Chiến lược maketing Đại học RMIT

Chia sẻ: Nguyen Thi Bich Tram | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:35

2
657
lượt xem
414
download

Chiến lược maketing Đại học RMIT

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Viện Công nghệ Hoàng gia Melbourne RMIT(Royal Melbourne Institute of Technology University) là một trong những cơ sở giáo dục hàng đầu Ôxtrâylia, đơn vị đào tạo ra những sinh viên tốt nghiệp hấp dẫn nhất đối với các nhà tuyển dụng cả nước. Là một đại học công nghệ sáng tạo tầm cỡ quốc tế, toạ lạc ngay trung tâm thành phố Melbourne, RMIT có uy tín trên toàn thế giới về sự giáo dục gắn kết tuyệt vời với Công Giới và nghiên cứu chất lượng cao, cũng như đáp ứng nhu cầu của các ngành kinh tế và cộng đồng. Từ khi thành...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chiến lược maketing Đại học RMIT

  1. CHIẾN LƯỢC MARKETING TRƯỜNG ĐẠI HỌC RMIT
  2. PHẦN I: GIỚI THIỆU ĐẠI HỌC RMIT 1. Tổng quan Viện Công nghệ Hoàng gia Melbourne RMIT(Royal Melbourne Institute of Technology University) là một trong những cơ sở giáo dục hàng đầu Ôxtrâylia, đơn vị đào tạo ra những sinh viên tốt nghiệp hấp dẫn nhất đối với các nhà tuyển dụng cả nước. Là một đại học công nghệ sáng tạo tầm cỡ quốc tế, toạ lạc ngay trung tâm thành phố Melbourne, RMIT có uy tín trên toàn thế giới về sự giáo dục gắn kết tuyệt vời với Công Giới và nghiên cứu chất lượng cao, cũng như đáp ứng nhu cầu của các ngành kinh tế và cộng đồng. Từ khi thành lập năm 1887, RMIT đã là thành viên của Mạng Công ngh ệ ôxtrâylia và Hiệp hội U8 Toàn cầu (Global U8 Consortium). Với trên 70.000 sinh viên học tập tại các cơ sở của RMIT ở Melbourne, Victoria, Việt Nam, học qua mạng, từ xa và tại các đơn vị đối tác trên toàn thế giới, Trường là một trong những đại học lớn nhất toàn quốc. Số sinh viên đó bao gồm cả 23.000 sinh viên quốc tế (trong nước và ngoài nước) từ khắp các vùng trên toàn thế giới, từ trên 100 quốc gia, kể cả Trung Quốc, Hồng Kông, Ấn Độ, Inđônêxia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaixia, Mauritius, Trung Đông, Singapore, Sri Lanka, Đài Loan, Thái Lan, châu Mỹ và Việt Nam. Trường đã xác lập được danh tiếng quốc tế về chất lượng tuyệt vời của sự giáo dục chuyên nghiệp, hướng nghiệp và nghiên cứu. Đại học RMIT tổ chức đào tạo hàng loạt các chương trình khác nhau từ cơ sở cho đ ến tiến sĩ, gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành. Nhiều khoá học có chương trình thực tập hoặc nghiên cứu các đề tài gắn kết với thực tiễn nghề nghiệp, thực tập sinh, và cơ hội đi du lịch và nghiên cứu ở nước ngoài. Sinh viên tốt nghiệp RMIT sẵn sàng đảm nhận công việc với sự sáng tạo và kỹ năng thuần thục, đáp ứng những thách thức của thế giới thực tế. 2. Lịch sử Các giai đoạn quan trọng  Thành lập trường Cao đẳng Dạy Nghề tại Melbourne, Úc (1887)  Đổi tên thành trường Cao đẳng Công Nghệ Melbourne (1934)  Được phong tặng danh hiệu “Hoàng Gia” (1954)  Trở thành Học viện Công nghệ Hoàng Gia Melbourne (RMIT) (1960)  Nâng cấp thành trường Đại học RMIT (1992)  RMIT được mời đến thiết lập đại học quốc tế đầu tiên tại Việt Nam (1998)  Đại học quốc tế RMIT Việt Nam được thành lập (2000)  Cơ sở giảng dạy đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh tọa lạc tại 21 Phạm Ngọc Thạch, Quận 1 (2001)
  3.  Cơ sở giảng dạy đầu tiên tại Hà Nội tọa lạc tại 2/2C Đoàn Ngoại Giao Vạn Phúc, Đường Kim Mã, Quận Ba Đình (2004)  Cơ sở Nam Sài Gòn được trang bị hiện đại bắt đầu hoạt động (2005)  Mở rộng tòa nhà giảng dạy thứ hai tại 18A Ngô Tất Tố, Quận Đống Đa, Hà Nội nhằm đáp ứng số lượng sinh viên ngày càng gia tăng (2007)  Tầng năm của cơ sở Nam Sài Gòn được hoàn tất để tăng diện tích giảng dạy và làm việc (2008)  Tổng cộng hơn 5.000 sinh viên tại hai cơ sở Nam Sài Gòn và Hà Nội (2008)  Đã có hơn 1.000 sinh viên tốt nghiệp tại hai cơ sở Nam Sài Gòn và Hà Nội  Trao tặng hơn 500 học bổng toàn phần và thực hiện nhiều hoạt động hỗ trợ khác kể từ khi đi vào hoạt động (2009) Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam là đại học 100% vốn nước ngoài đầu tiên tại Việt Nam, và hiện cũng là đại học nước ngoài duy nhất hoạt động hoàn toàn độc lập tại Việt Nam. RMIT Việt Nam đào tạo bằng cấp được công nhận toàn cầu tại hai cơ sở Nam Sài Gòn và Hà Nội. Năm 1998, Đại học RMIT, Úc được chính phủ Việt Nam mời hợp tác đ ể xây dựng trường đại học tại Việt Nam. Năm 2000, RMIT Việt Nam được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy phép giảng dạy các chương trình đại học, sau đại học, đào tạo và nghiên cứu tại Việt Nam. RMIT Việt Nam bắt đầu tuyển sinh tại Tp. Hồ Chí Minh vào năm 2001 và tại Hà Nội vào năm 2004. Trường khánh thành và đưa vào sử dụng một cơ sở đào tạo mới và hiện đại tại Tp. Hồ Chí Minh vào năm 2005. Tổng số sinh viên ở cả hai cơ sở hiện đã lên đến hơn 5,000 (tính đến tháng 3/2009). Tất cả văn bằng do Đại học RMIT, Úc cấp cho phép sinh viên Việt Nam và quốc tế lĩnh hội một nền giáo dục chuẩn quốc tế ngay tại Việt Nam. Tất cả hoạt động giảng dạy và học tập đều sử dụng tiếng Anh. Hoạt động giảng dạy và đào tạo của RMIT Việt Nam đảm bảo sinh viên ra trường được trang bị đầy đủ chuyên môn và kỹ năng để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng tại Việt Nam và trong khu vực. Sinh viên RMIT Việt Nam được đào tạo theo chuẩn quốc tế, thông thạo tiếng Anh và có khả năng làm việc hiệu quả trong môi trường thương mại toàn cầu. 3. Tầm nhìn và sứ mệnh Tầm nhìn của Đại học RMIT:  Toàn cầu trong tầm nhìn và hành động; cung cấp “giấy thông hành toàn cầu” cho sinh viên và nhân viên trong học tập và công việc.
  4.  Hiện đại trong tư duy sáng tạo; thể hiện và hình thành một điển hình của thế kỷ 21.  Tiếp tục là nhà đào tạo gắn kết với doanh nghiệp hàng đầu tại Úc; định hướng công việc và nghề nghiệp tương lai cho sinh viên.  Trở thành đại học nghiên cứu hàng đầu của Úc; được công nhận trên th ế gi ới thông qua hoạt động nghiên cứu ứng dụng, thành quả nghiên cứu xuất sắc và các nghiên c ứu về giáo dục trong các lĩnh vực đặc biệt. RMIT Việt Nam phối hợp làm việc với sinh viên, nhân viên và các đối tác theo một tinh thần nhất quán với tầm nhìn chung của Đại học RMIT, và đồng thời cũng chú tr ọng đến các yêu cầu phát triển quan trọng của Việt Nam. 4. Các chuyên ngành đang giảng dạy tại RMIT Việt Nam gồm có:  Thương mại (bao gồm cả chương trình Thạc sĩ Quản trị kinh doanh)  Kế toán  Thiết kế đa truyền thông  Công nghệ thông tin  Hệ thống thông tin kinh doanh  Truyền thông chuyên nghiệp RMIT Việt Nam có dành một số suất học bổng cho sinh viên xuất sắc theo học các ngành trên. Ngoài ra, trường cũng tổ chức giảng dạy tiếng Anh ở nhiều trình độ khác nhau nhằm giúp sinh viên thông thạo ngôn ngữ này để theo học bậc đại học thành công. Kể từ khi đi vào hoạt động đến nay, RMIT Việt Nam đã trao nhiều suất học bổng với tổng trị giá gần 4 triệu đô la Mỹ nhằm góp phần tạo cơ hội học tập cho sinh viên và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam. Trường đã tiến hành các hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ chế biến và an toàn thực phẩm, kiểm soát bệnh truyền nhiễm và vấn đề cung cấp nước sạch. Việc thành lập ba trung tâm – Thương mại và Quản lý, Công nghệ, và Ngôn ngữ và Học thuật – nhằm mục đích khuyến khích và đẩy mạnh các hoạt đ ộng nghiên c ứu ở Vi ệt Nam và khu vực. RMIT Việt Nam luôn cố gắng đáp ứng nhu cầu của người Việt Nam và cũng rất tự hào vì đã đáp ứng được nhu cầu của các công ty nước ngoài. Sinh viên tốt nghiệp RMIT Việt Nam được nhiều doanh nghiệp săn đón. Nhiều cựu sinh viên hiện đang làm việc tại nhiều công ty / tập đoàn lớn của quốc tế như HSBC, Toyota, ANZ, Bluescope Steel, Unilever và Saatchi & Saatchi. Sinh viên RMIT Việt Nam có nhiều kỹ năng tổng hợp ở trình độ cao như suy nghĩ đ ộc lập, giải quyết vấn đề, khả năng làm việc nhóm và làm việc hiệu quả trong môi trường đa ngôn ngữ và đa văn hóa.
  5. Ngày càng có nhiều sinh viên từ các nước trong khu vực và nhiều nơi khác đến học tập tại RMIT Việt Nam. PHẦN II: CHIẾN LƯỢC MARKETING CỦA RMIT 1. Các yếu tố tác động đến chiến lược Marketing của RMIT a. Yếu tố kinh tế Việt Nam là một trong những quốc gia có dân số đông trên thế giới, chính vì thế mà quy mô thị trường cũng tương đối lớn. Bên cạnh đó đặc điểm của dân số ViệtNam là dân số trẻ, lứa tuổi ở độ tuổi đi học chiếm tỷ trọng lớn. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục của Việt Nam hiện nay vẫn còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Với GDP đầu người ngày càng tăng, năm 2004 GDP đầu người mới chỉ là 500USD thì đến năm 2008 là 960USD/ người. Khi thu nhập càng cao, người dân có xu hướng đầu tư cho giáo dục con cái ngày càng nhiều. Nhiều bậc phụ huynh và bản thân SV Việt Nam nhận thức được rằng chỉ có giáo dục trình độ cao và đ ược đào tạo trong một môi trường cạnh tranh quốc tế họ mới có thể bớt lo lắng trước thất nghiệp. Nắm bắt được cơ hội và nhu cầu về giáo dục chất lượng cao ngày càng tăng ở Việt Nam, ĐH Quốc tế RMIT (Australia) là một trong những trường tiên phong đầu tư và thâm nhập vào thị trường Việt Nam b. Yếu tố cạnh tranh So với các trường đại học trong nước hiện nay Bên cạnh đó điều dễ thấy là lỗ hổng của giáo dục có chất lượng cao c ủa ĐH Việt Nam còn rất lớn vì hàng năm Việt Nam có gần 1,4 triệu thí sinh đăng ký vào các trường ĐH, cao đẳng, trong khi thực tế tỷ lệ SV xuất sắc và giỏi không tăng (chi ếm 5,44%) và tỉ lệ SV học lực yếu kém còn chiếm khá cao tới 12,75% (Báo cáo c ủa TW Hội SV Việt Nam tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần VII). Vì vậy, các nhà đầu tư giáo dục nước ngoài biết rằng họ được đón chào khi đem lại những kỹ năng thực hành về tin học, kinh tế, thương mại và ngoại ngữ, thông qua phương pháp giảng dạy nhấn mạnh vào việc chủ động giải quyết vấn đề, sử dụng các lớp học tranh luận thay cho
  6. các bài giảng nhàm chán và khuyến khích tìm kiếm kiến thức trên mạng Internet. Đó sẽ là những kiến thức tạo sức mạnh cạnh tranh khi RMIT xâm nhập vào thị trường Việt Nam Quảng cáo tiếp thị thương hiệu đại học ở Việt Nam hiện nay Có thể nói cho đến thời điểm hiện nay, các trường ĐH Việt Nam vẫn chưa xây dựng được chiến lược quảng bá/tiếp thị TH cho riêng mình. Việc quảng bá tên tuổi được thực hiện khá rời rạc và chủ yếu tập trung ở các trường ĐH ngoài công lập với nhiều “chiêu” quảng cáo hấp dẫn như chương trình giảng dạy do các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, giảng viên ở các viện trường ĐH danh tiếng đảm nhận. Tuy nhiên, chất lượng giảng dạy ở các trường này ra sao dường như chưa có sự kiểm định.. Riêng các trường ĐH công lập, việc quảng bá thương hiệu dường như không được thực hiện vì nhiều trường quan niệm "hữu xạ" sẽ "tự nhiên hương" và sẽ có nhiều học viên tìm đến. Việc biết bao học sinh phổ thông cạnh tranh chen chân vào cánh cửa hẹp của giảng đường ĐH với tỉ lệ trung bình 1 chọi 10 ở các trường ĐH cho thấy các trường không cần phải "ra tay nghĩa hiệp" vì cửa chưa mở đã có hàng vạn thí sinh xin vào. Các hoạt động quảng bá thu hút SV và con em ở các gia đình khá giả nh ư ĐH Leiden, ĐH Havard, ĐH Sydney... dường như còn xa lạ với các trường ĐH công l ập Việt Nam. Những vấn đề đơn giản nhất của công tác tiếp thị trường học như tờ bướm quảng cáo chương trình học, bảng công khai danh sách giảng viên nhà trường…dường như rất ít xuất hiện ở trường ĐH công lập. Mặc dù vậy, do chất lượng các trường công lập cao hơn các trường ngoài công lập (vì trường công lập được nhà nước đầu tư rất nhiều) nên các trường này vẫn bình chân như vạy và rất ít khi tiến hành công tác tiếp thị/ quảng bá. Gần đây, công tác tư vấn thanh niên-SV của đoàn thanh niên ở các trường ĐH đã bắt đầu khởi động nhưng tất cả dường như chỉ tập trung vào công tác tư vấn tuyển sinh-việc làm cho SV và ít chú trọng đến công tác quảng bá THĐH. Ngoài ra, s ố người làm công tác tư vấn, tiếp thị chưa được đào tạo bài bản về kinh tế và quản trị kinh doanh nên công việc chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, đi ều đặc biệt quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến việc "xuất nhập khẩu giáo dục" và quảng bá THĐH là do SV chưa được xem là khách hàng mà chỉ là đ ối tượng ph ục v ụ nên
  7. không ít SV bị cư xử giống như những công dân hạng ba. Xã hội phát triển không ngừng, nhu cầu của người học trong nước tăng cao nhưng do không có chi ến l ược quảng bá và tiếp thị nên các trường ĐH Việt Nam đành ngậm ngùi để SV ra nước ngoài du học và cuối cùng, người hưởng lợi nhiều nhất chính là các trường ĐH nước ngoài. Theo ước tính của Bộ Giáo dục-Đào tạo, mỗi năm các bậc phụ huynh ở Việt Nam dành hơn 200 triệu USD để gởi con em ra nước ngoài học tập. Hiện tượng chảy máu chất xám và di cư ngoại tệ đã đến lúc cần phải báo động. c. Yếu tố văn hóa - Với truyền thống lâu đời từ ngàn xưa đến nay, Việt Nam là một trong những quốc gia Á Đông coi trọng học vấn. Bất cứ cha mẹ nào cũng mong muốn con cái mình được học hành đàng hoàng đến nơi đến chốn, đặc biệt với tâm lý phải vào được đại học của rất nhiều bậc phụ huynh và học sinh là khá phổ biến hiện nay. Với cách tổ chức hoạt động của đại học RMIT là đầu vào khá thoáng nên thu hút được rất nhiều sinh viên và phụ huynh quan tâm - Văn hóa Á Động đặc biệt là Việt Nam rất coi trọng yếu tố gia đình. Với một môi trường học tập khá chất lượng thì hình thức du học tại chỗ như RMIT là khá phù h ợp. Học phí tại RMIT VN trung bình 13.000 USD cho một khóa học 2,5 năm, thế nhưng nếu so với mức học phí 39.000 USD cộng với chi phí ăn ở (khoảng 5.000 USD/năm) nếu đi du học tại Australia thì lại rất tiết kiệm lại vẫn có một môi trường giáo dục như tại đại học ở Australia, bằng cấp được công nhận như nhau, nhưng lại được sống cùng gia đình của mình ngay tại đất nước mình. Đối tượng khách hàng mà RMIT muốn nhắm tới là những sinh viên trước, đang và sau đại học muốn đi du học nhưng chưa đủ khả năng tài chính. Du học ngay tại VN, mọi thủ tục cũng như chi phí sẽ giản tiện hơn rất nhiều, nhưng cơ hội học tập và việc làm vẫn được đảm bảo như đi du học tại nước ngoài. d. Yếu tố chính trị pháp luật Các nhà marketing rất quan tâm đến môi trường chính trị - pháp luật khi có ý đ ịnh mở rộng cơ sở ở thị trường nước ngoài. Bởi vì những yếu tồ này ảnh hưởng đến khả năng
  8. tiếp cận thị trường như trong việc xin giấy phép hoặc là kiểm soát của Chính phủ, h ệ thống luật pháp chi phối ngành nghề đang hoạt động… Tuy nhiên con đường Rmit đến với đất nước Việt Nam lại không gặp trở ngại gì nhiều. Việt Nam có nền chính trị ổn định, có chính sách khuyến khích nước ngoài đầu tư giáo dục ngày càng hoàn thiện và rõ ràng S(Nghị định 6/2000, 18/2001) và ngày 1/1/2009 thị trường giáo dục Việt Nam mở cửa theo cam kết của WTO để thực hiện Hiệp đ ịnh chung về Thương mại và Dịch vụ (GATS). Bên cạnh đó, từ năm 1992, đại học RMIT đã tăng cường mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với Việt Nam thông qua giáo dục, kinh doanh và nghiên cứu trong các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ thông, tài chính và bưu chính viễn thông. Và vào năm 1998, theo lời mời của chính phủ Việt Nam, RMIT đã thành lập đại học 100% vốn nước ngoài đầu tiên tại Việt Nam. e. Yếu tố chi phí, công nghệ, phương pháp giảng dạy: Có thể nói với hệ thống cơ sở vật chất cũng như phương pháp giảng dạy hiện nay của các trường đại học Việt Nam còn khá thiếu thốn và kém hiện đại. Điểm yếu này cũng chính là khía cạnh mạnh của Rmit-với một trường có kinh nghiệm trong việc giảng dạy và được đánh giá là xếp hạng thứ 55 trong 200 trường Đại học hàng đầu thế giới. Đối với các trường ĐH trong nước, những điểm yếu có thể dễ nhận thấy đó chính là bằng cấp chưa được quốc tế công nhận, sĩ số một sinh viên trong lớp quá đông trong khi số lượng giảng viên lại quá ít, chưa nói đến giảng viên có bằng cấp cao, phương pháp học tập còn thụ động, phần lớn vẫn là thầy đọc – trò chép. 1999-20002000-20012001-20022002-20032003-20042004-2005 2005-2006 Tiến sĩ - 4378 4454 4812 5286 5179 5977 5744 Doctor
  9. Thạc sĩ - 5477 6596 7583 8326 9210 11460 12248 Master Chuyên khoa I 543 569 586 540 529 507 361 và II Prof. & disciplines ĐH, CĐ 11917 12422 12361 12893 13288 15613 15732 Univercity & College Trình độ khác - 291 321 204 348 228 412 209 Others degree Nguồn: http://www.edu.net.vn/Data/ThongKe/dhcd.htm Việc giáo dục và đào tạo ở đại học Việt Nam còn áp dụng nhiều phương pháp dạy cũ, phần lớn nặng về giảng dạy, ít nghiên cứu và thực tập nên đã không đáp ứng được các yêu cầu thực tế. Bên cạnh đó trình độ Anh văn của các sinh viên Việt nam thấp, những sinh viên thông thạo chiếm rất ít. Ví dụ trường hợp của công ty Intel ở TPHCM tuy ển chọn nhân viên đã cho thấy rất rõ chất lượng đào tạo của đại học Việt Nam: Công ty muốn tuyển 2000 chuyên viên. Qua khảo hạch có 90 sinh viên chấm đậu về kiến thức. Nhưng qua phỏng vấn, Intel chỉ tuyển được có 40 người có trình đ ộ tiếng Anh. Như vậy chỉ có 2% sinh viên được Intel chấp nhận cho làm việc. Đó là 2% sinh viên có trình độ “quốc tế”. Đây là kết quả tồi tệ nhất mà công ty Intel đã gặp phải trong quá trình mở rộng đầu tư ở nước ngoài của mình. Cơ sở vật chất trong các trường chưa được đầu tư thích đáng, đã lỗi thời dẫn đến việc truyền đạt kiến thức cho sinh viên ít hiệu quả, vì thế không thể đào tại người có trình độ cao mà xã hội đang cần.
  10. Với kinh nghiệm dày dặn trong giảng dạy, và nguồn lực vốn mạnh, phương pháp dạy hiện đại, tu duy giúp ích cho Rmit khi đầu tư vào thị trường Việt Nam . Đó là sự đầu tư khoản tiền khá lớn vào trang thiết bi giáo dục nhằm đáp ứng cho việc giảng dạy hiện đại, chất lượng tiếp thu bài học tốt nhất cho sinh viên từ các nước trên thế giới t ạo ra sức thu hút sự cạnh tranh trên thị trường. Điều này sẽ được phân tích rõ trong mô hình 7P ở phần sau. 2. Chiến lược Marketing 7P của RMIT a. Product Trong hoạt động marketing quốc tế, các quyết định về sản phẩm quôc tế rất quan trọng vì nó sẽ ảnh hưởng tới các chiến lược Marketing. Trong đó các quyết định về sản phẩm ở thị trường trong nước và nước ngoài còn chịu sự chi phối của sự khác biệt từ các thị trường. Khách hàng từ các quốc gia khác nhau đều có sự khác biệt vềnhu câu, sở thích đối với các chương trình của RMIT Có thể thấy rằng, khi xâm nhập vào thị trường Việt Nam, RMIT không đem toàn bộ tất cả các ngành ở Úc: Kiến Trúc, Xây Dựng và Quy Hoạch, Mỹ Thuật và Thiết Kế, Thương Mại, Các Dịch Vụ Cộng Đồng và Khoa học xã Hội, Vi Tính và Hệ Thông Tin, Kỹ Sư và các Ngành Kỹ Thuật Liên Quan, Môi Sinh, Y Tế và Y Khoa Học, Truyền Thông và Giao Tiếp, Khoa Học sang Việt Nam mà chỉ chọn lọc các ngành phù hợp với nhu cầu thực tế tại Việt Nam: Thương mại (bao gồm cả chương trình Thạc sĩ Quản trị kinh doanh), Kế toán, Thiết kế đa truyền thông, Công nghệ thông tin, Hệ thống thông tin kinh doanh, Truyền thông chuyên nghiệp. RMIT là trường đại học khá mạnh về đạo tạo các ngành công nghệ thông tin và thương mại, do vậy, RMIT đã tận dụng lợi thế cạnh tranh này khi sang Việt Nam, 2 ngành này đều có trong các ngành đào tạo của RMIT. Bên cạnh đó thì ở Việt Nam, các ngành này khá phổ biến, điều này tạo ra được tính đáp ứng cho nhu cầu của người học. Bên cạnh hệ đại học, RMIT còn đào tạo các hệ cao đẳng, sau đại học, đáp ứng các nhu cầu khác nhau của người học: Chương trình Cao đẳng: Tín Thời gian Học phí nhóm Chương trình Nơi học Học phí nhóm 4 chỉ học 3
  11. Cao đẳng Thương Nam Sài Gòn, Hà 96 4 học kỳ ₫ 207,650,000 ₫ 269,950,000 mại Nội Nam Sài Gòn, Hà Cao đẳng Thiết kế 96 4 học kỳ ₫ 207,650,000 ₫ 269,950,000 Nội - Chương trình đại học (bắt đầu từ học kỳ 1) Tín Thời gian Học phí nhóm Học phí nhóm Chương trình Nơi học chỉ học 3 4 Nam Sài Gòn, Cử nhân Kinh doanh (Kế toán) 288 7 học kỳ ₫ 360,860,000 ₫ 469,150,000 Hà Nội Cử nhân Kinh doanh (Hệ thống 384 9 học kỳ Nam Sài Gòn ₫ 412,750,000 ₫ 536,620,000 Thông tin Kinh doanh) Nam Sài Gòn, ₫ Cử nhân Thương mại 288 7 học kỳ ₫ 469,150,000 Hà Nội 360,860,000 Cử nhân Truyền thông (Truyền 288 6 học kỳ Nam Sài Gòn ₫ 360,860,000 ₫ 469,150,000 thông Chuyên nghiệp) Cử nhân Thiết kế (Hệ thống đa ₫ 384 8 học kỳ Nam Sài Gòn ₫ 601,740,000 truyền thông) 462,910,000 Cử nhân Công nghệ thông tin 288 7 học kỳ Nam Sài Gòn ₫ 380,240,000 ₫ 494,240,000 - Các chương trình liên thông Dành cho học viên đã hoàn tất chương trình Cao đẳng RMIT cùng một ngành với chương trình đại học Tín Thời gian Học phí nhóm Học phí nhóm Chương trình Nơi học chỉ học 3 4 Nam Sài Gòn, ₫ Cử nhân Kinh doanh (Kế toán) 288 5 học kỳ ₫ 312,770,000 Hà Nội 240,580,000 Cử nhân Kinh doanh (Hệ thống ₫ 288 7 học kỳ Nam Sài Gòn ₫ 380,230,000 Thông tin Kinh doanh) 292,460,000 Nam Sài Gòn, ₫ Cử nhân Thương mại 192 5 học kỳ ₫ 312,770,000 Hà Nội 240,580,000 Cử nhân Thiết kế (Hệ thống đa 288 6 học kỳ Nam Sài Gòn ₫ 342,620,000 ₫ 445,360,000 truyền thông)  Đây chính là điều kiện cần thiết để RMIT có thể hoạt động hiệu quả trên thị trường xâm nhập là VIệt Nam
  12. Tuy nhiên sau nhiều năm phát triển ở Việt Nam, RMIT đã đưa vào giảng dạy thêm các ngành mà trước đây khi mới hoạt động ở Việt Nam chưa có nhằm đáp ứng nhu cầu ngày một nhiều đồng thời với đó là mở rộng quy mô của RMIT(Khoa học máy tính, Kỹ thuật phần mềm, Công nghệ thông tin và đa truyền thông, Thương mại.) Tuy nhiên một điểm khác biệt ở RMIT đó chính là trường không duy trì các ngành học qua nhiều năm mà chủ động thêm vào các ngành học đang có xu hướng cần nhiều nhân lực, đang phổ biến trên thị trường Việt Nam. Điều này tạo ra sự quan tâm của người có nhu cầu học từ đó mà RMIT có thể thu hút được nhiều hơn sinh viên đến với mình Bên cạnh đó, tất cả các ngành đào tạo tại RMIT Việt Nam đều được Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam công nhận. Văn bằng do Đại học RMIT Úc cấp. Điều này có nghĩa là lần đầu tiên sinh viên Việt Nam có thể lĩnh hội một nền giáo dục đ ẳng c ấp quốc tế mà không phải ra nước ngoài. Các bằng của đại học RMIT được chấp nhận trên toàn thế giới, vàchính điều này tạo nên thương hiệu cho RMIT Chỉ trong vòng 10 năm hoạt động RMIT Việt Nam đã tạo được chỗ đứng cho mình. Một phần cũng vì nó đã thay đổi phù hợp với thị trường Việt Nam. Chương trình đào tạo phù hợp với trình độ sinh viên, đồng thời có tiêu chuẩn quốc tế. Không chỉ cung cấp cho người học các chương trình học, RMIT còn tổ chức trung tâm học anh văn: Trung tâm RMIT English Worldwide (REW) giúp đỡ các sinh viên thuộc mọi trình độ hiện đang cần trau dồi kỹ năng Anh ngữ của mình đ ể ghi danh vào các chương trình học của RMIT. REW còn là một trung tâm trắc nghiệm IELTS. Bên cạnh các chương trình học của mình thì hình ảnh giúp người học có thể dễ dàng nhận ra đó chính là logo của RMIT. Đây là logo được sử dụng ở tất cả các cơ sở của RMIT ở tất cả các nước
  13. Ở Việt Nam, đa số các sinh viên ở các trường công lập đều từ học sinh khá giỏi ở trường phổ thông. Ở Việt Nam để có thể học đại học thì yếu tố tiên quyết đó chình là năng lực học tập, vì các trường công lập có mức học phí rất rẻ, còn nếu so sánh với các đại học quốc tế thì quá rẻ. Tuy nhiên để có thể học ở RMIT thì không phải gia đình nào ở Việt Nam cũng có thể trang trải được học phí cho con em mình học tập, với mức thu nhập bình quân đầu người hiện nay như ở Việt Nam thì học ở RMIT là khoản tiền còn quá lớn. Chính vì vậy, thị trường mục tiêu ở Việt Nam đó chính là các gia đình khá giả, có khả năng chi trả. b. Price Định giá cho sản phẩm là chìa khóa dẫn tới thành công hay thất bại của RMIT. Ngay cả khi các nhà Marketing quốc tế sản xuất đúng sản phẩm, xúc tiến sản phẩm đúng cách và khởi đầu kênh phân phối thích hợp, họ cũng sẽ thất bại nếu sản ph ẩm đ ược định giá không đúng Nếu như học phí tại Úc khá cao thì học ở Việt Nam lại tương đối rẻ hơn, nhằm vào đối tương có khả năng chi trả nhưng không thể chi trả qua cao như ở Úc, nhưng l ại được học tập trong môi trường nhu đi du học RMIT là đại học quốc tế nhưng hoạt động tại Việt Nam nên mức giá để theo học cũng không quá cao, giảm bớt được chi phí ăn ở khi phải đi du học nước ngoài. Ngoài ra, RMIT áp dụng quy chế học tín chỉ tiên tiến nhất, giúp sinh viên có thể cụ thể hóa
  14. được chi phí cho khóa học của mình. Có thể thấy rõ lợi thế cạnh tranh của RMIT so với các đại học trong nước và ngoài nước là, giảng dạy theo chương trình tiêu chuẩn quốc tế nhưng mức học phí lại không quá cao. Chương trình Cao đẳng Tín Thời gian Học phí nhóm Chương trình Nơi học Học phí nhóm 4 chỉ học 3 Cao đẳng Thương Nam Sài Gòn, Hà 96 4 học kỳ ₫ 207,650,000 ₫ 269,950,000 mại Nội Nam Sài Gòn, Hà Cao đẳng Thiết kế 96 4 học kỳ ₫ 207,650,000 ₫ 269,950,000 Nội - Chương trình đại học (bắt đầu từ học kỳ 1) Học phí nhóm 3 Học phí nhóm Chương trình (VND) 4(VND) Cử nhân Kinh doanh (Kế 360,860,000 469,150,000 toán) Cử nhân Kinh doanh (Hệ thống Thông tin Kinh 412,750,000 536,620,000 doanh) Cử nhân Thương mại 360,860,000 469,150,000 Cử nhân Truyền thông (Truyền thông Chuyên 360,860,000 469,150,000 nghiệp) Cử nhân Thiết kế (Hệ 462,910,000 601,740,000 thống đa truyền thông) Cử nhân Công nghệ thông 380,240,000 494,240,000 tin - Các chương trình liên thông Dành cho học viên đã hoàn tất chương trình Cao đẳng RMIT cùng một ngành với chương trình đại học Học phí nhóm Học phí nhóm Chương trình 3 4 Cử nhân Kinh doanh (Kế toán) 240,580,000 312,770,000 Cử nhân Kinh doanh (Hệ thống 292,460,000 380,230,000 Thông tin Kinh doanh) Cử nhân Thương mại 240,580,000 312,770,000
  15. Cử nhân Thiết kế (Hệ thống đa 342,620,000 445,360,000 truyền thông) - Học phí nhóm 3: Áp dụng cho sinh viên Việt Nam hoặc sinh viên quốc tế có thẻ thường trú, tạm trú hoặc giấy phép làm việc tại Việt Nam. - Học phí nhóm 4: Áp dụng cho sinh viên nước ngoài không có thẻ thường trú, tạm trú tại Việt Nam (không áp dụng với sinh viên Úc hoặc New Zealand đi học theo chế độ trợ cấp của chính phủ Úc). - Chiến lược giá đa dạng, nhưng cũng không quá cao, giúp hạ thấp chi phí cho sinh viên. Hơn thế nữa, trường cũng có những chương trình liên thông với các trường đại học, phục vụ cho những sinh viên mong muốn tiếp tục theo học sau khi đã học xong đại học. c. Place Hiện nay RMIT có 3 cơ sở Melboun và 2 cơ sở ở Việt Nam: Hà Nội và TP Hồ CHí Minh. Tại sao RMIT lại đặt 2 cơ sở ở 2 thành phố này - Trường đại học Rmit Việt Nam có hai chi nhánh ở Hà Nội và TPHCM. Đây là hai thành phố lớn, có mức thu nhập trên đầu người tương đối cao. Hơn thế nữa, mỗi năm ở hai TP này đều có một lượng lớn sinh viên đi du học. Việc thành lập RMIT đã giúp cho sinh viên có nhiều lựa chọn hơn khi muốn tìm kiếm một trường học có chuẩn quốc tế tại Việt Nam. - RMIT Nam Sài Gòn được xây dựng tại Quận 7, gần khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng. Đây là khu đô thị cao cấp, không chỉ có người Việt mà còn có người nước ngoài sinh sống và làm việc tại đây. Do đó, vị trí thuận lợi này không những giup cho trường có được không gian rộng rãi, mà còn tiến gần hơn đến thị trường mục tiêu của mình. d. Promotion - Công tác tiếp thị trong giáo dục không liên quan đến việc quảng bá rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Để làm công tác PR cho trường, RMIT thường xuyên tổ chức những buổi công tác xã hội như hỗ trợ Hội Phụ Nữ trong việc tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS, Khuyến khích sinh viên
  16. trường đóng góp công sức trong chiến dịch dạy những kỹ năng xã hội cần thiết cho trẻ em mù, bất hạnh; giúp đỡ nạn nhân bão lũ … Trường còn thường xuyên tổ chức các chương trình liên kết đào tạo cho giáo viên các trường dạy trẻ em khiếm khuyết như trường Tân Bình, cung cấp những phương tiện nghiên cứu cần thiết cho các trường đại học trên khắp cả nước. - Không chỉ thế, RMIT còn có chương trình học bổng toàn phần cho sinh viên xuất sắc trị giá hơn 390 triệu đồng. e. People - RMIT hướng đến đào tạo con người trong thời đại mới. Trường khuyến khích sinh viên tham gia các chương trình nêu trên, đóng góp một phần trong công tác quảng bá cho trường. f. Physical: cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ giảng viên, nhân viên +Cơ sở vật chất, trang thiết bị: RMIT Việt Nam bao gồm hai cơ sở Nam Sài Gòn(thành lập năm 2001) và c ơ sở Hà Nội (thành lập năm 2004).Tổng số sinh viên ở cả hai cơ sở tính đ ến tháng 3/2009 hi ện đã lên đến hơn 5,000. Giai đoạn phát triển cơ sở hạ tầng mới dự kiến hoàn tất năm 2010 bao gồm khu ký túc xá và trung tâm thể thao trong nhà. Cơ sở Hà Nội của RMIT Việt Nam bao gồm hai tòa nhà giảng dạy hiện đ ại – một tòa nhà cao tầng tọa lạc trong Khu Ngoại giao đoàn Vạn Phúc với tổng diện tích khoảng 1.800m2. Ngoài các lớp học, cơ sở này còn có Trung tâm Tài nguyên học liệu và được trang bị công nghệ không dây cho phép sinh viên truy cập internet từ bất cứ nơi nào trong tòa nhà, xem email và học trực tuyến. Trường cũng thường xuyên tổ chức các hoạt động xã hội và thi đấu thể thao cho sinh viên. Cơ sở Hà Nội được đưa vào hoạt động từ năm 2004 và hiện nay đã có khoản 1.000 sinh viên đang theo học các l ớp tiếng Anh học thuật, Cử nhân thương mại và Thạc sĩ Quản trị kinh doanh. Thêm một tòa nhà cao chín tầng gần Văn Miếu đã được đưa vào sử dụng nhằm đáp ứng số lượng sinh viên đang gia tăng rất nhanh tại cơ sở Hà Nội.
  17. Sinh viên tại cơ sở Hà Nội cũng tham gia các hoạt động quan hệ cộng đồng, các câu lạc bộ và nhiều cuộc thi đấu thể thao đa dạng. Trường đang có kế hoạch dài hạn xây dựng lại và mở rộng cơ sở Hà Nội cho phù h ợp với nhu cầu phát triển ngày càng tăng. Cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh là tòa nhà tại Nam Sài Gòn có tổng diện tích h ơn 12.000 m2 với sức chứa cho 3.000 sinh viên. Ngoài bốn tầng được trang bị hơn 500 máy vi tính tại khu học đường và thư viện, trường còn có một nhà hát (khoảng 300 gh ế ngồi), hơn 30 giảng đường và một số phòng thí nghiệm nghiên cứu, sân tennis, khu thể thao tổng hợp. Cơ sở Nam Sài Gòn của RMIT Việt Nam là một trong những cơ sở được trang bị hiện đại bậc nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương với công nghệ không dây cho phép sinh viên truy cập tư liệu học tập ở bất cứ nơi nào trong tòa nhà. Các tiện ích phục vụ nhu cầu giải trí bao gồm sân bóng đá, sân bóng rổ và sân quấn vợt. Trung tâm thể thao và giải trí, hồ bơi, và khu ký túc xá cũng đang đ ược xây d ựng. Khu ẩm thực phục vụ nhiều loại món ăn Âu, Á khác nhau. Trường tổ chức nhiều hoạt động đa dạng dành cho sinh viên thông qua các câu l ạc bộ đội nhóm như: CLB kinh doanh, CLB tiếng Anh, CLB sự kiện, đội bóng đá, bóng rổ, … Các lớp dạy Yoga, Aikido, khiêu vũ cổ điển và hiện đại được tổ chức thường xuyên tại trường. Trường đại học quốc tế của Úc - RMIT Việt Nam, cho biết sẽ đ ầu tư ít nhất 30 tri ệu đô la Mỹ (khoảng 514 tỉ đồng) vào việc mở rộng, xây dựng thêm các công trình mới phục vụ cho các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu… trong khuôn viên của trường tại quận 7, TPHCM. Bà Merilyn Liddell, Tổng giám đốc mới của trường, tại buổi họp báo ngày 11-8, cho biết khu ký túc xá cho sinh viên, các công trình phục vụ cho hoạt đ ộng thể thao và gi ải trí đang được xây dựng trong khuôn viên rộng khoảng 12,5 héc ta của trường tại khu đô thị Nam Sài Gòn. Dự kiến, các công trình thuộc giai đoạn 2 của dự án nói trên sẽ được đưa vào hoạt động từ tháng 3-2010 với vốn đầu tư khoảng 15 triệu đô la Mỹ. Trong đó, khu thể thao dành
  18. cho các hoạt động trong nhà có sức chứa 1.500 chỗ ngồi và khu ký túc xá có khả năng đáp ứng chỗ ở cho khoảng 250 sinh viên nội trú. Vào tháng 1-2010, RMIT Việt Nam sẽ khởi công tiếp giai đoạn 3 của dự án với số vốn đầu tư khoảng 15 triệu đô la Mỹ. Trong giai đoạn này, tòa nhà giảng dạy thứ 2 sẽ được xây dựng, bao gồm các khu học, giảng dạy và nghiên cứu, chủ yếu phục vụ các chuyên ngành mới như thiết kế, truyền thông... Hiện có hơn 5.000 sinh viên Việt Nam và nước ngoài đang theo học tại các cơ sở của RMIT Việt Nam tại Nam Sài Gòn và Hà Nội, và sinh viên Việt Nam chiếm 90% trong tổng số sinh viên này. Bà Liddell nói với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online rằng sau khi các công trình mới, bao gồm tòa nhà giảng dạy thứ 2 hoàn thành dự kiến vào tháng 7-2011, trường có thể tiếp nhận 8.000 - 10.000 sinh viên. Cơ sở Nam Sài Gòn của RMIT Việt Nam cho phép sinh viên truy cập mạng không dây kết nối trang thiết bị hiện đại; sử dụng các tiện ích phục vụ nhu cầu thể thao, ẩm thực, y tế, văn phòng phẩm và một số các nhu cầu khác. Thành lập các trung tâm : Nhằm mục đích phối hợp hoạt động giữa các chương trình đào tạo nhịp nhàng và chặt chẽ hơn, cũng như chuẩn bị cho các kế hoạch nghiên cứu trong tương lai, RMIT Việt Nam đã tổ chức các chương trình đào tạo bậc đ ại học theo ba trung tâm: Trung tâm thương mại và quản lý, Trung tâm công nghệ và Trung tâm ngôn ngữ và học thuật. Mục tiêu của các trung tâm là nhằm mang lại sự đồng bộ giữa các chương trình đào tạo trong cùng một trung tâm; và tiến tới đi đầu trong các hoạt đ ộng nghiên cứu và h ọc thuật trong những lĩnh vực đào tạo liên quan tại Việt Nam và khu vực Châu Á trong những năm tới Thông qua trang web giảng dạy của trường, các sinh viên cũng như giáo viên sẽ được hỗ trợ thông báo việc giảng dạy trong RMIT. Trang web hướng dẫn thiết thực về cách tiếp cận để chuẩn bị, thực hiện và đánh giá giảng dạy của giáo viên, và cũng thông tin hiện hành về việc học chuyên nghiệp, tài trợ
  19. và các cơ hội giải thưởng cho sinh viên.Thêm vào đó là những nguồn tài nguyên hữu ích, kích thích thảo luận và hợp tác giữa các giáo viên, trang web trở thành nơi cho sinh viên, giảng viên đóng góp các khía cạnh xuất sắc của học tập của riêng bạn và th ực hành giảng dạy. iTunes University (viết tắt là iTunes U) là hàng ngàn tài liệu học tập, các bài diễn thuyết của các giáo sư lớn đến từ các trường ĐH danh tiếng của Mỹ như Stanford University, UC Berkeley, Duke University hay RMIT. RMIT trên iTunes U cung cấp một phương tiện để giới thiệu tất cả các khía c ạnh của trường Đại học cho nhân viên, học sinh (cả hiện tại và tiềm năng) và công chúng nói chung. Mọi ý kiến đóng góp trong tương lai được hoan nghênh, đặc biệt là trong các loại sau: * Học sinh làm việc (video / audio sản xuất hoặc dựa trên các tài liệu PDF) * Nhân viên nghiên cứu (phỏng vấn, tóm tắt, tour du lịch của các cơ s ở RMIT) * Dạy và học thực hành ( 'Lectopia' bản ghi âm, thực hành phòng thí nghiệm, loa khách) * Sự kiện công cộng (khách loa, hội thảo, lễ tốt nghiệp, mở ngày) * Khuôn viên / thông tin Cơ sở (cuộc biểu tình, đã hướng dẫn tour du lịch, bản đồ, tài liệu quảng cáo) * Dịch vụ và hỗ trợ (các hoạt động, học tập / tư vấn nghề nghiệp, hướng dẫn và tư vấn) Đại học đã thiết lập được hướng dẫn về nội dung và cả định dạng của RMIT trên iTunes U nội dung, và các nguồn lực khác nhau có sẵn để trợ giúp trong việc ghi / phát triển của các khoản đóng góp. Nếu bạn có một ý tưởng cho những đóng góp một (hoặc một nguồn l ực hiện có, ho ặc phát triển một mới), hãy thảo luận với một trong hai điều phối viên hay hội đồng quản trị biên tập.
  20. Từ việc thiết kế các chương trình giảng dạy để nghiên cứu ứng dụng, Đại học các công trình với các đối tác trong nước và quốc tế để trang bị cho sinh viên với nhà nước kiến thức cho phép họ trội trong nghề nghiệp của họ đã chọn. Đổi mới trong phương pháp giảng dạy, phát triển chương trình giảng dạy, vị trí làm việc và dự án nghiên cứu nhấn mạnh đến việc hành tốt nhất thế giới. Đội ngũ giảng viên, nhân viên Sinh viên được học trong một môi trường giảng dạy chuyên nghiệp tại RMIT Việt Nam. Các lớp học có sĩ số ít và chú trọng vào mối quan hệ thầy – trò, tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với đội ngũ giảng viên (95% là người nước ngoài) một cách dễ dàng nhất. Chương trình được thiết kế theo hướng lấy sinh viên làm trung tâm, học tập hoàn toàn bằng tiếng Anh. Nội dung giáo trình giảng dạy do Đại học RMIT, Úc soạn thảo. Chất lượng giảng dạy và việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên được Đại học RMIT, Úc kiểm định. Giảng viên của trường đều có học vị thạc sĩ, tiến sĩ, và có nhiều kinh nghi ệm gi ảng dạy. Giảng viên đến từ nhiều nước trên thế giới như Úc, Canada, New Zealand, Singapore, Thái Lan, Anh và Hoa Kỳ. RMIT ngày càng tích hợp học tập và giảng dạy và phát triển đội ngũ nhân viên của mình trên 2 cơ sở của Việt Nam. Với các tổ chức đối tác tại Singapore, Malaysia và Trung Quốc; và thông qua giáo dục và các liên kết ngành công nghiệp trên toàn thế giới . RMIT cung cấp cho nhân viên các lợi ích một lối sống và văn hóa trong đó khuy ến khích phát triển chuyên môn và thăng tiến nghề nghiệp. Các chính sách của RMIT và thực tiễn công việc đánh giá cao sự sáng tạo, trao quyền và sự công bằng. RMIT thúc đẩy sự tham gia đạo đức, tôn trọng và khuyến khích một môi trường công nhận sự nghiệp của bạn và các lựa chọn cuộc sống là quan trọng RMIT đang làm việc với một trong những nhà thiết kế hàng đầu thế giới và các nhà sản xuất của các khung hình, Luxottica Úc, để cung cấp đào tạo cho nhân viên của mình.
Đồng bộ tài khoản