Cho vay tiêu dùng

Chia sẻ: Sieunhan Babe | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:13

3
1.693
lượt xem
899
download

Cho vay tiêu dùng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiên, đồ dùng gia đình…Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch…cũng có thể được tài trợ bởi CVTD

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Cho vay tiêu dùng

  1. CHO VAY TIÊU DÙNG I. Khái niệm cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiên, đồ dùng gia đình…Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch…cũng có thể được tài trợ bởi CVTD II. Đặc điểm cho vay tiêu dùng - Quy mô của từng hợp đồng vay thường nhỏ, dẫn đến chi phí tổ chức cho vay cao, vì vậy lãi suất CVTD thường cao hơn so với lãi suất của các loại cho vay trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp - Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế - Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng hầu như ít co giãn với lãi suất. Thông thường, người đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu - Mức thu nhập và trình độ học vấn là hai biến số có quan hệ rất mật thiết tới nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng - Chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng vay thường không cao - Nguồn trả nợ chủ yếu của người đi vay có thể biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của những người này - Tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định song lại rất quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay III. Lợi ích của cho vay tiêu dùng • Đối với ngân hàng Ngoài hai nhược điểm chính là rủi ro và chi phí cao, CVTD có những lợi ích quan trọng như: - Giúp mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khả năng huy động các loại tiền gửi cho NH - Tạo điều kiện đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, nhờ vậy nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho NH • Đối với người tiêu dùng - Được hưởng các tiện ích trước khi tích luỹ đủ tiền và đặc biệt là đối với các khoản chi tiêu có tính cấp bách, như nhu cầu chi tiêu cho giáo dục và y tế. - Đối với thế hệ trẻ và người thu nhập thấp, Tín dụng tiêu dùng giúp họ có được một cuộc sống ổn định ngay từ khi còn trẻ, bằng
  2. việc mua trả góp những gì cần thiết, tạo cho họ động lực to lớn để làm việc, tiết kiệm, nuôi dưỡng con cái Tuy nhiên, nếu lạm dụng thì CVTD rất tai hại vì nó có thể làm cho người đi vay chi tiêu vượt quá mức cho phép, làm giảm khả năng tiết kiệm và chi tiêu trong tương lai, nghiêm trọng hơn thì có thể gặp nhiều phiền toái trong cuộc sống • Đối với nền kinh tế Nếu CVTD được dùng để tài trợ cho các chi tiêu về hàng hóa dịch vụ trong nước thì nó có tác dụng rất tốt cho việc kích cầu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nếu không được dùng đúng như vậy thì có thể làm giảm khả năng tiết kiệm trong nước. - Thứ nhất, đối với DN, tín dụng tiêu dùng kéo nhu cầu tương lai về hiện tại, quy mô sản xuất tăng nhanh, mức độ đổi mới và phong phú về chất lượng ngày càng lớn. Chính điều này đã làm cho toàn bộ quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng diễn ra nhanh chóng và hiệu quả, đó chính là nền tảng tăng trưởng kinh tế - Thứ hai, CVTD thúc đẩy thành phần tiêu dùng và do đó gia tăng cầu trong nước, trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội, hạn chế sự phụ thuộc vào cầu nước ngoài, do đó thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững hơn AD = C +G + I + X – M - Thứ ba, góp phần xóa bỏ vòng luẩn quẩn: thu nhập thấp – tiết kiệm ít – sản lượng thấp - Thứ tư, CVTD thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và từ đó lại làm tăng thu nhập, tạo khả năng tăng tiết kiệm, mở rộng cơ hội huy động vốn và phát triển các dịch vụ ngân hàng của các tổ chức tín dụng. IV. Các loại cho vay tiêu dùng 1. Căn cứ vào mục đích vay  CVTD cư trú (Residential Mortgage Loan): CVTD cư trú là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng, cải tạo nhà ở của KH là cá nhân hay hộ gia đình  CVTD phi cư trú (Nonresidential Loan): CVTD phi cư trú là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch 2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả  CVTD trả góp (Installment Consumer Loan): Đây là hình thức CVTD trong đó người đi vay trả nợ (gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay. Phương thức này thường áp dụng với các khoản vay có giá trị lớn, hoặc thu nhập từng định kỳ của khách hàng vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay
  3. Đối với loại cho vay này, NH thường chú ý tới một số vấn đề có tính nguyên tắc sau:  Loại tài sản được tài trợ Thiện chí trả nợ của người vay sẽ tốt hơn nếu tài sản hình thành từ vốn vay đáp ứng nhu cầu thiết yếu với họ một cách lâu dài trong tương lai. Do đó, NH nên tài trợ cho những TS có thời hạn sử dụng lâu bền  Số tiền phải trả trước Thông thường NH yêu cầu KH vay phải thanh toán trước một phần giá trị TS cần mua sắm. Số tiền này gọi là số tiền trả trước, phần còn lại NH sẽ cho vay. Số tiền trả trước này phải đủ lớn để: - Đủ cho người đi vay có động lực nghĩ rằng họ chính là chủ sở hữu của TS, nhằm tăng thiện chí trả nợ - Giúp NH hạn chế rủi ro trong trường hợp phải phát mại TS vay Số tiền trả trước là cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố: - Loại TS: Đối với các TS có mức độ giảm giá nhanh thì số tiền trả trước nhiều và ngược lại - Thị trường tiêu thụ TS đã qua sử dụng: nếu TS sau khi sử dụng vẫn có thể dễ dàng được mua bán, chuyển nhượng thì số tiền trả trước thấp và ngược lại - Năng lực của người đi vay - Môi trường kinh tế  Chi phí tài trợ Là chi phí mà người đi vay phải trả cho NH cho việc sử dụng vốn. Chi phí tài trợ phải bù đắp được chi phí huy động vốn, chi phí hoạt động, bù đắp rủi ro, và mang lại lợi nhuận tương xứng cho NH  Điều khoản thanh toán Khi xác định điều khoản thanh toán cho khoản vay, NH cần lưu ý các yếu tố sau: - Số tiền thanh toán mỗi định kỳ phải phù hợp với khả năng thu nhập của KH, và trong mối tương quan với các khoản chi tiêu khác của KH. - Giá trị của TS tài trợ không được thấp hơn số tiền tài trợ chưa được thu hồi - Kỳ hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của KH - Thời hạn tài trợ không nên quá dài. Bởi vì thời hạn tài trợ quá dài dễ làm giá trị TS tài trợ bị giảm mạnh, hơn thế nữa động lực trả nợ của KH cũng bị suy giảm Số tiền mà KH phải thanh toán cho NH ở mỗi định kỳ có thể được tính bằng một trong các phương pháp sau:
  4.  Phương pháp gộp (Add-on Method) Phương pháp này thường được áp dụng cho CVTD trả góp do tính đơn giản và dễ hiểu của nó: T= với L = V x r x n Trong đó T: số tiền phải thanh toán mỗi kỳ L: chi phí tài trợ (lãi vay) V: vốn gốc n: số kỳ hạn r: lãi suất tính cho mỗi kỳ hạn Công thức áp dụng để quy đổi ra lãi suất hiệu dụng như sau: i = Trong đó i: lãi suấthiệu dụng/1 năm m: số kỳ hạn thanh toán trong một năm Ngoài ra có thể áp dụng công thức sau: i=xr Trong đó i: lãi suất hiệu dụng (1 kỳ) r: lãi suất kỳ thanh toán n: số kỳ thanh toán  Phương pháp lãi đơn (Simple Interest Method) Theo phương pháp này, vốn gốc người đi vay phải trả từng định kỳ được tính đều nhau, bằng cách lấy vốn gốc ban đầu chia cho số kỳ hạn thanh toán. Còn lãi phải trả NH ở mỗi định kỳ được tính trên số tiền KH thực sự còn thiếu NH  Phương pháp hiện giá (Present Value Method) Theo phương pháp này, tổng số tiền mà KH phải trả NH ở mỗi kỳ (gốc và lãi) là đều nhau. Và tiền lãi cũng được tính trên dư nợ giảm dần  Vấn đề phân bổ lãi vay theo thời gian Việc phân bổ có thể được thực hiện theo định kỳ gắn liền với các kỳ thanh toán, hoặc cũng có thể được thực hiện theo quý hoặc năm tài chính. Tuy nhiên phân bổ lãi vay theo năm tài chính thường được các ngân hàng áp dụng hơn Các phương pháp phổ biến dùng để phân bổ lãi vay bao gồm:  Phương pháp đường thẳng (Straight-line Method) hay còn gọi là phương pháp tỷ lệ cố định: Theo phương pháp này, phần lãi cho vay được phân bổ ở mỗi kỳ tương ứng với tỷ trọng số tháng tính lãi trong kỳ đó so với toàn bộ số tháng tính lãi của thời hạn vay  Phương pháp tỷ suất lợi tức hiệu dụng (Effective Yield Method):
  5. Phương pháp này còn gọi là phương pháp quy tắc 78. Đây là phương pháp phổ biến nhất trong việc hạch toán phân bổ lãi của các khoản cho vay trả góp  Phương pháp lãi (Interest Method): Theo phương pháp này, trước hết lãi suất cho vay được quy đổi ra thành lãi suất hiệu dụng. Sau đó, lãi suất hiệu dụng này đựợc áp dụng phương pháp hiện giá để tính phần lãi phân bổ cho kỳ đó  Vấn đề trả nợ trước hạn - Nếu tiền trả góp được tính theo phương pháp lãi đơn và phương pháp hiện giá thì vấn đề rất đơn giản, người đi vay chỉ phải thanh toán toàn bộ số vốn gốc còn thiếu và tiền lãi của kỳ hạn hiện tại cho NH - Nếu tiền trả góp được tính theo phương pháp gộp thì vấn đề phức tạp hơn. Vì theo phương pháp này, lãi được tính trên cơ sở giả định rằng tiền vay sẽ được KH trả hết cho đến khi kết thúc hợp đồng. Vậy nên nếu KH trả nợ trước hạn thì thời hạn nợ thực tế sẽ khác với thời hạn nợ giả định ban đầu. Như vậy số tiền lãi thực sự phải trả cũng có sự thay đổi. Phương pháp áp dụng phổ biến nhất là phương pháp 78  CVTD phi trả góp (Noninstallment Consumer Loan) Tiền vay trả được KH thanh toán cho NH một lần khi đáo hạn. Hình thức cho vay này chỉ phù hợp với các khoản cho vay có giá trị nhỏ và thời hạn ngắn  CVTD tuần hoàn (Revolving Consumer Credit) Là các khoản CVTD trong đó NH cho phép KH sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này, trong thời hạn tín dụng được thoả thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, KH được NH cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng. Lãi phải trả mỗi kỳ có thể tính dựa trên một trong ba cách sau: + Lãi được tính dựa trên số dư nợ đã được điều chỉnh + Lãi được tính dựa trên số dư nợ trước khi được điều chỉnh + Lãi được tính trên cơ sở dư nợ bình quân 3. Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ  CVTD gián tiếp (Indirect Consumer Loan) CVTD gián tiếp là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá hay dịch vụ cho người tiêu dùng
  6. 1 4 Ngân hàng Công ty bán lẻ 5 2 6 Người tiêu dùng 3 (1) NH và công ty bán lẻ ký hợp đồng mua bán nợ. Trong hợp đồng NH đưa ra các điều kiện về đối tượng KH bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại TS bán chịu (2) Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký hợp đồng mua bán chịu hàng hoá. Thông thường người mua hàng phải trả trước một phần giá trị TS (3) Công ty bán lẻ giao hàng cho người tiêu dùng (4) Công ty bán lẻ bán cho NH bộ chứng từ hàng hoá bán chịu (5) NH thanh toán tiền cho công ty bán lẻ (6) Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho NH Để thích ứngvới từng đối tượng KH, NH đưa ra các phương thức khác nhau trong kỹ thuật cho vay gián tiếp:  Tài trợ truy đòi toàn bộ: theo phương thức này, khi bán cho NH các khoản nợ mà người tiêu dùng đã mua chịu, công ty bán lẻ cam kết sẽ thanh toán cho NH toàn bộ các khoản nợ nếu khi đến hạn người tiêu dùng không thanh toán cho NH  Tài trợ truy đòi hạn chế: theo phương thức này trách nhiệm của công ty bán lẻ đối với các khoản nợ người tiêu dùng mua chịu không thanh toán chỉ giới hạn trong một chừng mực nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản đã được thoả thuận giữa NH với công ty bán lẻ - Công ty bán lẻ phải chịu trách nhiệm thanh toán một phần nợ trong trường hợp: * Nếu người mua chịu không đủ tiền trả trước một số tiền nhất định * Không đủ các tiêu chuẩn tín dụng do NH đề ra - Công ty bán lẻ cam kết chịu trách nhiệm cho toàn bộ số nợ đã bán chịu cho đến khi NH thu hồi được một số lượng các khoản nợ nhất định đúng hạn.
  7. - Toàn bộ trách nhiệm thanh toán nợ của công ty bán lẻ được giới hạn theo một tỷ lệ nhất định so với tổng số nợ trong một thời hạn nhất định - Toàn bộ trách nhiệm thanh toán nợ của công ty bán lẻ được giới hạn trong phạm vi số tiền dự phòng ký gửi tại NH. Thường số tiền dự phòng được trích ra từ chênh lệch giữa chi phí tài trợ mà công ty bán lẻ tính cho người mua chịu và chi phí tài trợ mà NH tính cho công ty bán lẻ. Đây là trường hợp được các NH áp dụng phổ biến nhất  Tài trợ miễn truy đòi Theo phương thức này, sau khi bán các khoản nợ cho NH, công ty bán lẻ không còn chịu trách nhiệm cho việc chúng có được hoàn trả hay không. Phương thức chứa đựng rủi ro cao cho NH nên chi phí tài trợ thường được NH tính cao hơn so với các phương thức nói trên và các khoản nợ được mua cũng được kén chọn rất kỹ. Ngoài ra chỉ những công ty bán lẻ rất được NH tin cậy mới được áp dụng phương thức này.  Tài trợ có mua lại: Khi thực hiện CVTD gián tiếp theo phương thức miễn truy đòi, hoặc truy đòi một phần, nếu rủi ro xẩy ra, người tiêu dùng không trả nợ thì NH thường phải thanh lý TS để thu hồi nợ. Trong trường hợp này, nếu có thoả thuận trước thì NH có thể bán trở lại cho công ty bán lẻ phần nợ mình chưa được thanh toán, kèm với TS đã được thụ đắc trong một thời hạn nhất định Ưu - nhược điểm của CVTD gián tiếp - Ưu điểm: • Cho phép NH dễ dàng tăng doanh số cho vay tiêu dùng • Giảm các chi phí xét duyệt hơn so với cho vay trực tiếp • Rất phù hợp với cách thức mua hàng lâu bền, giá trị lớn với cả người mua (mua hàng trước khi có đủ tiền) và với cả người bán hàng (khi không có đủ khả năng tài chính giữ tất cả các tích trái của họ) • Là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với KH và các hoạt động NH khác • Trong trường hợp có quan hệ với những công ty bán lẻ tốt, công ty có vốn tự có ròng lớn, CVTD gián tiếp an toàn hơn CVTD trực tiếp. Bởi vì đảm bảo của khoản vay tỏ ra vững chắc hơn khi có người bán ký hậu trên chứng từ hoặc kỳ phiếu và người bán hàng cũng chịu trách nhiệm giám sát các khoản cho vay trong một giới hạn nào đó (như theo dõi các tài
  8. khoản không trả đúng hạn, việc tái sở hữu, bán hàng hoá tái sở hữu…) làm cho chi phí NH giảm xuống - Nhược điểm: • NH không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được bán chịu, do đó các khả năng lừa đảo, giả mạo và xuyên tạc nhiều hơn so với vay trực tiếp • Thiếu sự kiểm soát của NH khi công ty bán lẻ thực hiện việc bán chịu hàng hoá • Trong quá trình thực hiện việc trả góp, xảy ra không ít trường hợp người mua trả lại hàng hoá cho người bán (khi họ thấy không thoả mãn hoặc không có khả năng chi trả) – tình huống này thường không xảy ra đối với cho vay trực tiếp. Những khoản tranh chấp này ảnh hưởng lớn đến kết quả tín dụng  CVTD trực tiếp (Direct Consumer Loan): Là các khoản CVTD trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người này. CVTD trực tiếp thường được thực hiện qua sơ đồ sau: 3 Công ty Ngân hàng bán lẻ 5 2 1 4 Người tiêu dùng (1): Ngân hàng và người tiêu dùng ký kết hợp đồng vay. (2): Người tiêu dùng trả trước một phần số tiền mua tài sản cho công ty bán lẻ. (3): Ngân hàng thanh toán số tiền mua tài sản còn thiếu cho công ty bán lẻ. (4): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng. (5): Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng. So với CVTD gián tiếp, CVTD trực tiếp có một số ưu điểm sau: - Trong CVTD trực tiếp ngân hàng có thể tận dụng được sở trường của nhân viên tín dụng là những người được đào tạo chuyên môn và có nhiều
  9. kinh nghiệm trong lĩnh vực tín dụng cho nên các quyết định tín dụng trực tiếp của ngân hàng thường có chất lượng cao hơn so với trường hợp chúng được quyết định bởi những công ty bán lẻ hoặc nhân viên tín dụng của công ty bán lẻ. - Hoạt động của nhân viên tín dụng ngân hàng có xu hướng chú trọng đến việc tạo ra các khoản cho vay có chất lượng tốt trong khi nhân viên của những công ty bán lẻ thường chú trọng đến việc bán cho được nhiều hàng. - Tại các điểm bán hàng, các quyết định tín dụng thường được đưa ra một cách vội vàng và như vậy có thể có nhiều khoản tín dụng được cấp ra một cách không chính đáng. Hơn nữa, trong một số trường hợp, do quyết định nhanh, công ty bán lẻ có thể từ chối cấp tín dụng đối với khách hàng tốt của mình. Nếu người cấp tín dụng là ngân hàng, điều này có thể được hạn chế - CVTD trực tiếp có ưu điểm là linh hoạt hơn so với CVTD gián tiếp. - Khi khách hàng có quan hệ trực tiếp với ngân hàng, có rất nhiều lợi thế có thể phát sinh, có khả năng làm thỏa mãn quyền lợi cho cả hai phía khách hàng lẫn ngân hàng. Kỹ thuật cho vay và thu nợ. 1. Thủ tục vay vốn: Các NH khác nhau và những loại TD khác nhau có những thủ tục cụ thể khác nhau, sao cho NH có thể nắm được các thông tin theo một tiêu chuẩn nhất định. Thông thường các thủ tục NH quy định bao gồm: - Đơn xin vay - Các tài liệu liên quan tới thông tin về người vay và thuyết minh các khoản tín dụng như: Tài liệu pháp lý: quốc tịch, tuổi, nơi cư trú… (như chứng minh thư, hộ khẩu…) Các tài liệu thông tin: nghề nghiệp, nguồn thu nhập, thu nhập hàng tháng, tình trạng gia đình, học vấn… Các tài liệu thuyết minh khoản tín dụng như: nhu cầu chi phí, mức vốn tự có, nhu cầu tài trợ (tổng số và chua cho các kì hạn…) Các tài liệu đảm bảo cho khoản tín dụng 2. Kỹ thuật thẩm định trong CVTD trực tiếp Có 2 phương pháp là phương pháp phán đoán và phương pháp hệ thống điểm số.  Phương pháp phán đoán:
  10. Là một quá trình trong đó, NH tiến hành phân tích và đánh giá tất cả các thông tin định tính và định lượng về khách hàng nhằm mục tiêu hạn chế bớt các khoản cho vay có nhiều rủi ro. Nội dung các yếu tố nhằm thẩm định trong cho vay tiêu dùng cũng gần giống như trong các loại cho vay khác, tuy nhiên có một số điều chú ý sau: - Đánh giá đặc điểm của KH và khả năng thanh toán: Nhân viên tín dụng phải tiến hành điều tra, xem xét để đảm bảo rằng KH vay vốn ý thức rõ ràng về trách nhiệm hoàn trả đầy đủ và đúng hạn các khoản nợ. Về khả năng thanh toán: người vay phải có mức thu nhập và/hoặc các tài sản có giá trị (VD chứng khoán, tài khoản tiền gửi…) đủ để đảm bảo rằng họ có khả năng hoàn trả khoản vay. - Đánh giá đặc điểm cơ bản của KH thông qua mục đích của việc vay tiền: KH dùng khoản tiền vay vào việc gì? Mục đích sử dụng vốn đó có hợp với chính sách cho vay của NH không? Có bằng chứng nào cho thấy KH sẽ không hoàn trả khoản vay đó không. Đánh giá mức thu nhập: Những KH có mức lương cơ bản và mức thu nhập ròng còn lại sau khi trang trải các chi phí sinh hoạt hàng ngày cao sẽ được đánh giá cao. CBTD phải xác minh mức thu nhập của KH, yêu cầu KH cung cấp: Hợp đồng lao động, xác nhận lương từ ban lãnh đạo DN, hợp đồng cho thuê nhà, thuê xe, giấy phép kinh doanh, … của người vay và người cùng trả nợ. - Sự ổn định về việc làm và nơi cư trú - Hoạt động đảo nợ Cần kiểm tra những bằng chứng về việc quy mô của các khoản nợ tăng so với thu nhập hàng năm, hàng tháng của KH cũng như với tình trạng số dư của tài khoản thẻ tín dụng tăng nhanh hay tình trạng séc phát ra bị gửi trả lại.  Việc đảo nợ theo kiểu vay tiền từ người này để trả cho người kia. Đây được coi như một tiêu thức về khả năng quản lý tiền vay của KH Khi đánh giá một đơn xin vay tiêu dùng,các yếu tố chính sau mà CBTD cần chú ý: - Bằng chứng về việc họ có việc làm và nới cư trú ổn định - Các thông tin và số liệu trên lá đơn phải nhất quánvà trung thực - Mục đích sử dụng khoản vay hợp pháp - Bằng chứng về việc có thể quản lý, sử dụng khoản vay có hiệu quả - Triển vọng tốt về việc làm ổn định  Phương pháp hệ thống điểm số
  11. Hệ thống điểm số là một tập hợp các tiêu thức khác nhau liên quan đến từng KH vay tiêu dùng. Mỗi tiêu thức có một điểm số khác nhau tuỳ theo tình trạng của mỗi tiêu thức này và tầm quan trọng của nó trong hệ thống các tiêu thức, dựa trên cơ sở kết quả thống kê trong lịch sử Hệ thống tính điểm tín dụng thường dựa trên cơ sở các mô hình đặc biệt hoặc một số kỹ thuật có liên quan (như mô hình trung thực), trong đó một vài biến số sẽ được kết hợp lại để đánh giá về điểm số cho mỗi lá đơn Những biến số quan trọng nhất được dùng trong hệ thống này là: - Xếp hàng chất lượng tín dụng - Tuổi tác, tình trạng hôn nhân, số người ăn theo - Số nhà cửa sở hữu, thu nhập ròng - Có điện thoại hay không - Số lượng và loại TS - Loại nghề nghiệp, thời gian làm việc tại chỗ làm hiện tại Ưu điểm của hệ thống tính điểm tín dụng - Loại bỏ hoàn toàn những đánh giá mang tính cá nhân, làm giảm thời gian xét duyệt  giúp giải quyết nhanh chóng một số lượng lớn yêu cầu vay mà không cần nhiều sức người, làm giảm chi phí hoạt động - Có thể đây là cách đánh giá hiệu quả thay thế cho việc sử dụng những CBTD thiếu kinh nghiệm, điều này giúp làm giảm những khoản nợ khó thu hồi Nhược điểm: - Các thông tin về người vay được dùng trong hệ thống điểm số là những thông tin trong quá khứ vì vậy có thể không phản ánh được chính xác tư cách tín dụng của người đi vay trong hiện tại và tương lai - Các thông tin dùng trong hệ thống điểm số bị phiến diện vì chỉ là các thông tin thống kê về những người vay đã được NH chấp nhận cho vay mà thôi - Phương pháp này dựa trên cơ sở số đông, và như vậy có thể bỏ qua các trường hợp KH có hoàn cảnh đặc biệt Mở rộng CVTD tại Việt Nam hiện nay là cần thiết - Đẩy mạnh cho vay tiêu dùng là xu hướng tất yếu, nhất là trong điều kiện khách quan của nền kinh tế thị trường mở cửa hội nhập, khi mà mức
  12. sống người dân được nâng cao, đồng thời đó cũng là chiến lược, mục tiêu và là thị trường đầy tiềm năng của các ngân hàng thương mại Việt Nam. - Có thể nói thị trường tiêu dùng ở nước ta ngày càng phong phú và đa dạng, ngoài những nhu cầu thiết yếu (như ăn mặc, ở, đi lại,…) còn có những nhu cầu cao hơn (như vui chơi, giải trí, du lịch, du học,…), mức sống người dân được nâng cao, yêu cầu trong cuộc sống cao hơn - Với trình độ công nghệ tiến bộ ngày nay, dịch vụ thanh toán qua thẻ đã trở thành công cụ phổ biến, người dân đã có thói quen chi trả tiền qua tài khoản, nhất là qua các năm gần đây thị trường thẻ ATM ở Việt Nam tăng đột biến: như năm 2001 chỉ có 23.000 thẻ, năm 2002 có 42.500 thẻ thì năm 2005 đã tăng đột biến lên đến 2.000.000 thẻ và năm 2006 đạt gần 4.000.000 thẻ và hiện nay là khoảng 19.000.000 thẻ. Đây là một thị trường đầy tiềm năng để phát triển mạng lưới dịch vụ tín dụng qua thẻ của ngân hàng (như cho vay thấu chi, thẻ tín dụng). - Việt Nam gia nhập WTO đã mở ra cánh cửa hội nhập lớn cho nền kinh tế - chính trị của đất nước, đời sống nhân dân được nâng cao, nhu cầu cuộc sống ngày càng chất lượng, hiện đại. Đặc biệt là dịch vụ ngân hàng đã trở thành công cụ hữu dụng cho cuộc sống người dân trong thanh toán, cất giữ tiền tiết kiệm (hạn chế không sử dụng tiền mặt, tiết kiệm chi phí), ngân hàng còn hỗ trợ vốn cho người dân trong kinh doanh, chi tiêu, học hành,... Ưu điểm của CVTD là dễ vay, thủ tục nhanh chóng, đáp ứng trực tiếp nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của cá nhân và gia đình. Tại một số nơi, chỉ cần có thu nhập 2 triệu đồng/tháng là đã có thể vay tiền mua xe máy. Một số công ty cam kết chuyển tiền cho khách hàng vay chỉ 24 giờ sau khi hồ sơ vay được chấp thuận. Kế hoạch vay cũng thường được công ty lập sẵn, khách hàng chỉ cần chủ động khoản vay, nhìn vào là có thể biết ngay phải trả bao nhiêu tiền mỗi tháng, từ đó quyết định được thu nhập có đủ để vay tín dụng không. Ở Ngân hàng Liên Việt (LienVietBank), khách hàng là cán bộ, nhân viên của các tổ chức, doanh nghiệp có thể vay vốn mà không cần tài sản bảo đảm và không cần bảo lãnh trả thay của công ty với hạn mức vay có thể lên đến 500 triệu đồng, thời hạn cho vay tối đa là 36 tháng. Lãi suất cho vay sẽ được Tổng Giám đốc LienVietBank quy định trong từng thời kỳ và theo cơ chế lãi suất thỏa thuận với mức thấp nhất là 1%/tháng Bên cạnh sản phẩm cho vay tiêu dùng tín chấp, LienVietBank cũng đang áp dụng các sản phẩm tín dụng tiêu dùng có tài sản thế chấp như: cho vay mua xe ô tô trả góp với thời hạn vay vốn tối đa là 60 tháng và hạn mức cho vay tối đa là 70% giá trị xe đối với trường hợp cho vay thế chấp
  13. bằng chính xe mua và 90% đối với trường hợp có tài sản đảm bảo khác; cho vay mua nhà đất …cùng các sản phẩm kích thích tiêu dùng khác.
Đồng bộ tài khoản