội.  Mục tiêu của TQM là cải tiến chất lượng sản phẩm và thỏa mãn khách hàng ở mức tốt  nhất cho phép. Đặc điểm nổi bật của TQM so với các phương pháp quản lý chất lượng  trước đây là nó cung cấp một hệ thống toàn diện cho công tác quản lý và cải tiến mọi  khía cạnh có liên quan đến chất lượng và huy động sự tham gia của mọi bộ phận và  mọi cá nhân để đạt được mục tiêu chất lượng đã đặt ra.  Các đặc điểm chung của TQM trong quá trình triển khai thực tế hiện nay tại các công ty  có thể được tóm tắt như sau:  ­ Chất lượng định hướng bởi khách hàng.  ­ Vai trò lãnh đạo trong công ty.  ­ Cải tiến chất lượng liên tục.  ­ Tính nhất thể, hệ thống.  ­ Sự tham gia của mọi cấp, mọi bộ phận, nhân viện.  Page 7 of 23
  8. Quaûn lyù chaát löôïng TCVN ­ Sử dụng các phương pháp tư duy khoa học như kỹ thuật thống kê, vừa đúng lúc,...  Về thực chất, TQC, TQM hay CWQC (Kiểm soát chất lượng toàn công ty, rất phổ biến  tại Nhật Bản) chỉ là những tên gọi khác nhau của một hình thái quản lý chất lượng.  Trong những năm gần đây, xu thế chung của các nhà quản lý chất lượng trên thế giới là  dùng thuật ngữ TQM.  Hệ thống quản lý chất lượng theo mô hình ISO 9000 1. Hệ thống quản lý chất lượng  Khái niệm  Để cạnh tranh và duy trì được chất lượng với hiệu quả kinh tế cao, đạt được mục tiêu đã  đề ra, công ty phải có chiến lược, mục tiêu đúng. Từ chiến lược và mục tiêu này, phải có  chính sách hợp lý, một cơ cấu tổ chức và nguồn lực phù hợp, trên cơ sở này xây dựng  một hệ thống quản lý có hiệu quả và hiệu lực. Hệ thống này phải xuất phát từ quan  điểm hệ thống, đồng bộ, giúp doanh nghiệp liên tục cải tiến chất lượng, thỏa mãn khách  hàng và những bên có liên quan.  Hệ thống quản lý chất lượng là một tập hợp các yếu tố có liên quan và tương tác để lập   chính sách và mục tiêu chất lượng và đạt được các mục tiêu đó.  Hệ thống QLCL giúp các doanh nghiệp phân tích yêu cầu của khách hàng, xác định  các quá trình sản sinh ra sản phẩm được khách hàng chấp nhận và duy trì được các  quá trình đó trong điều kiện được kiểm soát. Hệ thống QLCL có thể dùng làm cơ sở cho  các hoạt động cải tiến chất lượng liên tục, ngày càng thoả mãn hơn các yêu cầu của  khách hàng và các bên liên quan. Hệ thống QLCL hài hoà mọi nỗ lực của doanh  nghiệp, hướng toàn bộ nỗ lực của doanh nghiệp để thực hiện mục tiêu chung đã đặt ra.  Đó chính là phương pháp hệ thống của quản lý.  Page 8 of 23
  9. Quaûn lyù chaát löôïng TCVN Lưu ý rằng các yêu cầu của hệ thống QLCL khác với yêu cầu đối với sản phẩm. Các  yêu cầu của hệ thống QLCL mang tính chung nhất, có thể áp dụng cho mọi loại hình tổ  chức. Tiêu chuẩn ISO 9001 mà ta nghiên cứu dưới đây chỉ đưa ra các yêu cầu của hệ  thống QLCL, không qui định các yêu cầu cho sản phẩm; nó chỉ bổ sung, nhưng không  thay thế được cho các yêu cầu về sản phẩm. Các yêu cầu đối với sản phẩm có thể qui  định bởi khách hàng hay chính doanh nghiệp, dựa trên các yêu cầu của khách hàng  hay bởi các chế định. Các yêu cầu đối với sản phẩm và, trong một số trường hợp, các  quá trình gắn với chúng có thể qui định trong các tài liệu như qui định kỹ thuật, tiêu  chuẩn cho sản phẩm, tiêu chuẩn quá trình, các thoả thuận ghi trong các hợp đồng hay  các yêu cầu pháp chế.  Vai trò của hệ thống văn bản  Để tạo thuận lợi cho quá trình thực hiện áp dụng, hệ thống QLCL cần được thể hiện  dưới dạng văn bản. Trước hết cần thống nhất quan điểm rằng việc xây dựng và áp dụng  hệ thống văn bản là một hoạt động gia tăng giá trị. Hệ thống văn bản thích hợp sẽ giúp  xí nghiệp:  ­ đạt chất lượng sản phẩm yêu cầu và cải tiến chất lượng;  ­ huấn luyện đào tạo  ­ đảm bảo lặp lại được công việc và xác định nguồn gốc  ­ đánh giá hiệu lực của hệ thống;  ­ cung cấp bằng chứng khách quan;  Trong quá trình đánh giá, xem xét, hệ thống văn bản là bằng chứng khách quan rằng  các quá trình đã được xác định và các thủ tục đã được kiểm soát.  Page 9 of 23
  10. Quaûn lyù chaát löôïng TCVN Hệ thống văn bản hỗ trợ cho cải tiến chất lượng theo nghĩa giúp người quản lý hiểu  được mọi việc được tiến hành như thế nào và xác định được chất lượng của việc thực  hiện. Chỉ khi đó ta mới xác định được hiệu quả của những thay đổi, cải tiến. Ngoài ra,  nếu xét thấy việc cải tiến là có hiệu quả thực sự, thì bước tiếp theo phải là tiêu chuẩn  hoá chúng thành các qui định. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp duy trì được những cải  tiến đã đề ra.  Các loại tài liệu được sử dụng trong hệ thống quản lý chất lượng bao gồm:  ­ Tài liệu cung cấp thông tin nhất quán, cả trong nội bộ và với bên ngoài về hệ thống  quản lý chất lượng của tổ chức; những tài liệu này được gọi là sổ tay chất lượng  ­ Tài liệu mô tả cách thức áp dụng hệ thống quản lý chất lượng cho một sản phẩm, dự  án hay hợp đồng cụ thể; những tài liệu này được gọi là kế hoạch chất lượng  ­ Tài liệu cung cấp thông tin nhất quán về cách thức tiến hành các hoạt động; những tài  liệu này được gọi là các thủ tục/qui định/qui trình/hướng dẫn.  ­ Tài liệu cung cấp bằng chứng khách quan về việc thực hiện các hoạt động hay kết  quả đạt được; tài liệu này là các hồ sơ  Một vấn đề đặt ra là mức độ "văn bản hoá" như thế nào cho thích hợp với tình hình cụ  thể của tổ chức, như qui mô và loại hình của tổ chức, sự phức tạp và mối quan hệ tương  tác giữa các quá trình, tính phức tạp của sản phẩm, yêu cầu của khách hàng và yêu  cầu pháp chế được áp dụng, trình độ, kỹ năng của nhân viên, và mức độ cần thiết để  thể hiện việc thực hiện các yêu cầu của hệ thống QLCL. Nếu không lưu ý đến điểm  này, có thể rơi vào một trong hai trạng thái: hoặc quá nhiều văn bản dẫn tới quan liêu  giấy tờ, hoặc không đủ văn bản hướng dẫn, áp dụng dẫn đến tình trạng lộn xộn thiếu  thống nhất.  Page 10 of 23
  11. Quaûn lyù chaát löôïng TCVN Hệ thống QLCL và mạng lưới quá trình  Quá trình có thể được định nghĩa là một hệ thống các hoạt động sử dụng các nguồn lực  để biến các đầu vào thành đầu ra. Do sự biến đổi trong quá trình, giá trị của sản phẩm  nói chung được gia tăng. Mỗi quá trình đều phải huy động con người và/hay các nguồn  lực khác theo một cách nào đó. Ví dụ, đầu ra có thể là một giấy báo giá, phần mềm  máy tính, dịch vụ du lịch, bán thành phẩm hay thành phẩm thuộc loại bất kỳ. Đối với  đầu vào, sản phẩm trung gian và đầu ra, có thể tiến hành các phép đo.  Quản lý chất lượng được thực hiện bằng việc quản lý các quá trình trong doanh nghiệp.  Cần phải quản lý quá trình theo hai khía cạnh:  ­ cơ cấu và vận hành của quá trình, là nơi lưu thông dòng SP hay thông tin;  ­ chất lượng của sản phẩm hay thông tin lưu thông trong cơ cấu đó.  Mọi doanh nghiệp đều phải thực hiện hoạt động gia tăng giá trị với khá nhiều các chức  năng, như thiết kế, cung ứng, kinh doanh, sản xuất, kế toán, quản trị hành chính, đảm  bảo chất lượng, kiểm soát chi phí, giao hàng ...Các hoạt động này được thực hiện nhờ  một mạng lưới các quá trình. Cấu trúc của mạng lưới này nói chung không phải chỉ đơn  giản là một dòng liên tiếp mà là một hệ thống kết nối theo kiểu mạng nhện. Giữa các  quá trình lại có các mối quan hệ, các điểm tương giao.  Mỗi doanh nghiệp cần xác định, tổ chức và duy trì mạng lưới các quá trình và những  chỗ tương giao của chúng. Chính qua mạng lưới quá trình này mà doanh nghiệp tạo ra,  cải tiến và cung cấp chất lượng ổn định cho khách hàng. Đó chính là nền tảng của bộ  Page 11 of 23
  12. Quaûn lyù chaát löôïng TCVN tiêu chuẩn ISO 9000. Giữa hệ thống QLCL và mạng lưới quá trình trong xí nghiệp có  mối liên quan chặt chẽ thể hiện qua các nội dung sau:  Hệ thống QLCL được tiến hành nhờ các quá trình, các quá trình này tồn tại cả bên  trong và xuyên ngang các bộ phận chức năng. Để hệ thống QLCL có hiệu lực, cần xác  định và triển khai áp dụng một cách nhất quán các quá trình và trách nhiệm, quyền  hạn, thủ tục và nguồn lực kèm theo. Một hệ thống không phải là một phép cộng của  các quá trình, hệ thống QLCL phải phối hợp và làm tương thích các quá trình, và xác  định các nơi tương giao.  Để xem xét tính hiệu lực và hiệu quả của một hệ thống QLCL, người ta thường đặt ra  các câu hỏi sau đối với mỗi quá trình thuộc hệ thống đó:  ­ Các quá trình đã được xác định và có các thủ tục dạng văn bản để điều hành, quản lý  các quá trình đó ?  ­ Các quá trình có được triển khai đầy đủ và được thực hiện như đã nêu trong văn bản?  ­ Các quá trình này có đem lại các kết quả như mong đợi ?  2. Bộ Tiêu Chuẩn ISO 9000  Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 do Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa (ISO) ban hành lần  đầu năm 1987 nhằm mục đích đưa ra một mô hình được chấp nhận ở mức độ quốc tế  về hệ thống đảm bảo chất lượng và có thể áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực sản xuất  kinh doanh và dịch vụ.  ISO 9000 là sự kế thừa của các tiêu chuẩn đã tồn tại và được sử dụng rộng rãi, trước  tiên là trong lĩnh vực quốc phòng như tiêu chuẩn quốc phòng của Mỹ (MIL­Q­9058A),  của khối NATO (AQQP1). Năm 1979, Viện Tiêu chuẩn Anh (BSI) đã ban hành tiêu  Page 12 of 23
  13. Quaûn lyù chaát löôïng TCVN chuẩn BS 5750 về đảm bảo chất lượng, sử dụng trong dân sự. Để phục vụ cho nhu cầu  giao lưu thương mại quốc tế, Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế ISO đã thành lập ban Kỹ  thuật TC 176 để soạn thảo bộ tiêu chuẩn về quản lý chất lượng. Những tiêu chuẩn đầu  tiên của bộ tiêu chuẩn này được ban hành năm 1987 và được soát xét lần đầu tiên năm  1994.  ISO 9000 đề cập đến các lĩnh vực chủ yếu trong quản lý chất lượng như chính sách  chất lượng, thiết kế triển khai sản phẩm và quá trình cung ứng, kiểm soát quá trình, bao  gói, phân phối, dịch vụ sau khi bán, xem xét đánh giá nội bộ, kiểm soát tài liệu, đào  tạo... ISO 9000 là tập hợp các kinh nghiệm QLCL tốt nhất đã được thực thi trong nhiều  quốc gia và khu vực và được chấp nhận thành tiêu chuẩn quốc gia của nhiều nước Đánh giá sự phù hợp 1. Khái quát  Để khẳng định một đối tượng nào đó thỏa mãn các yêu cầu trong các văn bản qui định,  cần tiến hành xem xét các khía cạnh có liên quan của đối tượng đó một cách hệ thống.  Hoạt động này gọi là đánh giá sự phù hợp. Nói chính xác hơn, đánh giá sự phù hợp là  sự xem xét một cách hệ thống để xác định mức độ mà một thực thể có khả năng đáp  ứng các yêu cầu quy định. Thực thể là đối tượng của việc đánh giá, thực thể đó có thể  là:  ­ sản phẩm (bao gồm cả dịch vụ);  ­ một hoạt động hay một quá trình;  ­ một tổ chức, một hệ thống hay con người;  ­ tổ hợp của các đối tượng trên.  Page 13 of 23
  14. Quaûn lyù chaát löôïng TCVN Tùy theo chủ thể tiến hành việc đánh giá và khẳng định sự phù hợp, có thể phân thành  ba loại sau:  Đánh giá của bên thứ nhất: Theo hình thức này, người cung cấp (bên thứ nhất) tự  đánh giá sản phẩm (quá trình, hệ thống chất lượng...) của mình, kết quả việc tự đánh  giá sẽ là bản tự công bố của bên cung ứng.  Đánh giá của bên thứ hai: Theo hình thức này, khách hàng (bên thứ hai) tiến hành  đánh giá, kết quả của hoạt động này sẽ là sự thừa nhận của khách hàng.  Đánh giá của bên thứ ba: Theo hình thức này, một tổ chức trung gian (bên thứ ba) tiến  hành đánh giá. Tùy theo cách thức và nội dung đánh giá, hoạt động này có các loại  hình khác nhau như thử nghiệm, giám định (kiểm tra), chứng nhận, công nhận. Kết quả  của các quá trình này là các chứng chỉ cho đối tượng được đánh giá.  2. Yêu cầu chung đối với thủ tục đánh giá sự phù hợp  Để tương ứng với xu hướng toàn cầu hóa, tiêu chuẩn cũng như thủ tục đánh giá sự phù  hợp không được trở thành một loại hàng rào phi quan thuế. Bởi vậy yêu cầu hòa nhập  giữa các yếu tố trở nên một vấn đề quan trọng, nếu có thể cần phải hòa nhập ở cấp  quốc tế. Trong trường hợp này các cơ quan TCH quốc tế phải giải quyết bài toán cân  đối yêu cầu của các nước đã phát triển với các nước đang phát triển hay các nước ít  quan tâm đến bảo vệ người tiêu dùng.  Theo định nghĩa của Thỏa ước về Hàng rào Kỹ thuật đối với Thương mại (TBT) của tổ  chức Thương mại Quốc lễ (WTO), thì các thủ tục đánh giá sự phù hợp là bất kỳ thủ tục  nào được sử dụng trực tiếp hay gián tiếp để xác định rằng yêu cầu tương ứng trong các  tiêu chuẩn hay chế định kỹ thuật (technical regulation) đã được thực hiện.  Page 14 of 23
  15. Quaûn lyù chaát löôïng TCVN Chế định kỹ thuật là văn bản qui định những đặc tính của sản phẩm hay các quá trình  và phương pháp sản xuất có liên quan. Các chế định kỹ thuật này được các tổ chức có  thẩm quyền công bố, thông thường vì mục đích an toàn bảo vệ sức khỏe, môi trường,  ngăn ngừa các qui tắc gây nên sự nhầm lẫn. Sự phù hợp với các chế định là yêu cầu  bắt buộc trong khi sự phù hợp với tiêu chuẩn nói chung là không bắt buộc trừ trường  hợp do một cơ quan có thẩm quyền qui định. Nói chung, việc đảm bảo sự phù hợp với  các chế định kỹ thuật cần được thực hiện trước khi đưa sản phẩm đó vào thị trường.  Thủ tục đánh giá sự phù hợp có thể bao gồm phương pháp lấy mẫu, thử nghiệm, kiểm  tra, đăng ký, chứng nhận và công nhận... được sử dụng để đưa ra sự đảm bảo đối với  các cơ quan có thẩm quyền và người tiêu dùng rằng các yêu cầu qui định đã được thực  hiện. Kết quả là việc đánh giá sự phù hợp có thể giảm các cuộc tranh chấp có thể xảy  ra về các qui định hay chất lượng của sản phẩm.  Việc đánh giá phù hợp đối với các tiêu chuẩn tự nguyện đang ngày càng trở nên quan  trọng do sự toàn cầu hóa và sự mở rộng thị trường thế giới vì nó cho phép người tiêu  dùng có thể an tâm lựa chọn mặt hàng. Khó hình dung có thể tiến hành hoạt động  thương mại mà không có các thủ tục đánh giá sự phù hợp.  Tuy nhiên cũng cần chú ý đến những điểm sau đây, nếu không các thủ tục đánh giá sự  phù hợp lại trở thành một rào cản đối với thương mại.  Thứ nhất, việc thiếu sự rõ ràng minh bạch về thông tin cần thiết để đáp ứng các yêu  cầu đánh giá sự phù hợp sẽ khiến các nhà sản xuất nước ngoài ở vị trí bất lợi khi bước  vào thị trường mới.  Thứ hai, sự phân biệt đối xử nhằm giảm thế cạnh tranh của sản phẩm nhập khẩu, ví dụ  như đòi hỏi chi phí đánh giá cao hơn. Điều này là mối lo ngại đối với các nhà sản xuất  Page 15 of 23
  16. Quaûn lyù chaát löôïng TCVN và xuất khẩu đặc biệt đối với các nhà xuất khẩu từ các nước đang phát triển vì các quốc  gia này thường thiếu cơ sở hạ tầng về thử nghiệm, công nhận và chứng nhận.  Thứ ba, việc qui định những biện pháp, phương tiện đánh giá quá phức tạp, thời gian xử  lý dài và thông tin thừa không cần thiết cũng là những rào cản cho thương mại.  Các cơ quan quản lý quốc gia phải xem xét để các chính sách và cơ cấu tổ chức của  họ thích nghi với các áp lực mới này. Sự công khai, rõ ràng trong quá trình xây dựng  tiêu chuẩn là một yêu cầu quan trọng để người tiêu dùng chấp nhận các tiêu chuẩn. Sự  hòa nhập của các hệ thống đánh giá sự phù hợp đóng vai trò then chốt để đem lại sự  tin tưởng của người sử dụng.  Sự bùng nổ về các loại dấu phù hợp cũng gây không ít nỗi băn khoăn cho các nhà sản  xuất và làm cho chính người tiêu dùng cũng bị rối loạn. Người cung cấp phải tốn kém  nhiều để thỏa mãn các yêu cầu quốc gia khác nhau. Việc thử nghiệm, kiểm tra và  chứng nhận nhiều lần không chỉ gây tốn kém cho các nhà sản xuất mà còn gây hoang  mang cho người tiêu dùng nhất là khi các kết quả lại trái ngược nhau. Bởi vậy nhu cầu  "Bị đánh giá một lần và được thừa nhận mọi nơi" trở nên cấp thiết. Đó cũng là nhiệm vụ  của tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan đến vấn đề này.  Nói tóm lại các thủ tục đánh giá sự phù hợp phải đảm bảo không có sự phân biệt đối  xử, phải rõ ràng minh bạch, hòa nhập và để không trở thành rào cản đối với thương mại  . Đó cũng chính là những nguyên tắc chủ yếu trong "Thỏa ước của WTO về Rào cản Kỹ  thuật đến Thương mại đối với các Thủ tục Đánh giá sự Phù hợp" được 121 quốc gia  thành viên nhất trí áp dụng tại vòng đàm phán Uruguay.  3. Tự công bố của người cung cấp  Page 16 of 23
  17. Quaûn lyù chaát löôïng TCVN Tự công bố của người cung cấp là một thủ tục theo đó người cung cấp đảm bảo dưới  dạng văn bản rằng một đối tượng nào đó phù hợp với các yêu cầu qui định, ở đây người  cung cấp có thể là người sản xuất, phân phối, nhập khẩu, lắp đặt hay tổ chức dịch vụ...  Hoạt động tự công bố nhằm mục đích chứng tỏ rằng sản phẩm, quá trình hay hoạt  động được xét là phù hợp với văn bản đã xác định và nói rõ ai là người chịu trách nhiệm  về sự phù hợp này. Việc tự công bố có thể áp dụng cho cả trường hợp tự nguyện hay  bắt buộc. Trong trường hợp thứ nhất, tự công bố coi như một công cụ tiếp thị. Trường  hợp thứ hai, liên quan đến các yêu cầu bắt buộc như sức khỏe, an toàn, môi trường,  tương thích điện từ trường,... Trong hầu hết mọi trường hợp, tự công bố là do yêu cầu  của khách hàng, thị trường.  Việc tự công bố của người cung cấp có lợi ích là tiết kiệm thời gian và kinh phí, đáp ứng  nhanh chóng yêu cầu của người tiêu dùng và khuyến khích việc áp dụng tiêu chuẩn.  Nhược điểm của hình thức này là thiếu sự thuyết phục, và nếu không có những qui định  rõ ràng về trách nhiệm pháp lý của người công bố thì rất dễ xảy ra sự lạm dụng và gây  lẫn lộn cho người tiêu dùng, bởi vậy người ta thường kết hợp với những hệ thống đánh  giá khác, việc tự công bố chỉ là một giai đoạn trong hệ thống này.  4. Chứng nhận  Chứng nhận là một thủ tục mà bên thứ ba áp dụng để đảm bảo rằng một đối tượng nào  đó phù lợp với các yêu cầu qui định. Bên thứ ba là một tổ chức độc lập với người cung  cấp và khách hàng và được gọi là "tổ chức chứng nhận ".  Đối tượng để chứng nhận có thể là sản phẩm, hệ thống hoạt động, con người, từ đó có  thể phân thành các dạng chứng nhận sau:  ­ Chứng nhận sản phẩm;  Page 17 of 23
  18. Quaûn lyù chaát löôïng TCVN ­ Chứng nhận hệ thống quản lý;  ­ Chứng nhận kỹ thuật viên chuyên ngành.  Hoạt động chứng nhận có những lợi ích cơ bản sau:  ­ Đem lại lòng tin cho khách hàng.  ­ Nâng cao uy tín doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế.  ­ Chứng chỉ về sự phù hợp trong nhiều trường hợp là một đòi hỏi để các doanh nghiệp  vào được các thị trường chủ yếu trên thế giới. Với một số loại sản phẩm ở những thị  trường nhất định, việc được chứng nhận theo các tiêu chuẩn qui định là một yêu cầu bắt  buộc.  4.1. Chứng nhận sản phẩm  Có hai hình thức chứng nhận: bắt buộc và tự nguyện, chứng nhận bắt buộc được áp  dụng cho những qui định về an toàn, sức khỏe, môi trường.  Một trong những yêu cầu của hoạt động chứng nhận là phải làm cho người sử dụng an  tâm đối với chất lượng sản phẩm được chứng nhận trong suốt thời hạn chứng nhận. Để  yêu cầu này được thực hiện, việc chứng nhận phải đảm bảo chất lượng sản phẩm được  ổn định trong thời hạn chứng nhận có hiệu lực. Để đảm bảo điều này, cơ quan chứng  nhận, ngoài việc kiểm tra bản thân sản phẩm xin chứng nhận (thông qua thử sản  phẩm), cần phải xem xét điều kiện đảm bảo chất lượng, là yếu tố giúp cho chất lượng  sản phẩm được ổn định, và giám sát sau khi chứng nhận.  Trong nhiều quốc gia, việc chứng nhận bắt buộc được thay thế bằng các hệ thống có  chức năng tương tự nhưng không phải là thuộc hoạt động chứng nhận. Ví dụ, hệ thống  Page 18 of 23
  19. Quaûn lyù chaát löôïng TCVN ghi dấu "CE" trên các sản phẩm đòi hỏi phải thỏa mãn các yêu cầu về an toàn của Hội  đồng Liên minh Châu âu (EU).  4.2. Chứng nhận các hệ thống quản lý  Các hệ thống quản lý chất lượng theo mô hình ISO 9000, QS 9000, Q­base, cũng là  một đối tượng chứng nhận. Ngoài các hệ thống đảm bảo chất lượng các hệ thống nhằm  đảm bảo tính vệ sinh, an toàn trong lĩnh vực lương thực, thực phẩm cũng lần lượt ra đời  như hệ thống Qui tắc Sản xuất Tốt (GNIP), Xác định các điểm Kiểm soát Trọng Yếu  bằng Phân tích Mối nguy (HACCP). Từ đó cũng đặt ra nhu cầu xác nhận các hệ thống  này theo một hình thức nào đó.  Việc chứng nhận hệ thống quản lý như một hình thức đảm bảo rằng công ty sẽ cung  cấp sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng các yêu cầu người mua. Khách hàng cũng muốn  người cung cấp có một sự đảm bảo rằng chất lượng đã được kiểm tra xác nhận sẽ phù  hợp với một tiêu chuẩn được thừa nhận rộng rãi. Các công ty lớn cũng có yêu cầu tương  tự. Các công ty này, có thể tự mình tiến hành đánh giá người cung cấp. Tuy nhiên điều  này sẽ khiến người cung cấp phải chi phí rất nhiều nếu như họ phải cung cấp sản phẩm  cho nhiều công ty khách hàng khác nhau. Hoạt động chứng nhận của bên thứ ba cũng  sẽ đáp ứng nhu cầu của bên cung cấp và khách hàng với chi phí ít nhất. Ngoài ra việc  đánh giá được tiến hành bởi một tổ chức chứng nhận có chuyên môn nghiệp vụ và uy  tín sẽ đem lại hiệu quả đáng tin cậy và được chấp nhận ở mức độ cao hơn.  Trong những năm gần đây, vấn đề môi trường ngày càng được người tiêu dùng, các tổ  chức quốc gia và quốc tế quan tâm. Một sản phẩm nếu gây ảnh hưởng đến môi trường  rõ ràng sẽ ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh. Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 ra đời nhằm  đáp ứng yêu cầu này. Cho đến nay rất nhiều quốc gia trên thế giới đã triển khai mạnh  mẽ hoạt động chứng nhận hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14000.  Hoạt động này được tiến hành song song với việc chứng nhận liên quan đến tác động  Page 19 of 23
  20. Quaûn lyù chaát löôïng TCVN trực tiếp của sản phẩm lên môi trường như đã trình bày trong phần chứng nhận sản  phẩm.  4.3. Chứng nhận chuyên viên trong lĩnh vực đặc biệt  Trong mọi hoạt động, bao gồm cả hoạt động đánh giá sự phù hợp, trình độ người tác  nghiệp đóng vai trò quyết định. Cán bộ quản lý muốn biết các nhân viên đang tiến hành  một công việc xác định có đủ năng lực cần thiết hay không. Từ tình hình trên nảy sinh  nhu cầu chứng nhận người tác nghiệp một số quá trình đặc biệt ví dụ như các chuyên  gia đánh giá trong các hoạt động chứng nhận, kỹ thuật viên trong những ngành đặc biệt  (hàn , thử siêu âm,...).  Riêng trong lĩnh vực chuyên gia đánh giá hệ thống quản lý, các tổ chức chứng nhận  đăng ký như IATCA (International Auditor Training and Certification Association) hay  IRCA (lnternational Register of Certificated Auditors) đã đưa những chuẩn mực cụ thể.  Các tổ chức chứng nhận trong lĩnh vực này cũng đòi hỏi phải thoã mãn các yêu cầu  riêng, ví dụ như tiêu chuẩn Châu âu EN 45013  5 Giám định   Giám định/kiểm tra là quá trình xem xét, đo lường, thử nghiệm các đặc trưng nào đó và  so sánh với các chuẩn mực qui định, đồng thời tiến hành các dịch vụ khác liên quan  đến sản phẩm. Các dịch vụ liên quan này bao gồm không chỉ việc lựa chọn và đánh giá  sản phẩm, cấp các chứng chỉ phù hợp theo các chuẩn mực xác định mà còn có thể bao  gồm việc đánh giá năng lực của người sản xuất, hoạt động của hệ thống chất lượng và  khuyến nghị về việc chấp nhận hệ thống chất lượng của bên cung cấp. Ngoài ra, người  cung cấp có thể thuê các giám định viên hoạt động tại công ty của mình để xác định sự  phù hợp, hỗ trợ cho việc tự công bố sự phù hợp.  Nói chung, nội dung giám định bao gồm:  Page 20 of 23

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản