Chiến lược marketing của Unilever Vietnam - Phần 2

Chia sẻ: thanhsg

Trên cơ sở những điểm mạnh - điểm yếu, cơ hội - thách thức, công ty Unilever đã thực hiện chiến lược Marketing quốc tế vào thị trường Việt Nam theo Marketing Mix 4P.

Nội dung Text: Chiến lược marketing của Unilever Vietnam - Phần 2

Chiến lược Marketing của Unilever
Vietnam – phần 2



Trên cơ sở những điểm mạnh - điểm yếu, cơ hội - thách thức, công ty Unilever
đã thực hiện chiến lược Marketing quốc tế vào thị trường Việt Nam theo
Marketing Mix 4P


1. Địa điểm phân phối (Place)
Năm 1995, Unilever vào Việt Nam và quyết định tạo ra một hệ thống tiếp thị và
phân phối toàn quốc, bao quát hơn 100.000 địa điểm. Unilever đã đưa khái niệm
tiêu thụ bán lẻ trực tuyến, sử dụng nhân viên bán hàng đến từng cửa hàng bán lẻ
theo tuyến, những nhân viên này có nhiệm vụ chào các đơn hàng mới, giao hàng
và cấp tín dụng cho các đơn hàng tiếp theo.


Các điểm bán lẻ được cấp tủ bày hàng năm sử dụng tối đa không gian trong cửa
hàng của họ và tính bắt mắt sản phẩm. Ngoài ra, công ty còn giúp đỡ các hãng
phân phối dàn xếp các khoản cho vay mua phương tiện đi lại, đào tạo quản lý và
tổ chức bán hàng.


2. Sản phẩm (Product)
Công ty đã vận dụng những tiêu chuẩn quốc tế cho sản phẩm nhưng thích nghi
với nhu cầu của người Việt Nam. Họ đã mua lại từ các đối tác của mình những
nhãn hiệu có uy tín từ nhiều năm ở Việt Nam như bột giặt Viso, và kem đánh
răng P/S. Sau đó, cải tiến công thức chế tạo bao gói và tiếp thị để gia tăng tiêu
thụ những nhãn hiệu này. Bên cạnh đó, công ty cũng tìm hiểu sâu sắc nhu cầu
người tiêu dùng Việt Nam để “Việt Nam hóa” sản phẩm của mình, ví dụ như
dầu gội Sunsilk chứa thêm chiết xuất từ cây bồ kết - một loại dầu gội đầu dân
gian của Việt Nam; và nhãn hiệu này cũng đã thành công rất lớn chiếm 80%
doanh số của nhãn hiệu dầu gội Sunsilk.
“Nghĩ như người Việt Nam chính là cách để hiểu người tiêu dùng Việt Nam
thích gì, cần gì để từ đó làm ra những sản phẩm phù hợp với họ”, ông Michel
giải thích thêm. Để có đươc những sản phẩm thoả mãn thị hiếu người tiêu dùng,
công ty đã xây dựng một đội ngũ nhân viên bản địa chuyên nghiệp, hiểu biết
tường tận tập quán văn hoá kinh doanh và sở thích của người Việt Nam. Nói
không ngoa, trà và kem Wall’s có mặt khắp thế giới nhưng nếu ra khỏi Việt Nam
thì không thể tìm đâu ra loại trà xanh vị Bắc, trà lài Cây đa, kem đậu xanh, hoặc
kem khoai môn dừa, những sản phẩm có hương vị đặc trưng của Việt Nam.
Với tầm quan trọng về uy tín của thương hiệu, trong những năm qua Unilever
Việt Nam đặc biệt chú trọng đến việc chống hàng giả để bảo vệ quyền lơi
người tiêu dùng, bảo vệ sở hữu trí tuệ và uy tín với thương hiệu hàng hoá. Các
sản phẩm của công ty hiện nay đã có thêm TEM BẢO ĐẢM HÀNG THẬT, hay
LOGO CHỐNG HÀNG GIẢ BẢO ĐẢM HÀNG THẬT nhằm giúp khách hàng có
thể nhận biết rõ ràng hàng thật - hàng giả và mang lại cảm giác an tâm khi sử
dụng.


3. Quảng bá (Promotion)
Cũng như những công ty hàng tiêu dùng phát triển nhanh khác, Unilever Việt Nam
có hai mảng chính trong hệ thống chiến lược quảng bá của mình là “Above-the-
Line”(quảng bá trực tiếp) và “Below-the-Line” (quảng bá gián tiếp).
Above-the-Line là những hoạt động quảng bá sản phẩm trên truyền hình, báo
chí… nhằm đạt một hay một số mục đích nhất định như thông báo cho người
tiêu dùng biết sản phẩm mới, hướng dẫn sử dụng sản phẩm, v.v… Chính nhờ
chiến dịch quảng cáo trực tiếp đúng lúc, phù hợp, kịp thời, Unilever Việt Nam đã
đi được những bước tiến dài trên thị trường chỉ trong thời gian ngắn.
Còn Below-the-Line là “tất cả những hoạt động quảng bá không qua các phương
tiện truyền thông” (theo M.Christopher, Marketing Below-the-Lines, George Allen
& Urwin, London) hay nói cách khác là “hoạt động bán hàng phụ, kết hợp
giữa bán hàng trực tiếp (personal selling) và quảng cáo thành một nguồn lực
mang tính thuyết phục hiệu quả” (theo J.F. Engel, H.G. Wales và M.R. Warshaw,
trong Promotional Strategy, R.D Irwin, Homewood, Illinois.) Song trên thực tế,
chương trình Below-the-Line Promotion phải dựa vào quảng cáo trên các phương
tiện đại chúng và phải dựa vào những mục tiêu nhắm đến, vào bản chất của sản
phẩm, loại kênh phân phối sử dụng và khách hàng mục tiêu. Cụ thể, đó là các
hình thức phổ biến thường thấy như giảm giá, coupon, tặng kèm dưới nhiều
hình thức, đổi vỏ sản phẩm này được tặng sản phẩm khác, tặng mẫu dùng thử
cho khách hàng, chương trình khuyến mãi rút thăm hoặc cào trúng thưởng những
phần quà có giá trị, tài trợ cho các cuộc thi và những chuyên mục trên truyền
hình… Những hoạt động như vậy đã tạo dựng được hình ảnh các nhãn hàng
(brand imge) của Unilever nơi người tiêu dùng.
4. Chính sách giá cả (Price)
Nhận biết 80% người tiêu dùng Việt Nam sống ở vùng nông thôn có thu nhập
thấp, Unilever Việt Nam đã đề ra mục tiêu giảm giá thành sản xuất nhằm đem
lại mức giá cả hợp lý cho người tiêu dùng. Công ty đã dựa vào các doanh nghiệp
nhỏ địa phương để tìm các nguyên liệu tại chỗ thay thế một số loại phải nhập
khẩu; điều này vừa giảm được chi phí mua hàng vừa đóng thuế nhập khẩu ít
hơn.


Ngoài ra, công ty cũng phân bố việc sản xuất, đóng gói cho các vệ tinh tại các
khu vực Bắc, Trung, Nam để giảm chi phí vận chuyển và kho bãi. Unilever cũng
đã thực hiện chính sách hỗ trợ tài chính giúp các doanh nghiệp địa phương có thể
nâng cấp trang thiết bị sản xuất, chuyển giao kỹ thuật, tổ chức các chương trình
huấn luyện sản xuất.


5. Con người (People)
Ngoài 4P truyền thống của Marketing Mix, phải kể đến một P khác không kém
phần quan trọng mà Unilever đã và đang tiếp tục phát huy, đó là nhân tố con
người.


Cùng với việc đa dạng hóa các hoạt động sản xuất kinh doanh, Unilever Việt
Nam luôn coi trọng việc phát triển nguồn nhân lực là bước đột phá về chất cho
sự phát triển bền vững lâu dài, cả khi xã hội tiến vào nền “Kinh tế tri thức” hoặc
“Kinh tế sinh học”. Để “hiểu thấu đáo người tiêu dùng Việt Nam” và để phát
triển “hệ thống rễ” giúp công ty có thể bám sâu vào thị trường, Unilever đã xây
dựng một đội ngũ nhân viên bản địa chuyên nghiệp và thường xuyên chú trọng
đến các chương trình huấn luyện nhân viên. Quan điểm của Unilever là “Phát
triển thông qua con người”, nên công ty luôn quan tâm đến quyền lợi của nhân
viên và sẵn sàng hỗ trợ họ trong các lĩnh vực công tác. Hiện nay, đội ngũ quản lý
Việt Nam đã thay thế các vị trị chủ chốt trước kia do các chuyên gia nước ngoài
đảm nhiệm.


Trong thời gian họat động tại Việt Nam, bên cạnh chính sách phát triển nguồn
nhân lực, Unilever luôn đi đầu với nhiều hoạt động nhân đạo và phát triển cộng
đồng. Ý thức đầy đủ về vai trò của mình trong việc phát triển xã hội Việt Nam,
công ty đã chi không ít cho các cam kết nhân đạo, chủ yếu tập trung vào các lĩnh
vực y tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo và phòng chống thiên tai như chương
trình “P/S bảo vệ nụ cười Việt Nam”, chương trình “Lifeboy” phòng chống bệnh
phong hay chương trình “Vim” diễn đàn vệ sinh gia đình, phòng dịch, v.v…


Kế tục bước đường phát triển thần tốc của hôm qua, kỳ vọng của Unilever Việt
Nam ở ngày mai là: “Hoàn thiện nhu cầu sức khỏe và vẻ đẹp của mọi gia đình
Việt Nam”, xây dựng một doanh nghiệp toàn diện, thành đạt và uy tín, hoạt động
sản xuất hiệu quả, tạo dựng nhiều lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng, nhân
viên, đối tác và cổ đông, phát huy trách nhiệm xã hội đóng góp tích cực cho các
hoạt động phát triển cộng đồng.
Với chiến lược Marketing trên, công ty Unilever đã chiếm được cảm tình của đại
đa số người tiêu dùng Việt Nam trong gần một thập niên qua. Trong tương lai,
Unilever sẽ cho ra đời nhiều sản phẩm mới lạ và độc đáo hơn với hy vọng vẫn
là người bạn đồng hành, thân thiết trong sinh hoạt của mọi nhà.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản