Cho vay ngắn hạn của Ngân hàng thương mại

Chia sẻ: bahoang

Cho vay ngắn hạn là những khoản vay có thời hạn là 12 tháng. Trong nền kinh tế thị trường, Ngân hàng thương mại (NHTM) có thể cho khách vay ngắn hạn dưới các hình thức sau:

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Chủ đề liên quan:

 

Nội dung Text: Cho vay ngắn hạn của Ngân hàng thương mại

Cho vay ngắn hạn của Ngân hàng thương mại

Cho vay ngắn hạn là những khoản vay có thời hạn là 12 tháng.

Trong nền kinh tế thị trường, Ngân hàng thương mại (NHTM) có thể cho khách vay
ngắn hạn dưới các hình thức sau:

1.Cho vay bổ sung vốn lưu động thiếu:

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nếu khách hàng phát sinh nhu cầu bổ sung vốn
lưu động thì ngân hàng sẽ giải quyết cho vay. Tiền vay phát sinh ra theo đúng đối
tượng theo phương án sản xuất – kinh doanh của khách hàng.

Quy trình cho vay như sau:

a) Khách hàng lập và nộp hồ sơ vay vốn đến ngân hàng. Hồ sơ vay vốn gồm các giấy
tờ sau:

- Giấy đề nghị vay vốn (theo đúng mẫu quy định của ngân hàng)

- Giấy phép thành lập, giấy phép kinh doanh do cơ quan có đủ thẩm quyền cấp.
Các báo cáo tài chính như: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, phân
tích thu, chi tài chính … của kỳ gần nhất so với ngày xin vay và được lập theo đúng
pháp lệnh kế toán, thống kê của Nhà nước.

- Phương án sản xuất kinh doanh: Trong phương án phải tính toán được hiệu quả kinh
tế và xác định được nguồn để trả nợ ngân hàng. Đồng thời phải có sự chấp thuận của
cơ quan chủ quản (nếu có).

- Các tài liệu chứng minh tính hợp pháp và giá trị các tài sản đảm bảo nợ vay: Khách
hàng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợp pháp của các tài
liệu gửi cho ngân hàng. Trường hợp ngân hàng cho vay theo phương thức cho vay theo
hạn mức tín dụng, khách hàng chỉ làm hồ sơ vay vốn lần đầu, còn những lần vay sau,
khách hàng phải gửi đến cho ngân hàng các giấy tờ thanh toán, chứng từ hàng hóa, hợp
đồng kinh tế.

b) Ngân hàng thẩm định hồ sơ vay vốn và quyết định cho vay:

Nhận được hồ sơ vay vốn của khách hàng gửi tới, ngân hàng tiến hành thẩm định hồ
sơ đó.

- Ngân hàng xây dựng quy trình xét duyệt cho vay theo nguyên tắc đảm bảo tính độc
lập và phân định rõ trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm liên đới giữa khâu thẩm định tính
khả thi, hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh và khả năng hoàn trả nợ vay.
- Thẩm định hồ sơ vay vốn là quá trình xem xét, phân tích các thông tin, số liệu đã thu
thập trong hồ sơ của khách hàng. Mục đích của thẩm định trước khi cho vay là xác
định giới hạn an toàn của quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng vay vốn.
Người ta còn gọi là thẩm định phương án cho vay và theo dõi xử lý nợ, các NHTM cần
tranh thủ tối đa sự giúp đỡ của Trung tâm thông tin phòng ngừa rủi ro của toàn hệ
thống ngân hàng.

Nội dung công việc thẩm định hồ sơ vay vốn, ngân hàng có thể phân tích,đánh giá trên
nhiều mặt, bằng nhiều chỉ tiêu, nhưng chủ yếu là làm rõ các mặt sau đây:
+ Năng lực sản xuất kinh doanh (quy mô hoạt động, khả năng công nghệ, kỹ thuật sản
xuất kinh doanh) của khách hàng trên thương trường và các quan hệ bạn hàng của
khách hàng.

+ Thực trạng tài chính của khách hàng như công nợ, kết quả kinh doanh kỳ trước, mức
tích lũy vốn, số thực có của vốn lưu động tự có của khách hàng tham gia phương án
sản xuất kinh doanh. Số liệu kế hoạch thu chi tài chính, chỉ tiêu tổng doanh thu ghi
trong phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng. Qua những chỉ tiêu này, ngân
hàng đưa ra kết luận về số tiền có thể cho vay hoặc mức dự nợ tối đa (hạn mức tín
dụng), tiến độ giải ngân, thu nợ tiền vay sao cho phù hợp với khả năng thực tế và chu
kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng.

+ Xem xét về đảm bảo tiền vay. Nếu khoản vay phải có tài sản đảm bảo thì ngân
hàng phải đánh giá về các điều kiện của tài sản thế chấp, cầm cố, tính hợp pháp, sô
slượng và xác định giá trị của tài sản thế chấp, cầm cố theo đúng Pháp luật của Nhà
nước. các giấy tờ sở hữu tài sản thế chấp, cầm cố phải được xác nhận của cơ quan
công chứng nhà nước và thẩm định kỹ để biết được mức độ tin cậy của các giấy tờ
đó. Trên cơ sở này ngân hàng mới phán quyết cho vay được chính xác. Theo quy định,
Ngân hàng nhận thế chấp cầm cố không được quyền sơ hữu tài sản mà chỉ giữ các
giấy tờ sở hữu tài sản (bản gốc) hoặc là bảo quản những tài sản gọn nhẹ (kim loại
quý, đá quý, hàng hóa đặc chủng, giấy tờ có giá …)

Trong khoảng thời gian quy định, kể từ khi ngân hàng nhận được đầy đủ hồ sơ vay
vốn hợp lệ và thông tin cần thiết của khách hàng theo yêu cầu của ngân hàng, ngân
hàng phải thẩm định xong hồ sơ vay vốn, quyết định và thông báo việc cho vay hoặc
không cho vay ngân hàng phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản, trong đó nêu rõ
căn cứ từ chối cho vay.

Trường hợp ngân hàng quyết định cho vay, giữa ngân hàng và khách hàng vay thỏa
thuận một số điều khoản về tài sản cầm cố, thế chấp như quyền sử dụng, lưu giữ
giấy tờ sở hữu, bảo quản, tổng giá trị, thời hạn thế chấp, cầm cố … Đối với những
tài sản cầm cố, thế chấp phức tạp, giá trị lớn ,thì giữa khách hàng và ngân hàng phải
ký hợp đồng cầm cố, thế chấp.

c) Ngân hàng xác định các chỉ tiêu cho vay và ký kết hợp đồng tín dụng với khách hàng.
Khi ngân hàng quyết định cho vay và hợp đồng thế chấp, cầm cố đã được ký kết giữa
ngân hàng và khách hàng vay, ngân hàng tiến hành xác định các chỉ tiêu cho vay

- Mức cho vay là mức tiền ngân hàng có thể cho vay cao nhất đối với phương pháp cho
vay từng lần hoặc là mức dư nợ tối đa đối với phương pháp cho vay theo hạn mức tín
dụng.

- Căn cứ để ngân hàng xác định mức cho vay là:

+ Nhu cầu vay vốn của khách hàng

+ Tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sản làm đảm bảo tiền vay theo quy định của
Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng trung ương.

+ Khả năng nguồn vốn của ngân hàng

+ Khả năng trả nợ của khách hàng.

+ Giới hạn cho vay tối đa của ngân hàng đối với một khách hàng.

Trong đó:

- Tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sản làm đảm bảo. Tùy theo pháp luật của mỗi
nước và quy định của ngân hàng cho vay, nên tỷ lệ này có khác nhau. Quy chế cho vay
hiện hành ở Việt Nam quy định: Mức cho vay tối đa không vượt quá 70% giá trị của tài
sản thế chấp hay cầm cố.

VD: Khách hàng xin vay 20 trđ, thời hạn xin vay 3 tháng, tiền vay được giải ngân gọn
1 lần. Khách hàng có đủ tài sản thế chấp cho khoản vay trên.
Căn cứ vào ví dụ trên, ngân hàng xem xét:

- Nhu cầu vay vốn của khách hàng: 20 trđ

20 tr x 100
Giá trị tài sản đảm bảo = ------------------ = 28,57 trđ
70

Như vậy, nếu các căn cứ khác chấp nhận được, thì giá trị tài sản đảm bảo tiền vay
của khách hàng tối thiểu là 28,57 triệu, ngân hàng mới cho vay là 20 triệu đồng.

- Thời hạn cho vay: Căn cứ vào kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay và khả năng trả
nợ của khách hàng, thời hạn cho vay ngắn hạn tối đa là 12 tháng.

- Lãi suất cho vay, đối với những nước mà NHTM có quyền quyết định lãi suất kinh
doanh, thì NHTM sẽ ấn định mức lãi suất cho vay của từng khoản cho vay ngắn hạn.
Ở Việt Nam hiện nay, các NHTM xác định lãi suất cho vay không vượt quá lãi suất
trần cho vay ngắn hạn của NHTW quy định trong từng thời kỳ.

Sau khi xác định các chỉ tiêu trên, giữa ngân hàng và khách hàng vay cần thỏa thuận
thống nhất và ký kết hợp đồng tín dụng.

d) Mở tài khoản cho vay và phát tiền vay.

Sau khi đã duyệt cho vay, ngân hàng mở cho mỗi khách hàng vay một tài khoản cho
vay để hạch toán tiền cho vay và thu nợ (nếu khách hàng vay chưa có tài khoản cho
vay).

Căn cứ vào hợp đồng tín dụng và tiến độ thực hiện phương án sản xuất kinh doanh
của khách hàng (có phát sinh nhu cầu vốn thực tế) ngân hàng phát triển tiền vay. Đối
với khách hàng vay luân chuyển trong phạm vi hạn mức tín dụng đã xác định, từng lần
vay vốn khách hàng đi vay phải gửi đến cho ngân hàng các chứng từ hàng hóa, các
giấy tờ thanh toán hay hợp đồng kinh tế và trên cơ sở đó ngân hàng cho vay đáp ứng
các nhu cầu vay vốn của khách hàng trong khả năng nguồn vốn cho phép.

Ngân hàng cho vay có thể phát tiền cho khách vay theo các cách:
- Tiền vay được chuyển trả trực tiếp cho đơn vị cung cấp vật tư, hàng hóa hoặc dịch
vụ cho khách hàng.

- Trường hợp khách hàng vay đã dùng nguồn vốn khác để trả cho người cung cấp
hoặc nếu người cung cấp không có tài khoản tai ngân hàng thì chuyển vào tài khoản
tiền gửi của khách hàng.

- Phát bằng ngân phiếu hoặc tiền mặt cho khách hàng.

e) Thu nợ:

- Việc thu nợ được tiến hành theo kỳ hạn nợ đã ghi trong hợp đồng tín dụng. Khách
hàng có thể trả nợ trước hạn và phải chủ động trả nợ ngân hàng khi đến hạn. Khách
hàng không trả được nợ đến hạn, ngân hàng có thể xử lý theo bốn trường hợp sau:

Một là, do nguyên nhân khách quan, khách hàng có văn bản giải trình xin gia hạn, ngân
hàng có thể xét cho gia hạn. Theo quy định quy chế cho vay hiện hành thời hạn được
gia hạn tối đa bằng một chu kỳ sản xuất kinh doanh của đối tượng cần gia hạn nợ.
Riêng đối với trường hợp khó khăn do Nhà nước thay đổi chủ trương chính sách hoặc
nguyên nhân bất khả kháng thì thời hạn tối đa không quá 12 tháng.

Hai là, do nguyên nhân chủ quan, ngân hàng sẽ chuyển sang nợ quá hạn và phạt theo
mức lãi suất nợ quá hạn. Theo quy định hiện hành, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi
suất trần cùng loại cho vay.
Ba là, nếu không có các thỏa thuận trên thì ngân hàng có quyền bán (phát mại) tài sản
thế chấp, cầm cố để thu hồi nợ. Việc chuyển nhượng, bán tài sản thế chấp, cầm cố
để thu hồi trong một thời hạn nhất định theo quy định của pháp luật.

Bốn là, nếu ba trường hợp trên hai bên không thỏa thuận để giải quyết được, ngân
hàng sẽ khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng.

g) Lãi tiền vay:

- Việc tính lãi và thu lãi được tiến hành hàng tháng hoặc thu một lần cùng với nợ gốc
tùy theo kỳ hạn nợ thích hợp. Trường hợp cho vay theo hạn mức thì việc tính lãi và thu
lãi được thực hiện hàng tháng, vào ngày cuối tháng. Nếu khách hàng vay chưa trả
được lãi khi đến hạn thì ngân hàng tính và hạch toán vào tài khoản ngoại bảng để thu
dần, không nhập lãi vào nợ gốc. Trường hợp khách hàng vay có khó khăn về tài chính
do nguyên nhân khách quan thì Tổng giám đốc (giám đốc) ngân hàng cho vay có thể
quyết định cho giảm hoặc miễn lãi đối với khách hàng vay. Việc giảm hoặc miễn lãi
cho khách hàng vay tùy thuộc vào khả năng tài chính của từng ngân hàng cho vay.

2 Bảo lãnh

2.1 Bảo lãnh:

Bảo lãnh là sự cam kết của người nhận bảo lãnh sẽ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và
quyền lợi nếu người được bảo lãnh không thực hiện đúng và đủ những cam kết đối
với bên yêu cầu bảo lãnh.

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động bảo lãnh rất phong phú và đa dạng. Nếu căn
cứ vào chủ thể bảo lãnh thì có các loại bảo lãnh sau:

- Bảo lãnh của Nhà nước (chủ yếu là Bộ tài chính và Ngân hàng trung ương đối với
các doanh nghiệp).

- Bảo lãnh của công ty mẹ với công ty con.
- Bảo lãnh của NHTM đối với các khách hàng vay vốn.
- ……..

Sau đây sẽ đi sau vào nghiệp vụ Bảo lãnh của NHTM đối với khách hàng vay vốn.

a) Ngân hàng bảo lãnh:

Ngân hàng bảo lãnh là các NHTM quốc doanh, NHTM cổ phần, ngân hàng liên doanh
và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài. (trường hợp đặc biệt, NHTW sẽ tham gia bảo
lãnh khi được Chính phủ chỉ định).

b) Điều kiện đối với khách hàng xin bảo lãnh.
- Có tư cách pháp nhân

- Có văn bản thỏa thuận ban đầu hoặc hợp đồng liên quan đến việc bảo lãnh.

- Hoạt động kinh doanh có lãi.

- Không có nợ quá hạn với ngân hàng, có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng và thanh
toán.

- Có đủ tài sản đảm bảo hợp pháp cho bảo lãnh.

c) Quy trình bảo lãnh:

Một là: Khách hàng gửi hồ sơ xin bảo lãnh đến ngân hàng.

Hồ sơ xin bảo lãnh bao gồm các tài liệu sau đây:

- Đơn xin bảo lãnh vay vốn.

- Văn bản thỏa thuận hoặc hợp đồng và các tài liệu có liên quan đến bảo lãnh vay vốn.

- Giấy phép xuất nhập khẩu (đối với trường hợp bảo lãnh có liên quan)

- Danh mục tài sản thế chấp, cầm cố.

Hai là, Ngân hàng bảo lãnh thẩm định hồ sơ xin bảo lãnh.

Nhận được hồ sơ xin bảo lãnh của khách hàng, ngân hàng tiến hành thẩm định hồ sơ
đó, trên 2 mặt chủ yếu:

- Các điều kiện bảo lãnh của khách hàng đã hội tụ đầy đủ và thỏa mãn quy chế về
nghiệp vụ bảo lãnh chưa ?

- Tài sản thế chấp, cầm cố cho bảo lãnh đã đủ các tiêu chuẩn chưa ?

Việc thẩm định tài sản cầm cố, thế chấp giống như loại cho vay mục 1.1

Ba là, Ngân hàng xác định hai chỉ tiêu chủ yếu là mức tiền bảo lãnh và thời hạn bảo
lãnh.

- Mức tiền bảo lãnh: Căn cứ để ngân hàng bảo lãnh xác định mức tiền bảo lãnh là:

+ Nhu cầu bảo lãnh của khách hàng

+ Giá trị tài sản thế chấp cầm cố
+ Mức tiền bảo lãnh tối đa so với quỹ bảo lãnh.

Ở Việt Nam, quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh hiện hành quy định: Mức tiền bảo lãnh
tối đa không quá 20 lần số tiền của quỹ bảo lãnh.

- Thời hạn bảo lãnh được xác định căn cứ vào thời hạn thực hiện từng nghĩa vụ đã
đựoc các bên tham gia thỏa thuận phải được bên bảo lãnh chấp thuận bằng văn bản.

- Phí bảo lãnh: Ngân hàng bảo lãnh thu phí bảo lãnh theo chế độ hiện hành. Ở Việt
Nam hiện nay, mức phí quy định tối đa là 1%/năm tính trên số tiền đang còn được bảo
lãnh.

Việc bảo lãnh vay vốn được thực hiện dưới hình thức thư bảo lãnh hay gọi là văn bản
chấp thuận bảo lãnh do bên bảo lãnh phát hành, để chuyển tới ngân hàng cho vay.

Bốn là: Ngân hàng cho vay xét duyệt cho vay trên cơ sởvăn bản chấp thuận bảo lãnh
của bên bảo lãnh.

Sau khi xem xét các điều kiện, ngân hàng cho vay xác định một mức tiền cho vay và
thời hạn cho vay phù hợp với nội dung ghi tỏng thư bảo lãnh. Ngân hàng cho vay và
khách hàng đi vay ký kết hợp đồng tín dụng, làm các thủ tục cấp phát tiền vay.

Năm là: Thu nợ, thu lãi:

- Khách hàng vay phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ (bao gồm gốc và lãi) đã cam
kết với ngân hàng cho vay. Khi khách hàng đã trả nợ xong, ngân hàng bảo lãnh phải
trao trả đầy đủ tài sản thế chấp, cầm cố cho khách hàng được bảo lãnh.

- Trường hợp khách hàng vay không trả được nợ, bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trả
nợ thay. Trường hợp này khách hàng được bảo lãnh phải chịu phạt theo mức lãi suất
nợ quá hạn. Sau đó bên bảo lãnh sẽ phát mại tài sản thế chấp, cầm cố để thu hồi số
tiền đã trả thay.

2.2 Đồng bảo lãnh

Trong những thương vụ lớn, khả năng rủi ro vượt quá khả năng về vốn của một ngân
hàng, mặt khác để phân tán rủi ro thì nhiều ngân hàng đứng ra bảo lãnh.
Như vậy, đồng bảo lãnh là việc bảo lãnh của một nhóm các tổ chức tín dụng (từ 2 trở
lên) cho một dự án do một tổ chức tín dụng làm đầu mối phối hợp với các bên bảo
lãnh để thực hiện, nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của khách hàng và của tổ chức tín dụng.

3 Cho vay chiết khấu chứng từ có giá

Chứng từ có giá là những phương tiện chuyển tải và dự trữ giá trị, do những đơn vị
được phép phát hành hợp pháp như: Kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, thương phiếu …
Những chứng từ này được luật pháp thừa nhận. Chúng được coi là tài sản của những
người sở hữu. Khi chưa đến hạn thanh toán, người sở hữu chúng có thể mang chúng
đến bán tại NHTM. Việc mua các chứng từ chưa đến hạn thanh toán của khách hàng
được gọi là nghiệp vụ chiết khấu.

Như vậy, chiết khấu chứng từ có giá là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn được thực
hiện dưới hình thức chuyển nhượng quyền sở hữu chứng từ cho ngân hàng để nhận
một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi mức triết khấu.

3.1 Điều kiện chiết khấu

- Chứng từ có giá phải do các đơn vị được phép phát hành hợp pháp.

- Chứng từ có giá còn thời hạn thanh toán phù hợp với thời hạn chiết khấu ngân hàng
quy định.

- Chứng từ có giá phải được phép chuyển nhượng mua bán.

3.2 Quy trình chiết khấu

a) Thủ tục chiết khấu

- Khách hàng lập và nộp hồ sơ xin chiết khấu. Khi có nhu cầu chiết khấu chứng từ có
giá, khách hàng phải lập hồ sơ xin chiết khấu để gửi lên ngân hàng. Hồ sơ xin chiết
khấu bao gồm: Đơn xin chiết khấu, bản gốc chứng từ có giá, bảng kê các chứng từ
xin chiết khấu và cá tài liệu khác có liên quan đến nghiệp vụ chiết khấu.

- Ngân hàng thẩm định hồ sơ xin chiết khấu. Ngân hàng tiến hành kiểm tra các điều
kiện chiết khấu. Ngân hàng trả lời ngay cho khách hàng biết những chứng từ được
chấp nhận chiết khấu.

- Mức chiết khấu: Mức chiết khấu bằng 80% - 120% mức sinh lời của chứng từ chiết
khấu, trong phạm vi thời hạn hiệu lực còn lại của chứng từ. Trường hợp chứng từ
không ghi rõ lãi suất, thì ngân hàng lấy lãi suất của chứng từ tại thời điểm xin chiết
khấu để xác định mức sinh lời của chứng từ.

+ Nếu chứng từ có lãi suất được trả lãi trước:

Lãi chiết khấu = Mệnh giá chứng từ x Thời hạn chiết khấu x Lãi suất chiết khấu
Lãi chiết (Mệnh giá X lãi chứng Thời hạn chiết
= x x Lãi suất chiết khấu
khấu chứng từ từ ) khấu


Trong một số trường hợp, ngân hàng thực thi nghiệp vụ này còn thu hoa hồng phí.
+ Hoa hồng phí là các chi phí cho nghiệp vụ chiết khấu mà khách hàng phải trả cho
ngân hàng. Nó cũng được xác định khác nhau tùy theo chứng từ đó được trả lãi trước
hay trả lãi sau hoặc được quy định cố định cho nghiệp vụ chiết khấu.

Nếu chứng từ được trả lãi trước:

Hoa hồng phí = Mệnh giá chứng từ x Thời hạn chiết khấu x Tỷ lệ hoa hồng phí
Nếu chứng từ được trả lãi sau:

(Mệnh giá X lãi chứng Thời hạn chiết
Hoa hồng phí = x x Tỷ lệ hoa hồng phí
chứng từ từ ) khấu


Thời hạn chiết khấu được tính riêng cho từng loại chứng từ trong phạm vi thời hạn
hiệu lực còn lại, nhưng tối đa không quá 90 ngày.

Đối với những chứng từ có mệnh giá nhỏ, thời hạn chiết khấu ngắn, mức chiết khấu
ngân hàng được xác định quá thấp không đủ bù đắp các chi phí chiết khấu của ngân
hàng, thì khi chiết khấu ngân hàng có thể quy định thu theo mức tối thiểu.

- Ngân hàng xác định số tiền cho vay. Sau khi đã xác định được mức chiết khấu, ngân
hàng sẽ xác định số tiền cho vay khi ngân hàng xin chiết khấu. Nói chung, số tiền ngân
hàng cho khách hàng vay (hay trả cho khách hàng) là:

Số tiền phải trả cho khách Tổng số mệnh giá Tổng số mức chiết
= -
hàng chứng từ khấu


VD1: doanh nghiệp A có tín phiếu kho bạc với mệnh giá là 50 trđ, lãi suất tín phiếu là
12%.năm. Thời hạn hiệu lực còn lại của tín phiếu là 75 ngày. Doanh nghiệp xin chiết
khấu là 2%/tháng. Hai bên thỏa thuận mức chiết khấu bằng 80% mức sinh lời.

Tổng số tiền ngân hàng cho vay được tính như sau:

- Mức sinh lời của chứng từ trong 2 tháng:

12%
50 tr x ------ X 2 = 1 trđ
12
- Lãi chiết khấu:

1 tr x 80% = 0,8 tr đ

- Ngân hàng cho doanh nghiệp A vay là:
50 tr – 0,8 tr = 49,2 tr đ


VD2: Doanh nghiệp B mang thương phiếu có mệnh giá 100 trđ đến ngân hàng xin
chiết khấu. Thời hạn hiệu lực còn lại của thương phiếu là 3 tháng. Doanh nghiệp xin
chiết khấu toàn bộ thời gian còn lại của chứng từ. Hai bên thỏa thuận lãi suất chiết
khấu (dựa vào lãi suất cho vay ngắn hạn hiện hành) là 1,2%/ tháng.

Hoa hồng phí chiết khấu là 0,1% cho khoản chiết khấu trên.

Tổng số tiền ngân hàng cho doanh nghiệp B vay được tính như sau:

- Lãi suất chiết khấu:

100 tr x 1,2% x 3T = 3,6 trđ

- Hoa hồng chiết khấu:

100 tr x 0,1% = 0,1 trđ

- Ngân hàng cho doanh nghiệp B vay:

100 tr – 3,6 tr – 0,1 tr = 96,3 tr đ

b) Ngân hàng phát tiền vay:

Số tiền cho vay là số tiền ngân hàng trả cho khách hàng chiết khấu. Số tiền này được
chuyển vào tài khoản tiền gửi cho khách hàng hoặc trả trực tiếp bằng tiền mặt hay trả
bằng ngân phiếu thanh toán.
Khi phát tiền vay, ngân hàng yêu cầu khách hàng chiết khấu phải ký chuyển nhượng
vào chứng từ có giá chiết khấu.

c) Thu nợ:

Hết thời hạn chiết khấu, ngân hàng trích tài khoản tiền gửi hoặc yêu cầu khách hàng
chiết khấu nộp tiền mặt bằng số tiền xin chiết khấu để trả nợ đồng thời làm thủ tục
trả lại chứng từ chiết khấu cho khách hàng. Trường hợp đến hạn, khách hàng không
có tiền để trả nợ thì ngân hàng xử lý như sau:

- Chứng từ có giá không chuyển nhượng được thì ngân hàng chuyển số nợ trên sang
nợ qua hạn và xử lý như trường hợp nợ cho vay quá hạn.

- Chứng từ chuyển nhượng được, ngân hàng sẽ làm thủ tục đưa đến đơn vị phát hành
để thanh toán và thu hồi nợ khi chứng từ đó đến hạn thanh toán.
4. Nghiệp vụ thấu chi.

Thấu chi là một nghiệp vụ cho vay ngắn hạn bổ sung vốn lưu động nhằm cân đối
ngân quỹ hàng ngày trên tài khoản vãng lai của khách hàng.

Nghiệp vụ thấu chi được thực hiện bằng cách cho phép khách hàng được dư nợ tài
khoản vãng lai một số lượng tiền nhất định và trong một thời gian nhất định.
Quy trình nghiệp vụ thấu chi:

+ Khách hàng và ngân hàng ký hợp đồng tín dụng, trên hợp đồng này phải thỏa thuận
được hạn mức tín dụng, thời hạn vay, lãi suất vay, đảm bảo tiền vay (nếu có), hướng
sử dụng tiền vay …

+ Tài khoản sử dụng là tài khoản vãng lai.

Tài khỏa vãng lai là tài khoản mà ngân hàng mở cho khách hàng để ghi chép nghiệp vụ
gửi tiền và rút tiền của khách hàng. Khi rút tiền lớn hơn gửi tiền (tức là tài khoản vãng
lai dư nợ) thể hiện nghiệp vụ thấu chi.

+ Ghi chép và hạch toán:

Ngày xuất, nhập là ngày ghi chép các nghiệp vụ phát sinh. Căn cứ vào ngày phát sinh
nghiệp vụ để xác định “ngày giá trị” . Căn cứ vào “ngày giá trị” tổng dư nợ và tổng dư
có được xác định, đó là cơ sở để tính lãi.

+ Lãi suất:

Hai loại số dư nợ và có được tính riêng sau đó bù trừ. Nếu dư nợ và dư có áp dụng
cùng một lãi suất gọi là “lãi suất qua lại”.

Nếu lãi suất dư có nhỏ hơn lãi suất dư nợ gọi là “lãi suất chênh lệch”. Nếu áp dụng
lãi suất cố định trong một thời gian dài gọi là “lãi suất bất biến”.
Ngoài phần lãi phải trả, khách hàng còn phải trả một số khoản phí như phí quản lý tài
khoản, hoa hồng phí, phí tất toán …

+ Thu nợ: Mỗi lần khách hàng có thu, hạch toán vào bên có tài khoản vãng lai, coi như
khách hàng trả nợ ngân hàng.

Ngân hàng luôn kiểm tra số dư nợ để không vượt quá hạn mức và thời gian sử dụng
mà khách hàng đã ký trong Hợp đồng tín dụng. Trường hợp xuất hiện khả năng thanh
toán yếu ở khách hàng, ngân hàng sẽ hạn chế và có thể đình chỉ cho vay.
Mọi trường hợp không thanh toán được nợ đúng hạn, khách hàng đều bị xử lý như các
trường hợp nợ quá hạn khác.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản