Chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin

Chia sẻ: tinhlagi_164

Tham khảo tài liệu 'chủ nghĩa mác ­ lê­nin', khoa học xã hội, tư tưởng hcm phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin

1 ­ Chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin là đỉnh cao của tư duy nhân loại; là thế giới quan, phương pháp 
luận khoa học và cách mạng, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, 
của các đảng cộng sản và công nhân trong đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, xây dựng 
xã hội xã hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa

Hồ Chí Minh đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin. Đối với Người, đến với 
chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin cũng có nghĩa là đến với con đường cách mạng vô sản. Từ đây, 
Người thực sự tìm thấy con đường cứu nước chân chính, triệt để: "Muốn cứu nước và giải 
phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản" và "chỉ có giải 
phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có 
thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới"(1). 

Đến với chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin, tư tưởng, quan điểm của Hồ Chí Minh có bước nhảy vọt 
lớn: kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, kết hợp dân tộc với giai cấp, 
độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội; nâng chủ nghĩa yêu nước lên một trình độ mới trên lập 
trường của chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin. 

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Chủ nghĩa Mác ­ 
Lê­nin là chủ nghĩa chân chính nhất, khoa học nhất, cách mạng nhất, "muốn cách mạng 
thành công, phải đi theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và chủ nghĩa Lê­nin". Đối với Người, chủ
nghĩa Mác ­ Lê­nin là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học để giải quyết những 
vấn đề do thực tiễn đặt ra. Người không bao giờ xa rời chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin, đồng thời 
kiên quyết chống chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại. 

Như vậy, chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin là một nguồn gốc ­ nguồn gốc chủ yếu nhất, của tư tưởng 
Hồ Chí Minh, là một bộ phận hữu cơ ­ bộ phận cơ sở, nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Minh. 
Không thể đặt tư tưởng Hồ Chí Minh ra ngoài hệ tư tưởng Mác ­ Lê­nin, hay nói cách khác, 
không thể tách tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi nền tảng của nó là chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin. Cho 
nên, có thể nói, ở Việt Nam, giương cao tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là giương cao chủ nghĩa 
Mác ­ Lê­nin. Muốn bảo vệ và quán triệt chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin một cách có hiệu quả, phải 
bảo vệ, quán triệt và giương cao tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là lịch sử mà cũng là lô­gíc của 
vấn đề. Nó giúp chỉ ra sai lầm của quan niệm đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa 
Mác ­ Lê­nin. 

2 ­ Tư tưởng Hồ Chí Minh là "kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác ­ 
Lê­nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt 
đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại" (2) 

Ở luận điểm này, có hai vấn đề cần làm rõ: 

Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin, lấy chủ nghĩa Mác ­ 
Lê­nin làm nền tảng, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là sự kế thừa, phát triển các giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nổi bật là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, 
và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, cả phương Đông và phương Tây. Hồ Chí Minh đã 
từng tỏ rõ thái độ của mình đối với việc học tập, tiếp thu những học thuyết của các lãnh tụ
chính trị, xã hội, tôn giáo trong lịch sử. Người nói: "Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu 
dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giê­su có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. 
Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có 
ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. 

Khổng Tử, Giê­su, C. Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao? Họ
đều muốn "mưu hạnh phúc cho loài người, mưu hạnh phúc cho xã hội...". 

Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy"(3). 

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh nằm trong hệ tư tưởng Mác ­ Lê­nin, bắt nguồn chủ yếu từ
chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin, nhưng không hoàn toàn đồng nhất với chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin, mà là 
sự tổng hòa, sự kết hợp giữa tinh hoa văn hóa truyền thống Việt Nam, tinh hoa văn hóa nhân 
loại với chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin, trên nền tảng chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin. 

Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa 
Mác ­ Lê­nin... Vậy sự vận dụng và phát triển sáng tạo đó như thế nào? 

Ngay từ năm 1924, sau khi đến với chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin, trở thành một cán bộ của Đảng 
Cộng sản Pháp và của Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh đã vạch rõ sự khác nhau giữa thực 
tiễn của các nước tư bản phát triển ở châu Âu mà C. Mác, Ph. Ăng­ghen và V.I. Lê­nin đã 
chỉ ra với thực tiễn Việt Nam ­ một nước thuộc địa, nửa phong kiến, nông nghiệp, lạc hậu ở
phương Đông. Do đó, cần bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử phương Đông. 
Trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ gửi Quốc tế Cộng sản, Người viết: "Cuộc 
đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây... Dù sao thì cũng không thể cấm 
bổ sung "cơ sở lịch sử" của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà 
Mác ở thời mình không thể có được. Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý 
nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải 
là toàn thể nhân loại... Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng 
dân tộc học phương Đông. Đó chính là nhiệm vụ mà các Xô viết đảm nhiệm"(4). 

Việc tiếp thu, vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin của Hồ Chí Minh là cả quá trình 
gắn với hoạt động thực tiễn, kết hợp lý luận với thực tiễn, xuất phát từ những yêu cầu của 
thực tiễn. Người nhấn mạnh rằng, việc học tập, vận dụng chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin, trước hết 
phải nắm vững "cái cốt lõi", "linh hồn sống" của nó là phương pháp biện chứng; học tập "tinh 
thần, lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin để áp dụng lập 
trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong 
công tác cách mạng của chúng ta". Người còn chỉ rõ: "Hiểu chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin là phải 
sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa 
thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin"(5). 

Từ những vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận thể hiện tư duy độc lập, sáng tạo, Hồ Chí 
Minh trong suốt cuộc đời của mình đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin vào thực 
tiễn cách mạng Việt Nam và tạo ra một hệ thống luận điểm mới, sáng tạo, hình thành nên tư
tưởng Hồ Chí Minh. 

a. Luận điểm sáng tạo lớn đầu tiên của Hồ Chí Minh là luận điểm về chủ nghĩa thực dân và 
vấn đề giải phóng dân tộc. Những tác phẩm của Người là "Bản án chế độ thực dân Pháp" 
(xuất bản năm 1925) và "Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương" đã vạch trần bản 
chất và những thủ đoạn bóc lột, đàn áp, tàn sát dã man của chủ nghĩa thực dân Pháp đối 
với các dân tộc thuộc địa; nêu rõ nỗi đau khổ, của kiếp nô lệ, nguyện vọng khát khao được 
giải phóng và những cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa. Đây là những tài liệu “có một 
không hai” về chủ nghĩa thực dân; ở đó, sự phân tích về chủ nghĩa thực dân của Hồ Chí 
Minh đã vượt hẳn những gì mà những nhà lý luận mác­xít đề cập đến(6). Những luận điểm 
của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa thực dân, đặc biệt là hình ảnh về "con đỉa hai vòi", "con chim 
hai cánh", đã không chỉ có tác dụng thức tỉnh các dân tộc thuộc địa, mà còn cảnh tỉnh các 
đảng cộng sản ở chính quốc. 

Hồ Chí Minh là người chiến sĩ tiên phong trong phê phán chủ nghĩa thực dân, đồng thời cũng 
là người lãnh đạo dân tộc mình thi hành bản án chôn vùi chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam, mở
đầu cho thời kỳ sụp đổ của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. 

Đề cương Về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I. Lê­nin, viết năm 1920, đã thức tỉnh 
Nguyễn Ái Quốc, đưa Người đến với chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin, vì đây là chủ nghĩa duy nhất 
quan tâm đến vấn đề thuộc địa. Nhưng vượt trên những hạn chế lúc bấy giờ trong nhận 
thức và đánh giá về phong trào cách mạng thuộc địa: Cách mạng thuộc địa phụ thuộc vào 
cách mạng chính quốc, là "hậu bị quân" của cách mạng vô sản chính quốc; cách mạng 
chính quốc thắng lợi thì các thuộc địa mới được giải phóng, Hồ Chí Minh vốn là người dân 
thuộc địa, hiểu sâu sắc khát vọng và tiềm năng, sức mạnh to lớn của các dân tộc thuộc địa, 
nên đã nêu lên luận điểm: Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa quan hệ
chặt chẽ với cách mạng chính quốc, nhưng không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng 
chính quốc. Nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc có thể "chủ động đứng lên, đem 
sức ta mà giải phóng cho ta", giành thắng lợi trước cách mạng chính quốc và qua đó, thúc 
đẩy cách mạng chính quốc. 

b. Khi phân tích xã hội của các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng quan điểm 
giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin một cách sáng tạo, chủ yếu xuất 
phát từ mâu thuẫn cơ bản của các nước thuộc địa, đó là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc, 
thực dân thống trị và bè lũ tay sai với toàn thể nhân dân, dân tộc, không phân biệt giai cấp, 
tôn giáo... Theo Người, ở Việt Nam cũng như ở các nước phương Đông, do trình độ sản xuất 
kém phát triển nên sự phân hóa giai cấp và đấu tranh giai cấp không giống như ở các nước 
phương Tây. Từ đó, Người có quan điểm hết sức sáng tạo là gắn chủ nghĩa dân tộc chân 
chính với chủ nghĩa quốc tế, và nêu lên luận điểm: "Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của 
đất nước". Người còn cho rằng, chủ nghĩa dân tộc nhân danh Quốc tế Cộng sản là "một 
chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời". 

c. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn giải quyết đúng đắn 
mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp. Người khẳng định, phải đi từ giải phóng dân tộc đến 
giải phóng giai cấp; dân tộc không thoát khỏi kiếp ngựa trâu thì ngàn năm giai cấp cũng 
không được giải phóng. Đường lối của cách mạng Việt Nam là đi từ giải phóng dân tộc, xây 
dựng chế độ dân chủ nhân dân, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội; kết hợp độc lập dân 
tộc với chủ nghĩa xã hội. Động lực cơ bản của toàn bộ sự nghiệp cách mạng đó là đại đoàn 
kết toàn dân trên nền tảng liên minh công nhân, nông dân, trí thức dưới sự lãnh đạo của 
Đảng Cộng sản. 
d. Cũng từ luận điểm cơ bản đó, Hồ Chí Minh đã có những phát hiện sáng tạo về Đảng 
Cộng sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, nông dân chiếm đa số dân cư; xác định 
quy luật hình thành của Đảng là kết hợp chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin với phong trào công nhân 
và phong trào yêu nước". Đảng vừa đại diện cho lợi ích của giai cấp, vừa đại diện cho lợi ích 
của dân tộc. 

e. Xuất phát từ nhiệm vụ cơ bản, hàng đầu của Cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc, 
phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân, ngay từ đầu, Hồ Chí Minh đã xác định: phải 
giành chính quyền bằng bạo lực, bằng khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng nếu kẻ
thù ngoan cố, không chịu hạ vũ khí. 

g. Trên cơ sở kế thừa truyền thống quân sự của dân tộc, học tập kinh nghiệm hoạt động 
quân sự của thế giới và của các Đảng anh em, tổng kết thực tiễn đấu tranh vũ trang, chiến 
tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Hồ Chí Minh đã 
sáng tạo ra học thuyết quân sự hiện đại của Việt Nam. Trong đó, nổi bật là quan điểm về
chiến tranh nhân dân, chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ; về xây dựng lực lượng vũ 
trang toàn dân với ba thứ quân chủ lực, địa phương, dân quân tự vệ; về nền quốc phòng 
toàn dân, toàn diện, hiện đại... 

h. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin, sau khi cách mạng vô sản thắng lợi, giai cấp 
vô sản sẽ thiết lập nên nền chuyên chính vô sản. Vận dụng sáng tạo quan điểm đó vào thực 
tiễn cách mạng Việt Nam, một cuộc cách mạng từ giải phóng dân tộc mà phát triển lên, Hồ
Chí Minh cho rằng, "mục đích của Quốc tế Cộng sản là làm thế giới vô sản cách mạng, thiết 
lập vô sản chuyên chính", nhưng chúng ta phải căn cứ vào trình độ chính trị, kinh tế, xã hội 
của đất nước mà đề ra đường lối, chiến lược cách mạng phù hợp, "chứ không phải nước 
nào cũng phải làm cách mạng vô sản, lập chuyên chính như nhau". Vì vậy, ngay từ Chánh 
cương vắn tắt (1930), Người đã nêu: Thiết lập Chính phủ công nông binh; tổ chức ra quân 
đội công nông. Tại Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5­1941), Người đề ra chủ trương thành lập 
"một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần Tân dân chủ. Chính quyền cách mạng của 
nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng một giai cấp nào, mà của chung toàn 
thể dân tộc". 

i. Về vấn đề chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trước 
hết, Người khẳng định: Sau khi cơ bản hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, chúng ta 
nhất định phải quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chỉ có xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta mới 
thực sự giải phóng được dân tộc, xã hội và con người. Vì vậy, chủ trương tiến hành đồng 
thời hai nhiệm vụ chiến lược (miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục 
hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng dân tộc dân chủ) là một sáng tạo 
lớn, có tính cách mạng cao và phù hợp với thực tiễn đất nước. 

Người chỉ rõ bản chất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là "đánh thắng lạc 
hậu và bần cùng, để xây dựng hạnh phúc muôn đời cho nhân dân ta, cho con cháu ta"(7). 
Đặc điểm lớn nhất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là "từ một nước nông 
nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư
bản chủ nghĩa... Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng 
vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có 
công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến"(8). 
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề
cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác ­ Lê­nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát triển các giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh 
và chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin nằm trong sự thống nhất hữu cơ; cả hai đều là nền tảng tư tưởng, 
kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, nhân dân ta. Chúng ta không thể lấy chủ nghĩa 
Mác ­ Lê­nin thay cho tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như không thể hiểu và quán triệt, vận 
dụng sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh nếu không nắm vững chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin.




Tư tưởng đặc sắc của Hồ Chí Minh về “chủ nghĩa dân tộc” của Người đối với nhân dân Việt 
Nam; về mối quan hệ khăng khít giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong cách mạng vô 
sản nói chung và cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam nói riêng; về khả năng, điều kiện và 
kết quả của sự chuyển hoá từ chủ nghĩa dân tộc thành chủ nghĩa quốc tế… là những nội 
dung chính của bài viết. Từ đó, bài viết khẳng định rằng, giá trị thời đại của những tư tưởng ấy 
vẫn luôn sáng ngời và có tầm chỉ đạo chiến lược sống còn đối với tiến trình hiện tại của cách 
mạng Việt Nam.

Ra đi tìm đường cứu nước từ năm 1911, Nguyễn Tất Thành bôn ba hải ngoại và hoạt động 
cách mạng dưới cái tên Nguyễn Ái Quốc. Trở về nước năm 1941, Người đã trực tiếp lãnh đạo 
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và trở thành Chủ tịch đầu tiên của nước Việt 
Nam Dân chủ Cộng hoà. Đầu năm 1946, Người bày tỏ tâm tư của mình: "Tôi chỉ có một sự 
ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được 
hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành"(1). Năm 1969, 
50 ngày trước lúc đi xa, khi trả lời nữ phóng viên báo Granma (Cuba) ­ đồng chí Mácta Rôhát, 
Người đã nói: "Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi"(2). Có thể nói, động lực làm nên chí khí và 
sự nghiệp Hồ Chí Minh chính là điều mà Người gọi là chủ nghĩa dân tộc. Đây là tư tưởng nền 
tảng và nhất quán trong hệ tư tưởng chính trị của Hồ Chí Minh. Bởi vậy, trên thế giới vẫn còn 
có nghi vấn rằng, Hồ Chí Minh là “một nhà dân tộc chủ nghĩa hay người cộng sản”? Đối với 
dân tộc Việt Nam và những người tiến bộ trên thế giới, Hồ Chí Minh là một người cộng sản. 
Việc tìm hiểu người cộng sản Hồ Chí Minh đã quan niệm như thế nào về chủ nghĩa dân tộc là 
một vấn đề quan trọng. Bởi lẽ, có hiểu được đúng đắn quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ 
nghĩa dân tộc thì mới có thể hiểu được đầy đủ sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác ­ Lênin 
vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc ­ Hồ Chí Minh, để thấy được đóng góp 
to lớn của Người vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác ­ Lênin về vấn đề dân tộc và giai 
cấp. 

Ai đã từng đọc Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848) thì đều nhớ rằng, C.Mác và 
Ph.Ăngghen đã kết thúc tác phẩm nổi tiếng này bằng khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước 
đoàn kết lại”. Trong khẩu hiệu này, C.Mác nhấn mạnh đến yếu tố giai cấp trong sự đoàn kết 
quốc tế. 72 năm sau (1920), V.I.Lênin đã bổ sung, phát triển thêm khẩu hiệu chiến lược này 
bằng yếu tố dân tộc như sau: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế 
giới đoàn kết lại”. Như vậy, V.I.Lênin là người đã bảo vệ, kế thừa và phát triển một cách sáng 
tạo chủ nghĩa Mác trong thời đại mới ­ thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản. 
V.I.Lênin cũng chính là người đã đề ra học thuyết cách mạng không ngừng đối với các nước 
thuộc địa, nửa thuộc địa và phụ thuộc; vạch ra cho họ con đường tự giải phóng mình. Với 
phương Đông và châu Á, V.I.Lênin còn là tác giả của học thuyết “châu Á thức tỉnh”, mở rộng 
là phương Đông thức tỉnh. Chính Nguyễn Ái Quốc đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa 
Lênin mà tìm ra con đường giải phóng, con đường cứu nước cho dân tộc mình.

Năm 1924, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác ­ Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam đang 
đấu tranh giải phóng dân tộc hồi đầu thế kỷ XX, trong Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam 
kỳ gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “Chủ nghĩa dân 
tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó 
dạy cho những người culi biết phản đối, nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm 
trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn 
An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi 
khóa, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi 
nghĩa năm 1917”(3). Tiếp đó, Nguyễn Ái Quốc đã có những phân tích sâu sắc về sự biến đổi 
và phát triển của chủ nghĩa dân tộc dưới tác động của chiến tranh như sau:

1. Chủ nghĩa dân tộc đã hiện đại hoá và người chỉ đạo chủ nghĩa dân tộc chính là giới thanh 
niên An Nam.

2. Chủ nghĩa dân tộc ngày càng ăn sâu vào quần chúng.

3. Trong chủ nghĩa dân tộc có cả lòng căm ghét bọn xâm lược Trung Quốc và người Ấn Độ 
sinh cơ lập nghiệp trên đất nước này.

4. Chủ nghĩa dân tộc có xu huớng hợp pháp hóa các hình thức biểu hiện và yêu sách của nó; 
và lớp thanh niên ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn, có ý nghĩa hơn những lớp người già 
đi trước(4).

Trong khoảng hơn một trang in (tiếng Việt), đã có ít nhất 16 lần Nguyễn Ái Quốc dùng tới 
thuật ngữ “chủ nghĩa dân tộc”. Nhận thức rõ vai trò đặc biệt quan trọng của chủ nghĩa dân tộc 
trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam khi đó, trong phần cương lĩnh và 
phương hướng hành động chung, Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ của Nguyễn Ái 
Quốc đề nghị “phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản… Giờ đây, 
người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, 
và duy nhất của đời sống xã hội của họ”(5).

Ở Việt Nam khi đó, một phương hướng, nhiệm vụ như vậy là đúng đắn và phù hợp với lôgíc. 
Bởi khi đó, ở phương Đông, Đông Dương và cụ thể là, ở Việt Nam, “cuộc đấu tranh giai cấp 
không diễn ra như ở phương Tây”; người lao động, nhân dân bị áp bức tuyệt đại đa số là nông 
dân; trí thức có vai trò đặc biệt quan trọng, ý thức dân tộc của họ rõ ràng mạnh hơn ý thức giai 
cấp (vì ngay giai cấp công nhân Việt Nam trước năm 1924 cũng vẫn còn là giai cấp “tự phát”). 
Cho nên, trong khi tuyên truyền giác ngộ ý thức giai cấp cho họ, thì đồng thời cũng phải “phát 
động chủ nghĩa dân tộc” của họ, bởi vấn đề độc lập dân tộc là vấn đề chủ yếu, nổi lên hàng 
đầu ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến như Việt Nam thời thuộc Pháp. Chủ nghĩa dân tộc 
được phát động như vậy sẽ là một trong những tiền đề, điều kiện vô cùng quan trọng cho một 
cuộc khởi nghĩa vũ trang thắng lợi ở Đông Dương. Trong phần kết luận của mình, Báo cáo về 
Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ đề cập tới “khả năng khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương”. Theo 
Nguyễn Ái Quốc, yếu tố đầu tiên quyết định thắng lợi của cuộc khởi nghĩa đó là nó phải được 
sự ủng hộ và tham gia của toàn thể nhân dân. Người viết: “Để có cơ thắng lợi, một cuộc khởi 
nghĩa vũ trang ở Đông Dương: 1 ­ Phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng chứ 
không phải một cuộc nổi loạn. Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng, nổ ra 
trong thành phố, theo kiểu các cuộc cách mạng ở châu Âu, chứ không phải nổ ra đột ngột ở 
biên giới Trung Quốc, theo phương pháp của những nhà cách mạng trước đây…”(6).

Ở đây, cần nhấn mạnh rằng, trong khi nêu cao vấn đề dân tộc, Nguyễn Ái Quốc ­ Hồ Chí 
Minh không bao giờ hạ thấp hoặc coi thường vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp. Nhiều nhà 
nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đều có chung nhận định rằng: “Hồ Chí Minh đã giải 
quyết đúng đắn, sáng tạo mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, độc lập dân tộc, dân chủ và 
chủ nghĩa xã hội trong quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam”(7). 

Theo Hồ Chí Minh, đối với Việt Nam, không thể giải quyết vấn đề giai cấp trước rồi mới giải 
quyết vấn đề dân tộc như ở các nước tư bản phát triển phương Tây. Mà ngược lại, chỉ có giải 
phóng dân tộc thì mới giải phóng được giai cấp, giải phóng dân tộc đã bao hàm một phần giải 
phóng giai cấp và tạo tiền đề cho giải phóng giai cấp”(8). Sở dĩ như vậy là vì, “ở Việt Nam, 
cùng với sự tồn tại của mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp trong nội bộ dân tộc, nổi lên 
mâu thuẫn dân tộc và đấu tranh giữa toàn dân tộc với chủ nghĩa thực dân đế quốc và bè lũ 
tay sai”(9). Nói tóm lại, Nguyễn Ái Quốc ­ Hồ Chí Minh đã vận dụng chủ nghĩa Mác ­ Lênin 
vào hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam để đề ra con đường cách mạng đầy 
sáng tạo của Việt Nam là: “giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội (giai cấp), giải phóng con 
người với khẩu hiệu: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành 
công”(10).

Như vậy, vấn đề “chủ nghĩa dân tộc” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là khá rõ ràng. Đối với 
Nguyễn Ái Quốc ­ Hồ Chí Minh, chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản 
thống nhất với nhau. Hơn thế, trong những điều kiện nhất định, chủ nghĩa dân tộc có thể phát 
triển thành chủ nghĩa quốc tế vô sản. Trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, 
Nguyễn Ái Quốc cho rằng, “khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi, thì đã lâu lắm rồi, phần lớn 
thế giới sẽ xôviết hoá và lúc đó, nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc 
tế”(11). Bởi vậy, “chủ nghĩa dân tộc theo Hồ Chí Minh, hoàn toàn không phải là thứ chủ nghĩa 
dân tộc phong kiến, tư sản hay của Quốc tế II, (càng không phải là chủ nghĩa dân tộc cải 
lương), mà là chủ nghĩa dân tộc chân chính, theo lập trường chủ nghĩa Mác – Lênin, gắn dân 
tộc với quốc tế, dân tộc với giai cấp, hướng tới triệt để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và 
giải phóng con người”(12). Như vậy, chủ nghĩa dân tộc mà Hồ Chí Minh dùng ở đây, nói như 
C.Mác, không phải như giai cấp tư sản đã hiểu, mà là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân 
tộc chân chính của người dân bản xứ. 

Học thuyết về đấu tranh giai cấp là một nội dung quan trọng trong chủ nghĩa Mác. Khi vận 
dụng học thuyết này vào Việt Nam, bằng sự hiểu biết và suy tư sâu sắc về thực tiễn phương 
Đông và thực tiễn Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định suy nghĩ riêng của mình về vấn 
đề đấu tranh giai cấp ở phương Đông. Ngay ở dòng đầu tiên của Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung 
Kỳ và Nam Kỳ, Nguyễn Ái Quốc đã trình bày ngắn gọn và dứt khoát ý kiến cho rằng, ở 
phương Đông và ở Việt Nam, “cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như phương Tây” 
(phương Tây diễn ra quyết liệt và đẫm máu hơn). Bởi vì, ở phương Tây, có đấu tranh giai cấp 
vì có xung đột về quyền lợi giữa các giai cấp, nhưng ở phương Đông nói chung và ở Việt Nam 
nói riêng, theo Nguyễn Ái Quốc, “sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu”(13). Vì 
sao giảm thiểu, Nguyễn Ái Quốc đã phân tích rất cụ thể và thuyết phục như sau: ở Việt Nam, 
“nếu nông dân gần như chẳng có gì thì địa chủ cũng không có vốn liếng gì lớn; nếu nông dân 
chỉ sống bằng cái tối thiểu cần thiết thì đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa; nếu 
thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết công cụ để bóc lột 
của họ là máy móc”(14). Để làm rõ quan điểm này, Nguyễn Ái Quốc đã so sánh đặc điểm 
trên ở phương Đông với tình hình ở phương Tây, từ đó, dựa trên một chuẩn chung theo học 
thuyết của Mác về giai cấp để nhìn nhận mức độ đấu tranh giai cấp ở phương Đông. Nguyễn 
Ái Quốc đã phác họa ra kẻ bóc lột ở phương Đông là “những kẻ mà ở đó được coi là địa chủ 
thì chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh những người trùng tên với họ ở châu Âu và châu Mỹ” và 
“những tên trọc phú ở đó thì ở đây chỉ là những kẻ thực lợi khá giả thôi”(15).
Như vậy, khi tiếp thu học thuyết Mác về đấu tranh giai cấp, Nguyễn Ái Quốc cũng thừa nhận 
đấu tranh giai cấp là một động lực trong xã hội có giai cấp, nhưng Người không cho đó là 
động lực duy nhất. Xuất phát từ điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa, mất nước với nhiệm 
vụ cứu nước giành độc lập dân tộc đang đặt lên hàng đầu, thì “chủ nghĩa dân tộc là một động 
lực lớn của đất nước”. Bởi vì, chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính của nhân 
dân Việt Nam đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, vốn là động lực tinh thần vô giá 
trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc. Hơn nữa, ở một nước 
thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, sự phân hoá giai cấp đã bắt đầu nhưng chưa 
triệt để và sâu sắc, xung đột giai cấp chưa gay gắt và mạnh mẽ, cả dân tộc đang đấu tranh 
chống chủ nghĩa đế quốc giành độc lập, tự do, thì chủ nghĩa dân tộc là động lực vĩ đại.

Xuất phát từ nhận thức chủ nghĩa dân tộc của người bản xứ là chủ nghĩa dân tộc chân chính, 
như Ph.Ăngghen đã từng nói: “Những tư tưởng dân tộc chân chính trong phong trào công 
nhân bao giờ cũng là những tư tưởng quốc tế chân chính”(16), Nguyễn Ái Quốc đi tới một kiến 
nghị có tính cương lĩnh hành động đối với Quốc tế cộng sản và những nguời cộng sản là phải 
biết chủ động nắm lấy, phát huy và “phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế 
cộng sản”. Làm được điều đó, những người cộng sản sẽ thực hiện được “một chính sách 
mang tính hiện thực tuyệt vời”; và ngược lại, nếu không làm được điều đó, “người ta sẽ không 
thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của 
đời sống xã hội của họ”(17). Và, “khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi… nhất định chủ 
nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế”(18). Đề nghị này mới nghe qua có vẻ như 
một nghịch lý, nhất là vào thời điểm những năm 20, khi Quốc tế cộng sản đang có xu hướng 
bị “xơ cứng hoá” về mặt lý luận. Nhưng thực ra, nó lại rất hợp lý. Theo Nguyễn Ái Quốc, đó là 
“một chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời”(19), bởi nếu nhân danh Quốc tế Cộng sản mà 
phát động thì sẽ không phải là chủ nghĩa dân tộc thuần túy, mà sẽ là chủ nghĩa yêu nước kết 
hợp với chủ nghĩa quốc tế. Về vấn đề này, khi kết thúc Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam 
Kỳ, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Sự nghiệp của người bản xứ gắn mật thiết với sự nghiệp của vô 
sản toàn thế giới; mỗi khi chủ nghĩa cộng sản giành được chút ít thắng lợi trong một nước nào 
đó, nhất là trong một quốc gia đế quốc chủ nghĩa (…) thì đó càng là thắng lợi cả cho người An 
Nam”(20) .

Qua nội dung trình bày trên, có thể thấy rằng, khi xác định con đường cách mạng Việt Nam là 
đi theo cách mạng vô sản, ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã nhận thức 
một cách đúng đắn và giải quyết sáng tạo mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp trong cách 
mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam. Đây chính là một trong những cơ sở cho thắng lợi của 
cách mạng Việt Nam. Lịch sử dân tộc ta đã cho thấy, có nơi, có lúc, do không nắm vững, 
không xử lý tốt vấn đề mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp nên đã có những sai lầm trong 
vấn đề tập hợp lực lượng, gây tổn thất cho cách mạng.

Về chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Charles Fourniau ­ nhà sử học người Pháp 
đã viết như sau: “vấn đề duy nhất đặt ra là cần hiểu rõ tại sao và thế nào mà một người dân 
thuộc địa tất nhiên phải đi theo chủ nghĩa dân tộc? (làm sao lại không như thế được trước 
những sát hạch của chủ nghĩa thực dân?) và tại sao lại tìm được chủ nghĩa cộng sản như là 
con đường duy nhất để thực hiện độc lập cho Tổ quốc mình?”. Ông đã tự trả lời rằng: “Việc áp 
dụng một cách độc đáo chủ nghĩa Mác vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, chắc chắn đó là 
một trong những nguyên nhân thắng lợi của Việt Nam, thể hiện một cách chính xác sự thống 
nhất đã đạt được của truyền thống dân tộc và của cuộc cách mạng sâu xa mà việc áp dụng 
chủ nghĩa Mác đòi hỏi, cũng là sự thống nhất một cuộc cách mạng dân tộc với phong trào 
cộng sản quốc tế, đó là những dấu ấn riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên phong trào cách 
mạng Việt Nam”(21). Những ý kiến của nhà sử học nước ngoài này đã góp phần làm sáng tỏ 
quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa dân tộc.

Những luận điểm về chủ nghĩa dân tộc của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là một phát hiện 
quan trọng và đặc sắc. Chúng không chỉ hoàn toàn đúng với hơn 80 năm qua của cách mạng 
Việt Nam, mà còn có tầm chỉ đạo chiến lược sống còn đối với tiến trình phát triển của cách 
mạng Việt Nam hiện nay. Trước những biến động mới và phức tạp của thế giới ngày nay, khi 
mà nhiều luận đề cũ tưởng như là chân lý bất di bất dịch đã trở nên lạc hậu và cản trở sự phát 
triển, thì những luận điểm trên của Nguyễn Ái Quốc ­ Hồ Chí Minh cách đây 84 năm vẫn cần 
phải được tiếp tục nghiên cứu một cách nghiêm túc và đầy đủ hơn
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản