Chính sách tài khóa

Chia sẻ: truongsinhftu2610

Chính sách tài khóa là các chính sách c a chính ủ phủ nhằm tác động lên định hướng phải triển của nền kinh tế thông qua những thay đổi trong chi tiêu chính phủ và thuế khóa. Chính sách tài khóa đối lập với những chính sách kinh tế cơ bản khác như chính sách tiền tệ, đó là chính sách nhằm ổn định nền kinh tế bằng cách kiểm soát tỉ lệ lãi suất và nguồn cung tiền. Hai công cụ chính của chính sách tài khóa là chi tiêu của chính phủ và hệ thống thuế....

Nội dung Text: Chính sách tài khóa

Chính sách tài khóa (Fiscal policy)



SAGA - Chính sách tài khóa là các chính sách của chính phủ nhằm tác động lên
định hướng phải triển của nền kinh tế thông qua những thay đổi trong chi tiêu
chính phủ và thuế khóa. Chính sách tài khóa đối lập với những chính sách kinh tế
cơ bản khác như chính sách tiền tệ, đó là chính sách nhằm ổn định nền kinh tế
bằng cách kiểm soát tỉ lệ lãi suất và nguồn cung tiền. Hai công cụ chính của
chính sách tài khóa là chi tiêu của chính phủ và hệ thống thuế. Những thay đổi về
mức độ và thành phần của thuế và chi tiêu của chính phủ có thể ảnh hưởng đến
các biến số sau trong nền kinh tế:

• Tổng cầu và mức độ hoạt động kinh tế
• Kiểu phân bổ nguồn lực
• Phân phối thu nhập

Chính sách tài khóa liên quan đến tác động tổng thể của ngân sách đối với hoạt
động kinh tế. Có các loại chính sách tài khóa điển hình là trung lập, mở rộng, và
thu gọn.

1. Chính sách trung lập là chính sách cân bằng ngân sách khi đó G = T (G: chi
tiêu chính phủ, T: thu nhập từ thuế). Chi tiêu của chính phủ hoàn toàn
được cung cấp do nguồn thu từ thuế và nhìn chung kết quả có ảnh hưởng
trung tính lên mức độ của các hoạt động kinh tế.
2. Chính sách mở rộng là chính sách tăng cường chi tiêu của chính phủ (G >
T) thông qua chi tiêu chính phủ tăng cường hoặc giảm bớt nguồn thu từ
thuế hoặc kết hợp cả 2. Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách nặng nề
hơn hoặc thặng dư ngân sách ít hơn nếu trước đó có ngân sách cân bằng.

3. Chính sách thu hẹp là chính sách trong đó chi tiêu của chính phủ ít đi thông
qua việc tăng thu từ thuế hoặc giảm chi tiêu hoặc kết hợp cả 2. Việc này
sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách ít đi hoặc thặng dư ngân sách lớn lên so
với trước đó, hoặc thặng dư nếu trước đó có ngân sách cân bằng.


Chính sách tài khoá "cãi" chính sách tiền tệ?
06:19' 17/11/2005 (GMT+7)
(VietNamNet) - Chính sách tiền tệ vẫn thắt chặt trong khi chính sách tài khoá
lại nới lỏng khiến áp lực lạm phát và lãi suất dâng cao. Đó là lý do chính
khiến các chuyên gia cho rằng, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính lệch
pha nhau trong việc điều hành chính sách tài chính - tiền tệ.
Tại cuộc hội thảo khoa học về Tăng cường hiệu quả phối hợp giữa chính sách
tiền tệ và chính sách tài khóa ở Việt Nam vừa được tổ chức tại Hà Nội, nhiều ý
kiến đã cho rằng, hai chính sách quan trọng này của Việt Nam vẫn chưa được
nhịp nhàng với nhau. Thậm chí, có chuyên gia còn cho rằng, trong tình hình nguy
cơ lạm phát như hiện nay, hai chính sách này cũng không đồng nhất trong mục
tiêu hướng tới. Chính sách tiền tệ vẫn bị thắt chặt trong khi chính sách tài khoá
lại nới lỏng khiến áp lực lạm phát vẫn cao và lãi suất cũng cao.

Người thắt - kẻ nới

Ông Lê Xuân Nghĩa - Vụ trưởng Vụ chiến lược phát triển của Ngân hàng Nhà
nước - cho rằng, thời gian qua, với mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế nên chính
sách tài khoá nới lỏng đã được Chính phủ áp dụng, đặc biệt trong thời kỳ suy
thoái kinh tế 1998-2001. Đây là một trong những nguyên nhân gây áp lực tăng lạm
phát vào cuối năm 2003 và đầu năm 2004.

Tuy nhiên, chính sách tiền tệ lại được thắt chặt nhằm kiểm soát lạm phát như
tăng dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất tái chiết khấu, tăng các lãi suất chỉ đạo khác...
Việc sử dụng chính sách tiền tệ thận trọng đã góp phần kiềm chế lạm phát ở
mức một con số. Nhưng theo ông Nghĩa, cái giá nền kinh tế phải trả là lãi suất
cao và lạm phát cao trong điều kiện cố gắng đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao
như dự kiến


Cũng theo ông Nghĩa, sự phối hợp chưa đồng điệu cũng gây ra nhiều ảnh hưởng
khác.
Chính sách tài khoá và chính sách tiền Chẳng hạn, để đạt được mục tiêu huy
tệ động vốn phục vụ cho các mục đích
của Chính phủ (trong đó có bù đắp thâm
Về cơ bản, chính sách tài khoá là chính hụt ngân sách), thông thường lãi suất
sách thu chi của Chính phủ hay còn gọi trái phiếu thường cao hơn lãi suất huy
là chính sách ngân sách. động của các ngân hàng thương mại.
Điều này đã làm cho luồng tiền vốn
Còn chính sách tiền tệ là việc thực hiện dịch chuyển từ khu vực dân cư và doanh
tổng thể các biện pháp, sử dụng các nghiệp vào trái phiếu để hưởng lợi và
công cụ của Ngân hàng Trung ương đương nhiên đầu tư phát triển kinh
nhằm góp phần đạt được các mục tiêu doanh của khu vực kinh tế tư nhân sẽ
của chính sách kinh tế vĩ mô thông qua giảm xuống.
việc chi phối dòng chu chuyển tiền và
khối lượng tiền. Thêm vào đó, hàng năm Ngân hàng
Trung ương vẫn phải cung ứng lượng
Trên thực tế, người ta thường hiểu rằng tiền không nhỏ cho Ngân sách Nhà
chính sách tài khoá do Bộ Tài chính chịu nước mà theo quy định "khoản tạm ứng
trách nhiệm thực hiện còn chính sách này phải hoàn trả trong năm ngân sách".
tiền tệ do Ngân hàng Nhà nước điều Nhưng thực tế, nó đã không được hoàn
hành. trả đúng hạn và việc cho vay như vậy
đã dẫn tới lượng tiền cơ sở tăng và kết
Một vấn đề quan trọng là cơ chế phối quả gây áp lực tăng lạm phát.
hợp giữa hai chính sách mà cụ thể là hai
cơ quan điều hành với nhau như thế nào Ông Nguyễn Ngọc Bảo - Phó Vụ
để góp phần ổn định giá cả và tăng trưởng Vụ Chính sách tiền tệ - thì băn
trưởng kinh tế. khoăn là hai cơ quan này chưa phối hợp
tốt trong việc trao đổi thông tin điều
hành. Việc phối hợp về lãi suất cũng
chưa hợp lý. Lãi suất tín phiếu kho bạc lẽ ra phải thấp nhất trên thị trường,
nhưng trên thực tế nó lại mang tính chỉ đạo của Bộ Tài chính, cao hơn hoặc bằng
lãi suất huy động của các ngân hàng, chưa thành lãi suất chuẩn cho thị trường tiền
tệ...

Ngân hàng Nhà nước không kiểm soát được các dòng luân chuyển tiền

Trong bài tham luận của mình, TS Nguyễn Đại Lai - Vụ Chiến lược phát triển
ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước - cũng nhận định rằng công nghệ thanh toán nói
chung và hệ thống thanh toán liên ngành giữa Ngân hàng và Tài chính nói riêng còn
quá rời rạc.

Ông Lai chứng minh rằng, tại khoản 3 (Điều 34 của Luật Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam năm 1997) ghi: "Ngân hàng Nhà nước mở tài khoản và thực hiện các
giao dịch cho Kho bạc Nhà nước. Ở huyện, thị xã không phải là tỉnh lỵ, Kho bạc
Nhà nước mở tài khoản tại một ngân hàng thương mại Nhà nước". Đây là một
ràng buộc pháp lý ở cấp Luật, nhưng cách diễn đạt như vậy đã không phản ánh
được tính chất nghiêm ngặt của luật pháp mà chỉ làm cho các bên thực hiện hiểu
đây là một qui định phản ánh trách nhiệm của Ngân hàng Trung ương hơn là buộc
Kho bạc Nhà nước phải mở tài khoản và thanh toán qua hệ thống Ngân hàng Nhà
nước.

Vì vậy, trên thực tế các dòng luân chuyển tiền và qui chế mở tài khoản của Kho
bạc Nhà nước qua hệ thống ngân hàng còn mang nặng tính chia cắt và tuỳ tiện.
Việc mở tài khoản hiện tại của kho bạc chỉ để thanh toán chuyển khoản những
món nợ nần giữa kho bạc, hoặc giữa các quĩ của Nhà nước với các bên liên quan
hơn là để Ngân hàng Nhà nước kiểm soát việc luân chuyển tiền tệ trong nền kinh
tế.

Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đến nay vẫn chưa thành lập được
trung tâm thanh toán quốc gia nên Kho bạc Nhà nước vẫn phải xây "kho" chứa
tiền theo đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từ này. "Tình trạng "vừa đá bóng,
vừa thổi còi" của Kho bạc Nhà nước đối với một khối lượng tiền khổng lồ của
quốc gia luôn tương đương với tổng thu ngân sách hàng năm cộng với các nguồn
vay trong và ngoài nước của Chính phủ đạt tới doanh số trên dưới 33% GDP trên
hệ số quay vòng tiền tệ quân bình của kho bạc đã làm biến đổi môi trường lưu
thông tiền tệ theo hướng phi thị trường hoá", ông Lai nhận xét.

Riêng thị phần tín dụng cho đầu tư phát triển từ khu vực ngân sách Nhà nước và
các "Quỹ" tài chính nhà nước ngoài ngân sách đã chiếm tới hơn 30% tổng đầu tư
toàn xã hội trong những năm vừa qua. Đó là chưa kể, phần tín dụng chính sách,
phần vốn nhà nước ở khu vực các doanh nghiệp nhà nước, các ngân hàng quốc
doanh và phần bù lãi suất cho tín dụng chính sách ưu đãi hàng năm cũng ngày càng
gia tăng. Luật pháp điều chỉnh không thống nhất đã làm chia cắt và rối loạn thị
trường tài chính.

Ngoài ra, với qui mô luân chuyển và sử dụng khối lượng tiền lớn như vậy, nếu
không đi qua một trung tâm thanh toán thống nhất "một cửa" của hệ thống thanh
toán quốc gia do Ngân hàng Trung ương quản lý thì tất yếu sẽ dẫn đến những rủi
ro không đáng có và gây ảnh hưởng rất lớn đến việc điều hành chính sách tiền tệ
của Ngân hàng Trung ương. Ông Lai cho rằng, chính sách cung ứng, chính sách tỷ
giá, chính sách lãi suất do đó không thể tránh được sự ảnh hưởng xấu trực tiếp
đến mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền, đến khả năng kiểm soát lạm phát.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản