Chu Văn An

Chia sẻ: Thanh Son | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

1
259
lượt xem
41
download

Chu Văn An

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chu Văn An sinh năm 1292, mất năm 1370, thọ 78 tuổi. Ông tên thật là Chu An, hiệu Tiều Ẩn, tên thụy là Văn Trinh (do vua Trần Nghệ Tông ban cho). Có lẽ vì muốn tôn kính ông cho nên đời sau thêm chữ lót Văn vào tên thật của ông, và quen gọi là Chu Văn An.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chu Văn An

  1. Ðặc San Về Nguồn 2003 1617 Cheney Road, Knoxville, TN 37922 - http://www.venguon.org – venguon@venguon.org Anh em ta về cùng nhau ta sum họp vầy…1, 2, 3, 4, 5… Anh em ta về cùng nhau ta sum họp vầy…5, 4, 3, 2, 1… Các bạn mến, Rất có thể lắm bạn chưa nghe qua những lời hát trên. Và cũng rất có thể là bạn đã khá quen thuộc với những lời hát đơn giản và ngắn gọn này. Nhưng dù đã nghe qua một hay nhiều lần, chúng ta không thể nào không có những xúc động nho nhỏ khi đứng bên nhau cùng hát lên những lời hát ngắn gọn nhưng tràn đầy tình người, tình dân tộc này. Và một lần nữa, lần thứ 14, chúng ta lại từ khắp bốn phương trở về để cùng hát lại những lời hát trên tại trại hè Về Nguồn năm 2003. Các bạn, Những lời hát này càng có ý nghĩa hơn đối với những người con xa quê hương, sống giữa một dân tộc, một đất nước mà chúng ta không thể gọi là đất mẹ, cho dù chúng ta được sinh ra hay trưởng thành trên mảnh đất này. Ðâu đó trong tiềm thức của chúng ta, bản chất và bản năng của nòi giống Việt vẫn còn đó, dù trải qua bao nhiêu thay đổi, thăng trầm trong cuộc sống tại xứ người này. Có lẽ đó là lý do chính mà chúng ta lại một lần nữa trở về để cùng nhau hát lại những lời hát trên, cùng xác định lại niềm tin, niềm tự hào là con Rồng cháu Tiên. Chúng ta cùng trở về để tìm lại tình dân tộc mà chúng ta cảm thấy thiếu thốn trong cuộc sống hàng ngày tại đất nước này. Anh chị em trong ban tổ chức trại cũng một lần nữa cố gắng vượt qua những khó khăn, bận rộn riêng tư để cùng về sum họp với các bạn, cùng góp tiếng hát, nỗ lực làm sống lại những giây phút “Việt Nam” mà chúng ta vẫn mong có. Qua ba ngày trại và quyển đặc san này, anh chị em chúng tôi mong mỏi mang lại cho các bạn những giây phút vui vẻ nhưng bổ ích để sau khi tan trại, tất cả chúng ta đều cảm thấy học hỏi được nhiều điều, ngoài những niềm vui từ những nụ cười, tiếng hát vui vẻ của nhau. Và chúng tôi cũng mong rằng tất cả chúng ta không chỉ Về Nguồn trong dịp trại này mà trong tất cả sinh hoạt, suy nghĩ hàng ngày của chúng ta trong cuộc sống. Thân chúc các bạn một kỳ trại vui vẻ. Ban Tổ Chức 1
  2. Mục Lục • Thư Ngỏ - 1 • Chu Văn An: Chủ Ðề Trại Về Nguồn XIV/2003 - 3 • Tre Tàn Mà Măng Chưa Mọc? - Hoàng Việt Khanh - 8 • Lịch Sử Võ Học Việt Nam - GS Vũ Ðức - 10 • Ngôn Ngữ Của Việt Tộc - Phan Viết Phùng - 17 • Những Cuộc Đổi Họ Lớn Trong Lịch Sử Việt Nam - Trần Gia Phụng - 23 • Ý Nghĩa của Màu Sắc Lá Cờ Việt Nam Tự Do - Khải Chính Phạm Kim Thư - 27 • Quốc Ngữ, Modern Written Vietnamese - Dương Hùng - 29 • Ai Ðặt Quốc Hiệu Việt Nam Ðầu Tiên? - Thành Lân - 32 • Ba Làng Việt Tộc Trong Nội Ðịa Biên Thùy Trung Quốc - Lê Văn Lân - 34 • Chữ Nôm: Văn Hóa Cổ Truyền và Thời Ðại Thông Tin - Nguyễn Quang Hồng, Ngô Thanh Nhàn, Đỗ Bá Phước, Ngô Trung Việt - 37 • Sông Cửu Long, Nguồn Sống Và Mối Đe Dọa Cho Một Phần Dân Tộc Việt Nam - Hoàng Cơ Định - 45 • Ý Nghĩa Quốc Hiệu Lạc Việt - GS Vũ Thế Ngọc - 49 • Đặt Lại Vấn Ðề Nguồn Gốc Dân Tộc và Văn Minh Việt Nam - Nguyễn Văn Tuấn - 53 • Về Nguồn Gốc Dân Tộc Việt Nam và “Ðịa Ðàng Phương Ðông” của Oppenheimer - Nguyễn Quang Trọng - 59 • Một Vài Ghi Chép Thêm về Văn Minh Cổ và Nguồn Gốc Dân Tộc Việt Nam - Cung Ðình Thanh, Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Ðức Hiệp - 71 • Tiếng Việt, Dễ Mà Khó - Nguyễn Hưng Quốc - 82 • Tại Sao Các Sử Gia Thế Giới Tôn Vinh Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn Là Đệ Nhất Danh Tướng Thời Trung Cổ? - Trần Vinh - 85 • Văn Chương và Cảm Thức Lưu Vong - Thầy Đồ Họ Tăng - 91 • Hồ sơ Nhân Văn Giai Phẩm - Thụy Khuê, Paris - 94 • Lưu Bút Lưu Ý • Những ý kiến, quan điểm trong bài vở không nhất thiết là của ban tổ chức Về Nguồn hay của trại viên. • Vì thiếu điều kiện, chúng tôi không thể xin phép một số tác giả để đăng lại một số bài vở trong quyển đặc san này. Chúng tôi thành thật xin lỗi cho sự tự tiện không ngoài mục đích giới thiệu đến giới trẻ và lưu trữ những bài vở nàỵ • Ngoài ra, vì sự trục trặc trong việc chuyển mẫu chữ và số trang báo có hạn, chúng tôi phải cắt bớt một số bài vở đã nhận. Mong các tác giả gửi bài đóng góp thứ lỗi. Liên Lạc Xin quý vị và các bạn gửi bài cho số đặc san năm 2004 qua địa chỉ điện thư: magazine@venguon.org. Xin ưu tiên cho những bài có tính cách tham khảo về các chủ đề liên quan đến văn hóa, lịch sử, và tập quán của dân tộc, đất nước Việt Nam. Ðịa chỉ liên lạc: 1617 Cheney Road, Knoxville, TN 37922 - http://www.venguon.org – venguon@venguon.org 2
  3. Chu Văn An Chủ Ðề Trại Về Nguồn XIV/2003 Phần mở đầu: một đầm nước trong, trường được đặt tên là trường Huỳnh Cung. Khi chọn chủ đề Chu Văn An, chúng tôi không nghĩ đơn giản nhà giáo kiệt xuất Chu Văn An dâng Thất Trảm Sớ để có thể Ngày dạy học, đêm ông nghiền ngẫm ý tứ, chữ nghĩa kinh diệt tham nhũng, thối nát mà phải có một nguyên nhân sâu xa sách và đem điều hiểu biết của mình trao truyền cho học trò. tạo nên xã hội suy đồi, loạn lạc triền miên. Cho nên chúng tôi Ông nổi tiếng là ông thầy dạy giỏi và nghiêm khắc với học có vượt qua giới hạn một bài chủ đề. trò. Học trò ông rất đông và có nhiều người đỗ đạt danh vọng như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát đã làm đến Hành Khiển, Tả Thưa quý vị và các bạn, Bộc Xạ mà vẫn thường lui tới thăm thầy, giữ lễ sụp lạy bên giường của thầy. Kẻ nào làm điều trái khuấy ông quở trách Chúng tôi nhìn lịch sử theo hướng thời đại, tiếp cận với các thậm tệ. Nhờ sự tận tâm giảng dạy, và trường gần kinh đô nên nền văn minh khác trên thế giới khi viết về Chu Văn An cho tiếng tăm của ông vang tới tai vua Trần Minh Tông và ông nên không tránh khỏi những khúc mắc và sai sót. Thêm nữa được vời vào kinh đô làm chức Tư Nghiệp Quốc Tử Giám chúng tôi suy nghĩ nhiều mà viết quá cấp bách và bị giới hạn (một chức quan nhỏ, không nằm trong triều chính, chỉ để dạy nên có những điều không nói hết, có những điều diễn đạt hạn kèm vua học) dạy hai đời vua Hiển Tông và Dụ Tông. Nhưng hẹp, mong quý vị tha thứ và chỉ điểm cho. Chúng tôi sẽ viết dưới hai triều vua Hiển Tông rồi Dụ Tông nhà Trần bắt đầu lại vào một dịp khác. suy vi, nhà vua đam mê tửu sắc, ăn chơi trác táng, trong triều đình nịnh thần ra sức đục khoét. Loạn lạc nổi lên khắp nơi. I. Thân thế và sự nghiệp: Chiêm Thành và Ai Lao khuấy phá biên giới. Ông dâng sớ lên vua Trần Dụ Tông xin chém 7 nịnh thần. Sau đó ông treo Chu Văn An sinh năm 1292, mất năm 1370, thọ 78 tuổi. Ông ấn từ quan về ở ẩn núi Chí Linh và tại đó ông tiếp tục mở tên thật là Chu An, hiệu Tiều Ẩn, tên thụy là Văn Trinh (do trường dạy học. Ðến khi nghe vua Trần Nghệ Tông lên ngôi, vua Trần Nghệ Tông ban cho). Có lẽ vì muốn tôn kính ông ông có trở lại kinh đô để mừng vua mới xong lại trở về Chí cho nên đời sau thêm chữ lót Văn vào tên thật của ông, và Linh. Cuối đời, ông không trở về quê mẹ mà an giấc ngàn thu quen gọi là Chu Văn An. tại Chí Linh năm 1370. Về thân thế của ông rất mơ hồ. Người ta chỉ biết thân mẫu Sau khi ông mất, ông được vua Trần Nghệ Tông truy tặng ông là bà Lê Thị Chiêm, người làng Quang Liệt huyện Thanh cho thụy danh là Văn Trinh và cho thờ trong Văn Miếu sau Ðàm (nay là Thanh Liệt, Hà Nội) Còn thân phụ ông chẳng ai Khổng Tử. biết húy danh và lai lịch, chỉ biết là người phương xa đến tạm trú ở quê vợ và sau đó ra đi biệt tích. Thuở nhỏ, có lẽ ông Ngoài Văn Miếu ở kinh đô, ông còn được các môn đệ của được hấp thụ Khổng giáo từ thân phụ, sau đó ông đọc sách và ông lập đền thờ tại các nơi làng Quang Liệt, trường học tự học hỏi lấy. Theo tài liệu xưa nhất trong Nam Ông Mộng Huỳnh Cung và ở núi Chí Linh. Lục của Lê Trừng (Hồ Nguyên Trừng, con trai trưởng của Hồ Quý Ly, thế kỷ XV) cho biết ông là người điềm đạm, ít ham Ðối với đời sau, trong thời kỳ Nho giáo độc tôn và thịnh muốn và không đi thi. hành, ông được tán dương như một vị thầy vĩ đại, chỉ sau ông Khổng Phu Tử. Vì không có cha và được mẹ tảo tần nuôi dưỡng chăm lo cho ông đèn sách, đó là sự kiện bất thường trong xã hội Việt Nam Theo tương truyền, ông đã viết nhiều tác phẩm ngoài Thất thời đó nên ông mang mặc cảm và có ấn tượng không tốt với Trảm Sớ (sớ xin chém 7 nịnh thần) còn có Tứ Thư Thuyết những người trong làng xóm. Ông không đi thi để mong đỗ Ước, Y Học Yếu Giải, Quốc Ngữ Thi Tập, và Tiều Ẩn Thi đạt làm quan như các sĩ tử khác mà mong đạt tâm nguyện làm Tập. Nhưng hiện nay chỉ còn lại 12 bài thơ được lưu truyền. thầy. Trong xã hội Nho giáo, địa vị ông thầy được trọng vọng Có lẽ tất cả tác phẩm của ông cùng với nhiều tác phẩm văn hạng nhì sau vua và trên ông cha trong ba ngôi "Quân, Sư, hóa Việt bị nhà Minh thiêu hủy và đem về Tàu trong thời Phụ". Ðó là lý do ông chọn nghề dạy học suốt 40 năm trong gian đô hộ Việt Nam. cuộc đời ông. II. Về tư tưởng Chu Văn An: Ông chọn đất mở trường ở ranh giới hai làng Quang Liệt và làng Cung Hoàng thuộc huyện Quang Ðàm rất gần kinh đô Chu Văn An được sinh ra và lớn lên trong ánh hào quang ba Thăng Long (khoảng một dặm đường), trên gò đất cao, trước lần thắng trận quân Mông Cổ vẻ vang của dân tộc. Xã hội ta 3
  4. từ Hùng Vương đến Lý, Trần là một xã hội khoan dung, rộng Văn An là cấp thiết hơn dẫu rằng trong lòng vẫn mang một mở, chấp nhận các học thuyết, các tôn giáo do kẻ cai trị đem nỗi niềm thương nhớ vợ con. lại. Nhưng qua thời gian tổ tiên chúng ta đã tôi luyện, dung hóa thành cái của Việt Nam và mang đặc tính dân tộc. Có lẽ 2. Về việc thi cự của Chu Văn An: Người đời sau đã cho ông ông Chu Văn An cũng được tắm gội trong nền văn hóa ấy. đậu tiến sĩ hay Thái Học Sinh có lẽ là việc sai lầm chăng? Nhưng ông là người kín đáo, ít nói, lại không thích đi thi để Theo sách Nam Ông Mộng Lục của Lê Trừng đã cho rằng làm quan. Ông chỉ thường giao du với quan Tư Ðồ Trần ông Chu Văn An không đi thi. Việc ông không đi thi vì Nguyên Ðán (ông ngoại Nguyễn Trãi). Tác phẩm của ông lại những khó khăn của ông ở làng nước. Mỗi sĩ tử đi thi được không còn nên người ta khó biết được tư tưởng của ông một làng giới thiệu và chu cấp lệ phí thi, mà ông lại không phải cách đích xác. Qua bài thơ chúc mừng ông của Trần Nguyên người làng Quang Liệt, vả lại nếu có đi thi, khi thi đậu ông Ðán, chúng ta được biết ông là người sùng tín đạo Nho và tôn vinh quy bái tổ ở đâu. Làng Quang Liệt chỉ là làng mẹ chứ trọng đạo Lão. không phải quê cha. Tất cả những điều nầy cho thấy rằng ông không đi thi hay có hứng thú đi thi. Học hải hối loan tục tái thuần Thượng tướng sơn đẩu đắc tư nhân Sau này khi ông làm chức quan Tư Nghiệp trong Quốc Tử Cùng kinh bác sử công phu đại Giám để dạy vua (chức vụ này không liên hệ đến triều chính) Kính lão sùng Nho chính hóa tân. không phải do việc thi đỗ mà qua sự dạy học nổi tiếng của ông. nghĩa: 3. Việc ông dâng "Thất Trảm Sớ". Theo cuốn "Kể Chuyện Bể học quang triều sóng, phong tục lại trở nên thuần mỹ Nhà Giáo Kiệt Xuất Chu Văn An" Ðinh Mạnh Thoại có cho Mở trường học gặp người chính đáng như sao Bắc đẩu trên biết rằng ông đem sớ đến phòng ngự riêng của vua Trần Dụ núi cao Tông, nơi ông thường được đặc cách đến dạy học, chứ không Người ấy xem hết kinh sử, công phu lớn phải dâng vua trực tiếp ở triều đình nơi có mặt tất cả bá quan Vừa tôn trọng đạo Lão, vừa sùng tín đạo Nho, nên chính trị văn võ đang họp bàn. Vì vậy việc dâng "Thất Trảm Sớ" chỉ trong nước mới tiến bộ. có ông và vua Dụ Tông biết đến thôi, chứ bên ngoài làm sao (Thảo Ðường Di Tập - Lê Quý Ðôn) biết được "Thất Trảm Sớ" với những nội dung chứa đựng bên trong. Nếu vua Dụ Tông có đọc thì cũng cho thiêu hủy sớ vì Chúng ta được biết cuốn Tứ Thư Thuyết Ước không được lưu sợ ông bị hệ lụy bởi những người trong sớ vì nhà vua quá bạc truyền và có lẽ đã thất lạc dưới thời nhà Minh đô hộ. Nội nhược để có thể thực hiện những điều trong sớ. dung cuốn Tứ Thư Thuyết Ước chẳng có ai biết được. Nhưng đời sau cho rằng cuốn Tứ Thư được Chu Văn An sửa đổi để Chu Văn An dạy học qua hai đời vua Hiển Tông và Dụ Tông. phù hợp với phong tục tập quán của người Việt. Dầu sao khi Thời gian ông ở trong cung khá lâu để hiểu rõ tính tình và tư sửa đổi cuốn Tứ Thư, về cơ bản Chu Văn An đã chấp nhận cách của mỗi ông vua. Ông biết rõ vua Dụ Tông bạc nhược, Tống Nho mà xa rời Nho giáo thời Khổng Tử, vì danh từ Tứ trác táng không đủ khả năng và tư cách mà ông vẫn viết sớ Thư là sản phẩm của Tống Nho. Ngay như tư tưởng của hai dâng lên, phải chăng đó là điều quá tiêu cực và gượng gạo người học trò của ông là Phạm Sư Mạnh và Lê Quát, làm đến lắm không? Hay là việc dâng Thất Trảm Sớ chỉ là cái cớ để chức Hành Khiển, Tả Bộc Xạ là các chức quan cao trong ông thoát khỏi chiếc lồng son gò bó để trở về một phương triều đình đều là những người có tinh thần cực đoan, muốn trời cao rộng, phóng khoáng thích hợp với tính tình của ông. thiết lập một xã hội rập khuôn theo Tàu: trên là vua, con trời Nếu ông muốn dâng Thất Trảm Sớ một cách tích cực thì ông nhận mệnh lệnh Thiên Ðế cai quản thần dân, dưới là quan lại đã tìm cơ hội trình bày lên vua trong khi dạy vua học và cũng là kẻ bầy tôi (tôi tớ của vua) vâng mệnh vua và là "phụ mẫu có thể trực tiếp bàn bạc với các môn đồ của ông đang ở địa vị chi dân". nhất phẩm triều đình. Vì ông không làm quan trong triều chính nên việc dâng trảm sớ không được thực hiện trong buổi Qua tiểu sử và sự nghiệp của Chu Văn An, chúng tôi nhận chầu trước vua và các quan văn võ. Thất Trảm Sớ không có thấy mấy vấn đề khúc mắc: một tác dụng gì để có thể thay đổi một guồng máy thối nát đang dần dà làm sụp đổ ngôi vua nhà Trần. Thế mà đời sau 1. Về thân phụ Chu Văn An, chúng tôi nghĩ rằng thân phụ truyền tụng Thất Trảm Sớ có nội dung làm yêu ma phải rợn ông là một trí thức người Hoa họ Chu, vì không chịu sự áp lòng, chữ viết như phượng múa rồng bay đến nỗi Cao Bá bức của quân xâm lăng Mông Cổ nên đã chạy thoát qua Việt Quát ca tụng: Nam tỵ nạn chính trị. Việc chọn làng Quang Liệt, gần với kinh đô Thăng Long để định cư và lấy vợ người Việt ở đó là "Thất trảm yêu ma phải rợn lòng một thái độ khôn ngoan. Ở đây, ông có cơ hội để dò biết và Trời đất soi chung vừng hào khí học hỏi bí kíp kháng chiến chống Nguyên Mông của nhà Nước non còn mãi nếp cao phong" Trần để sau đó rời bỏ vợ con về Tàu lập các ổ kháng chiến trên đất Tàu. Nếu ông là một người Việt, chắc chắn ông có ra Có lẽ việc ca tụng Thất Trảm Sớ chỉ là cái cớ làm gương cho đi rồi cũng sẽ trở về để dẫn vợ con ra mắt quê nội và có trách đời sau noi theo. nhiệm của người chồng, người cha trong một xã hội lấy gia đình làm trọng. Nhưng đằng nầy ông một đi không trở lại, 4. Tiện đây chúng tôi cũng xin nói về thân mẫu Chu Văn An. chắc chắn việc giải phóng quê hương Tàu của thân phụ Chu Chúng ta được biết rằng ông được mẹ nuôi dưỡng ở quê mẹ 4
  5. từ hồi còn nhỏ dại đến lúc trưởng thành. Mẫu thân ông quả là quay về nơi thâm sơn cùng cốc để lo tu hành. Ðến đời vua Lý một phụ nữ Việt Nam gương mẫu, tiếp nối truyền thống thần Nhân Tông, để có nhiều người tài giỏi giúp triều chính, nhà mẫu Âu Cơ với đức hy sinh, nhẫn nhục chịu đựng. Bà mẹ vua nghĩ ngay đến việc giáo dục để đào tạo nhân tài. Năm Việt Nam coi gia đình, con cái như lẽ sống của đời mình. 1070, nhà vua mở đầu việc giáo dục bằng cách cho dựng nhà Không có chồng bên cạnh, bà ở vậy tảo tần buôn thúng bán Văn Miếu, năm 1076 cho thành lập Quốc Tử Giám, năm bưng nuôi con cho con ăn học thành tài, chẳng bao giờ than 1086 mở khoa thi để chọn người vào Hàn Lâm Viện. Người trách hay nản lòng đỗ đầu khoa thi nầy là Mạc Hiển Tích (ông cố của Mạc Ðỉnh Chi) được bổ vào làm Hàn Lâm Viện Sĩ. "Lặn lội thân cò nơi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông" Dưới đời nhà Trần, việc giáo dục được kiện toàn chu đáo hơn. Ngoài phép thi tam trường, nhà Trần mở khoa thi tam Dầu qua bao nhiêu thời đại thăng trầm của lịch sử dân tộc, giáo để chọn người xuất sắc không phân biệt tôn giáo. Thời phẩm giá của người phụ nữ Việt không bao giờ thay đổi: kỳ nầy Nho học chưa ở địa vị độc tôn. Văn hóa truyền thống Ngoài trận mạc nêu danh người nữ anh hùng bất khuất như của đất Lĩnh Nam với tính chất nhân bản và khai phóng vẫn hai bà Trưng, bà Triệu, bà Bùi Thị Xuân, cô Giang, cô Bắc... còn được truyền tụng. Sĩ tử không bị câu chấp trong giáo điều Trong gia đình họ là những hiền thê, hiền mẫu. Từ ngàn xưa hạn hẹp, nhờ đó họ có tinh thần đạo đức, sự hiểu biết sâu xa cho đến ngày nay, trên đường tỵ nạn cộng sản, bên cạnh và rộng rãi. Xã hội an bình, trên dưới một lòng: trên thì vua những đứa con thành tài đều có những bà mẹ gương mẫu. Nói chúa làm gương, dưới thì nhân dân kính ngưỡng không làm tới lịch sử Việt Nam anh hùng, vẻ vang, phải nói tới công lao điều xằng bậy. đóng góp to lớn của người phụ nữ Việt Nam vậy. Qua câu chuyện Mạc Ðĩnh Chi đi sứ Trung Quốc, chúng ta Chính quyền đô hộ Tàu rất sợ tinh thần phụ nữ Việt Nam với thấy rõ tinh thần sáng tạo và khai phóng của sĩ tử. Trong một đặc tính nhân bản và bình đẳng của văn hóa Việt, nên khi Mã buổi yến tiệc thiết đãi các sứ thần, vua Nguyên thử tài ứng Viện cai trị dân ta đã ra sức thuần hóa phụ nữ bằng văn hóa đối của các sứ thần mới hỏi Mạc Ðỉnh Chi rằng "Những Khổng Mạnh, đưa người phụ nữ vào địa vị thấp kém. Những người đi quan lộ, một ngày có mấy vạn người, sứ thần có biết "phu xướng phụ tùy" (chồng quyết định điều gì thì người vợ được không?" Mạc Ðỉnh Chi đáp "Chỉ có hai người". Vua phải theo mà không có ý kiến), "tam tòng" (ở nhà thì phải ngạc nhiên, Mạc Ðỉnh Chi thưa "phàm những người đi trên nghe lời cha mẹ, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó không được trái quan lộ không vì danh thì vì lợi, như thế chẳng phải chỉ có lời, khi lấy chồng phải theo chồng, khi chồng chết phải theo hai loại người sao". Vua rất tâm phục nhưng lại ghét vì tài, con), "trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng". muốn bắt lỗi để giữ lại nên đặt ra câu hỏi khúc mắc khác để Vị trí nào danh dự cho người phụ nữ dưới thời đô hộ Tàu và bắt bí ông. thời phong kiến mà Tống Nho ở địa vị độc tôn? May thay Tống Nho chỉ thịnh hành ở những nơi thành thị trong giới "Một vua, một thầy, một cha cùng đi một chuyến đò qua vua quan, những nho sĩ, học sĩ. Ở những thôn quê làng mạc sông, chẳng may đò bị lật, ông ở trên bờ trông thấy phải dân chúng không biết chữ Hán, không học những giáo điều xuống cứu. Nhưng một thân mình không thể vớt cả ba người Tống Nho nên xã hội vẫn giữ được nếp sống văn hóa Việt. mà chỉ vớt được một thôi, ông sẽ vớt ai?" Nhà vua dự tính Nếp sống đó đã thấm vào cung cách cư xử, ăn nói, trong nếu Mạc Ðỉnh Chi nói vớt vua. Vua sẽ cho là nịnh thần, sẽ huyết quản của mỗi người dân. kết tội bất nghĩa, bất hiếu. Nếu nói vớt thầy thì bị tội bất trung bất hiếu. Nếu nói vớt cha thì sẽ phạm tội bất trung, bất Có lẽ vì ảnh hưởng Tống Nho, coi nhẹ vai trò người phụ nữ nghĩa. Ba điều "bất trung, bất nghĩa, bất hiếu" đều được nhắc nên trong văn thơ của Chu Văn An không một lần nhắc nhở nhở trong các kinh điển Tống Nho: trên là vua, dưới là thầy, đến bà mẹ của mình chịu bao điều cay đắng, nhẫn nhục nuôi kế là cha. Sĩ tử nào cũng phải thuộc nằm lòng. Câu hỏi thật mình khôn lớn, thành tài. Chính vì xã hội Nho giáo độc tôn lắt léo. Vua nghĩ là Mạc Ðỉnh Chi sẽ trả lời theo giáo điều, sẽ nên văn học sử Việt cũng chưa một lần nào nhắc đến bà Lê bí và sẽ bị bắt tội. Nhưng chúng ta thấy tinh thần truyền thị Chiêm với những công lao to lớn của bà đối với sự thành thống đất Lĩnh Nam xưa của dân tộc là tinh thần nhân bản, công của Chu Văn An. Ngay cả việc dựng ba bốn đền thờ cho tôn trọng con người, lấy tình nhân ái làm trọng, cho nên nếu Chu Văn An, có một chỗ nho nhỏ nào trong các đền thờ ấy để có cơ hội cứu ai được thì cứu chứ không phải tìm kiếm một ghi ơn sự hy sinh cao cả của người mẹ? Nhưng, thật cao quý người thật quan trọng để cứu trước và không được thì cho thay, chẳng một bà mẹ than trách. Ðối với họ, sự thành đạt chết tất cả. Thấm nhuần tinh thần ấy, Mạc Ðỉnh Chi từ tốn trả của chồng con là đủ, họ coi việc làm của mình tự nhiên như lời: "Nếu bất hạnh thần gặp trường hợp nầy, khi kịp xuống gió thổi mây bay, có chi đáng kể cho đời. nước gặp ai thì vớt người ấy, không phân biệt". Vua Nguyên chịu phục tài ứng biến của ông và trọng thưởng cho ông rất III. Bối cảnh giáo dục trước và sau thời đại của Chu Văn An hậu. Quả xứng đáng là một vị Lưỡng Quốc Trạng Nguyên. Từ khi nước nhà độc lập cho đến đầu triều đại nhà Lý, mọi sự Thế nhưng đến đời vua Trần Anh Tông đột nhiên bỏ khoa thi giao thiệp với nước ngoài và sự cố vấn về nội trị đều nhờ sự tam giáo. Ông cải tổ lại tất cả việc thi cử chặt chẽ hơn. Chỉ có giúp đỡ của các chùa chiền. Những vị đóng góp công lớn vào Nho giáo được làm đề tài chính cho các khoa thi. Các khoa thời kỳ nầy đều là những vị chân tu tài ba như Ngô Chân thi Nho giáo được phân chia làm tam trường (tức là thi Lưu, La Thuận, Khuôn Việt, Vạn Hạnh... Nhưng một khi đất hương, thi hội và thi đình). Ai đỗ tam trường thì thi Thái Học nước an bình, họ không muốn dấn thân vào thế sự mà muốn Sinh (sau nầy lại gọi là thi Hội). Trong số những người đỗ 5
  6. Thái Học Sinh thì chọn ba người xuất sắc nhất gọi là tam tuệ sáng suốt. Chúng ta đã tha hóa quá mức rồi, nên mới nhìn khôi gồm Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa. Cách phân cái gì của người Việt đều xấu rồi phỏng theo Tây theo Tàu chia nầy xuất phát từ đời nhà Tống. Chứng tỏ khoa giáo dục viết cuốn Người Việt Xấu Xí. Cái xấu xí của người Việt và thi cử bắt đầu giữa đời nhà Trần đã bị ảnh hưởng của Tống không phải của tất cả người Việt. Xin hãy trở về nông thôn, Nho khá mạnh. nhìn vào những người nông dân để thấy được nếp sống người Việt trong họ. Trong cuốn truyện "Phi Lạc Sang Tàu" học giả Dưới đời nhà Trần vấn đề giáo dục phát triển mạnh. Ngoài Hồ Hữu Tường có câu nói chí lý là khuyên người học giả Tây Quốc Tử Giám dành riêng cho con em quý tộc, còn có các phương muốn nghiên cứu văn hóa Việt đừng đi vào Viện trường Từ Thiện Ðường, Toát Trai Ðường, và ở các làng có Viễn Ðông Bác Cổ cũng đừng hỏi các vị trí thức thành thị mà điều kiện mở trường đều do các thầy đồ, thầy khóa, hay các hãy đi vào các làng mạc hỏi thằng mõ Cổ Nhuế. Rõ ràng văn hào trưởng ở xa được mời về dạy. Chu Văn An mở trường hóa chúng ta mặc dầu bị trấn áp thô bạo của văn hóa Tàu, văn Huỳnh Cung gần kinh đô. Nho sinh được vỡ lòng bằng cuốn hóa Tây, vẫn âm ỉ cháy trong cuộc sống, trong máu, trong Tam Tự Kinh, học thuộc lòng từng chữ như thiên = trời, địa = xương tủy của các nông dân chất phác. Chúng ta hãy rửa đất, tử = mất, tồn = còn, lục = sáu, tam = ba, gia = nhà, quốc khuôn mặt trát phấn lem luốc của Tây của Tàu, chúng ta mới = nước... Học hết Tam Tự Kinh sang Sơ Học Vấn Tân, Ấu nhận chân được thật sự khuôn mặt của chúng ta. Người Việt Học Ngũ Ngôn Thi, Dương Tiết, Minh Tâm Bửu Giám, hầu không xấu xí trong tinh thần NHÂN BẢN VÀ NHÂN CHỦ. hết những sách đều có vần, dễ thuộc. Học rồi tập viết, viết ám tả. Xong rồi học đến Tứ Thư, Luận Ngữ, Mạnh Tử, Ðại Học, IV. Bối cảnh xã hội Việt Nam dưới thời đại nhà Trần trước Trung Dung. Học xong Tứ Thư thì bắt đầu làm câu đối như và sau Chu Văn An trời đối với đất, gia đối với nước... kế đến học Ngũ Kinh, bắt đầu bằng Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu, Kinh Thư và Sau khi cướp ngôi nhà Lý từ Lý Chiêu Hoàng, nhờ các biện cuối cùng là Kinh Dịch. Sau đó được học những bài văn mẫu pháp cứng rắn của Trần Thủ Ðộ, các cuộc nổi loạn trong trong đó có đủ loại: phú, văn sách, kinh nghĩa, tứ lục... Tác nước đều được dẹp tan. Nhà Trần từng bước xây dựng và phẩm phải học là Thông Giám Cương Mục của Chu Hi từ đầu củng cố địa vị trên phạm vi cả nước. Năm 1230 nhà Trần cho đến thời Bắc Tống, tức là đến năm 1121. Lúc thi cũng chỉ thi biên soạn bộ Quốc Triều Thông Chế để xây dựng lại cơ sở từ đầu cho đến Bắc Tống mà thôi. Khi học xong hết, sĩ tử ôn hành chánh. Năm 1242 Trần Thái Tông chia khu vực hành tập, đi thi. Như vậy cách dạy cũng như cách học đều nằm chánh cả nước làm 12 lộ. Mỗi lộ đều có quan cai trị là An trong khuôn phép, chỉ học thuộc lòng là đủ. Thông minh thì Phủ Sứ. Mỗi lộ đều có các đơn vị hành chánh thông thuộc nhanh thuộc, nhớ nhiều. Toàn bộ sách học chỉ trên dưới 5 như châu, huyện, xã. Nhà Trần cắt đặt nhân sự để điều khiển ngàn trang. Lối học ngày xưa đều lấy sách quyết định tất cả. mọi hoạt động hành chánh qua việc tuyển dụng bằng khoa cử. Nhưng những chức vụ then chốt đều do quý tộc họ Trần nắm Nói chung lối học nầy theo từ chương, mất hết đầu óc sáng giữ. Và để đề phòng các hoàng tử tranh giành ngôi báu, vua tạo, đầu óc độc lập. Bất cứ điều gì đều lấy kinh sách giải nhà Trần sớm nhường ngôi cho con để lên làm Thái Thượng quyết, chứ không lấy ý kiến riêng của mình mà quyết định. Hoàng. Quyền lực của Thái Thượng Hoàng trong triều cũng Từ thơ, văn, âm nhạc, kịch nghệ đều mang nặng tính điển như ngoài xã hội rất lớn. tích, từ chương, trích cú. Chính cái học từ chương nầy làm cùn dần tinh thần năng nỗ, sáng tạo của sĩ phu. Cho nên mỗi Về thuế má, cũng như đời nhà Lý, nhưng nhà Trần tổ chức khi có xâm lăng nước ngoài hay các cuộc cách mạng lật đổ hoàn bị hơn. Thuế gồm có thuế thân, thuế ruộng, thuế muối, bạo quyền đều trông cậy vào giới nông dân. Từ Ðinh, Lê, Lý, và các thứ thuế linh tinh khác như tôm cá, rau quả... Nhà Trần Trần, Nguyễn... những nhà vua khai sáng triều đại đều không cũng khuyến khích khai khẩn đất hoang để trồng trọt. Về thủ ở trong giới quý tộc hay các sĩ phu nho học mà xuất thân từ công nghệ, giao thông buôn bán được phát triển mạnh. Về giới bình dân ít học, như anh hùng áo vải Lam Sơn Lê Lợi, ngoại thương, có nhiều thuyền bè ngoại quốc cập bến buôn hay nông dân đất Tây Sơn Nguyễn Huệ... bán. Về quân đội, nhà Trần chia quân đội làm bốn binh chủng: bộ binh, thủy binh, tượng binh và kỵ binh, nhưng lợi Ðất nước ta suốt ngàn năm bị đô hộ Tàu và đến gần một ngàn hại nhất là tượng binh và thủy binh. Nhà Trần chủ trương năm độc lập, giới sĩ phu, trí thức chúng ta chìm đắm trong binh quý ở chỗ tinh nhuệ mà không cần nhiều, nên quân được cơn mông muội của triết thuyết Hán Nho cho đến Tống Nho. huấn luyện võ nghệ và cả binh pháp. Kịp đến khi Tây vô xâm chiếm đất nước, sĩ phu chúng ta mới tỉnh ngộ, lúc đó bắt đầu đạp đổ cái cũ, chạy theo cái mới. Chính nhờ ổn định xã hội, tổ chức quân đội chặt chẽ nhanh Phong trào cải biên ồ ạt mà không nhận chân được cái gì của chóng nên quân dân ta đã thắng quân Mông Cổ vẻ vang năm dân tộc mình, cái gì mình mượn từ văn hóa Tàu. Từ đó các 1258. Năm 1284 và năm 1288, quân Mông Cổ lại hai lần đem nhà trí thức chúng ta lao đầu vào các học thuyết xa lạ của Tây quân qua xâm lăng nước ta, quân dân Ðại Việt oanh liệt phương được coi như tiến bộ. Hồ Chí Minh đã du nhập một chống trả và hai lần thắng trận dưới sự thống lãnh của Hưng học thuyết độc hại Cộng Sản vào Việt Nam gọi là giải phóng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn. Nói đến ba lần thắng trận vẻ dân tộc mà thực chất là tạo thêm một cái ách mới tròng vào vang quân Mông Cổ, chúng ta không quên đề cập đến đường cổ dân tộc. lối chính trị đầu đời nhà Trần. Lúc mới tiếp thu ngôi báu của nhà Lý, Trần Thủ Ðộ chủ trương pháp trị với những biện Chúng ta hãy trở về cội nguồn của dân tộc, xây dựng lại con pháp cứng rắn để ổn định. Nhưng dần dần vua Trần Thái đường học vấn chân chính dân tộc của mấy ngàn năm dựng Tông đã cho dung hòa với chính sách nhân trị, truyền thống nước vua Hùng với tình thương yêu chân thật và bằng một trí tâm linh của đất Lĩnh Nam. Một cứng, một mềm, quyền lợi 6
  7. cá nhân và quyền lợi tập thể quyện vào nhau, hòa hợp làm đồng lưu hành dưới thời đô hộ của Tàu. Phật giáo và Lão một, tập thể vì cá nhân và cá nhân vì tập thể. Cho nên, từ vua giáo không được khích lệ và áp đặt như Hán Nho nên đã bình chí dân trên dưới một lòng. Hội nghị Bình Than và hội nghị lặng đi vào dân gian tạo nên một thế độc lập dân tộc để kình Diên Hồng nói lên tinh thần đó. Chính nhờ tinh thần nhân bản chống quân xâm lăng suốt thời kỳ chịu sự đô hộ của Tàu. Có được thể hiện qua tấm lòng đức độ của các vua Trần mà xã người gọi ba tôn giáo đồng lưu nầy là tam giáo đồng nguyên. hội đi vào trật tự một cách hòa bình. Từ khi nền giáo dục Nho Chúng tôi nghĩ rằng điều nầy không đúng. Phải nói tam giáo học phát triển mạnh, giới nho sĩ xuất hiện trong xã hội ngày đồng lưu mới đúng vì Phật giáo xuất phát từ Ấn độ, Khổng càng nhiều. Chính tầng lớp trí thức nho gia nầy có khuynh giáo từ Trung hoa, người ta chưa rõ Lão giáo xuất phát từ hướng tư tưởng độc tôn, bế quan và từng bước đẩy lùi Lão đâu. Nhưng theo cụ Hoàng Văn Chí thì Lão giáo cũng từ Ấn giáo và Phật giáo vào bóng tốị Ðại diện cho khuynh hướng độ. Cụ cho rằng Lão Tử có lỗ tai dài giống Phật nên người nầy gồm có Trương Hán Siêu và hai người học trò giỏi của thường quen gọi là Lão Ðam (người có lỗ tai dài). Cho nên Chu Văn An là Phạm Sư Mạnh và Lê Quát. Lão Tử là người Ấn đô CảPhật và Lão giáo đều không xuất phát từ Trung hoa nên không thể gọi là đồng nguyên được. Trong Cổ Văn Học Sử của Nguyễn Ðổng Chi có viết "Vì nho sĩ 'bạch diện thư sinh' (người học trò mặt trắng) càng ngày Tinh thần dân tộc Việt là tinh thần khai phóng. Trong câu càng chịu ảnh hưởng Tống Nho nên mới có tư tưởng thiên chuyện huyền thoại Tản Viên cuốn sách ước nói lên sự tự do lệch, không phản chiếu được nguyện vọng của tầng lớp nông tư tưởng. Người Việt lại có tín ngưỡng dân gian cho nên dân là cơ sở của dân tộc..." Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam những tôn giáo phù hợp với những điều họ đang sống, đang của giáo sư Nguyễn Ðăng Thục có viết: "Bởi vì dù văn suy tư đều được tiếp nhận nồng hậu. Ðời nhà Lý và đời nhà chương hay, chính sự giỏi mà thiếu nhân cách đạo đức, đấy là Trần, Phật giáo được hướng dẫn bởi các vị chân tu trí thức thiếu tinh thần thực hiện tâm linh nên Lê Quát, Phạm Sư nên nghiêng hẳn về thiền tông hơn là tịnh độ. Phật giáo được Mạnh, Trương Hán Siêu đã đi vào khuynh hướng Nho học bế nghiên cứu và tu học thanh tịnh. Nhưng khi Tống Nho đẩy quan, không khai phóng nữa..." Phật và Lão vào bóng tối thì Phật, Lão lại được phát triển mạnh trong dân gian qua lễ lượt, cúng bái, cầu an, cầu siêu và Từ cuối đời nhà Trần, xã hội bắt đầu loạn lạc. Trong triều có nơi trộn lẫn với Lão giáo đi sâu vào bói toán, đồng bóng, đình chia phe cánh, nịnh thần ra sức gây ảnh hưởng chia dị đoan. Cho nên càng về sau trong giới Phật giáo hiếm có chác đặc quyền đặc lợi. Dân chúng chịu muôn vàn khổ cực vì các bậc chân tu, đạo hạnh hướng dẫn quần chúng như đầu quan lại tham ô vơ vét. Giặc giã nổi lên khắp nơi. Ngoài biên niên đại nhà Trần. cương Lào, Chiêm Thành đem quân quấy phá. Ðỉnh cao loạn lạc bắt đầu vào triều vua Dụ Tông. Nhà vua đam mê tửu sắc, Chúng tôi muốn phân tích tinh thần Phật, Lão giáo dưới đời lãng phí của công, kêu nhà giàu vào trong cung đánh bạc... nhà Trần nhưng thời gian và khuôn khổ quá hạn hẹo nên Nhìn cảnh tượng như vậy, Chu Văn An chán ngán thấy dạy không thể viết thêm cho đầy đủ được. Nhưng qua bối cảnh người học trò như nước đổ đầu vịt. Ông dâng sớ chém bảy lịch sử thời Chu Văn An và cuộc đời Chu Văn An, chúng ta nịnh thần và treo áo từ quan, rút lui về ở ẩn. Cả một xã hội thấy rằng nhiệm vụ người trí thức lãnh đạo quần chúng không băng hoại kéo theo nhà Trần mau chóng sụp đổ. thể nào giáo điều mà phải có tinh thần cởi mở, sáng tạo. Cái tinh thần đó chỉ được tìm thấy trong tinh thần khai phóng Hệ thống Tống Nho nầy mỗi ngày một phát triển như một cỗ truyền thống của dân tộc. Giáo điều và bế quan dẫn chúng ta xe nặng nề, cộc kệch. Những người muốn sửa đổi như Hồ đến căn bệnh tự mãn, tham nhũng, thối nát. Xã hội sẽ trở nên Quý Ly, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ đều bị bánh xe của nó loạn lạc và tự hủy diệt. Hiện nay, tín điều cộng sản đã và nghiền nát. Cho đến ngày đất nước bị trăm năm ngoại thuộc đang đào cái hố sâu cho toàn dân tộc. thực dân Pháp hệ thống này mới chụi sự rã rời. Sách tham khảo : V. Bối cảnh tôn giáo dưới thời Chu Văn An - Việt Sử Tiêu Án, Ngô Thì Sĩ Trước khi các tôn giáo vào nước ta, đất nước ta dưới thời - Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam, Phan Ngọc Hùng Vương đã hình thành một nền tư tưởng khá vững vàng. - Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim Dân chúng thời ấy có một tín ngưỡng riêng về đạo hiếu, về - Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam, Nguyễn Ðăng Thục việc thờ cúng tổ tiên, quỷ thần,và tin tưởng những người chết - Lịch Sử Triết Học Ðông Phương, Nguyễn Ðăng Thục đi được sinh lại. Ngay cả lịch pháp thời vua Hùng Vương - Lịch Sử Cổ Trung Ðại Việt Nam, Nguyễn Khắc Thuần chia mỗi năm có 360 ngày, 90 ngày làm một mùa, và 7 ngày - Duy Văn Sử Quan, Hoàng Văn Chí là một tuần. Những thành tựu ấy qua kinh nghiệm trồng lúa - Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư của tổ tiên ta. Ngay chính Mã Viện khi đánh thắng Hai Bà - Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, Lê Mạnh Thát Trưng đã phải công nhận rằng luật pháp của ta có mười điều - Bản Sắc Dân Tộc Trong Văn Học Thiền Tông Thời Lý khác với luật pháp Tàu. Như vậy thời Hùng Vương chúng ta Trần, Nguyễn Công Lý đã có một hệ thống chữ viết để mô tả các điều phong phú ấy. - Chu Văn An Khuôn Mặt Người Thầy, Hoài Việt Mã Viện khi đô hộ dân ta đã ra sức phá hoại tất cả những di - Kể Chuyện Nhà Giáo Kiệt Xuất Chu Văn An, Ðinh Mạnh sản văn hóa thời vua Hùng và áp đặt lên dân ta tất cả điều luật Thoại Tàu và hệ thống Hán Nho. Trước hay sau thời kỳ nầy, Phật - Sự Muôn Năm Cũ, Trần Văn Tích giáo và Lão giáo cũng đã xuất hiện. Như vậy ba tôn giáo nầy 7
  8. Tre Tàn Mà Măng Chưa Mọc? Hoàng Việt Khanh Việc ra đi cùng lúc của hai nghệ sĩ lớn Tám Trí và Ngọc Nuôi năm 1992-1994, trong số 1542 người được hỏi trên toàn trong làng âm nhạc hải ngoại là một cái tang chung cho cả quốc, có 35% thích Cải Lương, 13.9% nghe Dân Ca, 4.3% nền âm nhạc truyền thống Việt Nam. Từ mất mát lớn lao ấy, thưởng thức Chèo, và 2.4% yêu thích Tuồng. Rõ ràng là chúng tôi xin có vài suy nghĩ về tình hình duy trì và phát triển nghệ thuật Chèo và nhất là Tuồng, một loại sân khấu nhạc âm nhạc truyền thống tại hải ngoại. kịch mà chính nhạc sĩ người Pháp nổi tiếng Claude Debussy phải thán phục khi được thưởng lãm, sẽ biến mất khỏi kho Đã từ lâu, nhiều người trong chúng ta có những nhận thức sai tàng văn hóa dân tộc. Đáng buồn tương tự, trong hai lần tổ lạc hoặc phiến diện về nền âm nhạc truyền thống Việt Nam. chức trò chơi đố nhạc dành cho khoảng 500 em sinh viên Hàng ngày, những lời lẽ mang tính miệt thị, coi thường âm tham dự trại hè ở miền Nam California, chính người viết đã nhạc truyền thống với những câu nói đại loại như “đồ cải khám phá ra rằng, hầu hết các em không biết và không thể lương”, “phường chèo bội”, v.v., có thể phát ra một cách vô liệt kê chỉ 5 nhạc cụ dân tộc của Việt Nam, và thậm chí họ rất tình hay hữu ý. Ngay trong cách sử dụng từ ngữ hàng ngày, phân vân trước câu hỏi ai là tác giả của một bài Lý phổ thông chúng ta cũng đã vô tình nhầm lẫn khi nói cổ nhạc hoặc tân nào đó. Chúng ta cũng thử tự hỏi, hiện nay có bao nhiêu bà nhạc. Thoạt tiên, người nghe có thể nghĩ và so sánh đến một mẹ Việt Nam ở Mỹ biết hát Ru để ru con? Hay họ sẽ cho con loại âm nhạc đã cổ xưa với một loại âm nhạc mới. Thật ra, họ nghe nhạc Pop, hoặc ngay cả Rap? Rõ là, “Tre tàn mà hai khái niệm này chỉ đúng với nền âm nhạc Việt Nam ở đầu măng chưa mọc!”. Khi đề cập đến sự tiếp nối, có một giáo sư thế kỷ 20 nhằm phân biệt loại âm nhạc truyền thống và loại dạy nhạc truyền thống Việt Nam ở California đã thốt lên âm nhạc bị Tây phương hóa. Trong bối cảnh nền âm nhạc rằng: “ Tình hình này, trong vòng 5, 10 năm tới có lẽ chúng Việt Nam và thế giới hiện nay, với sự đa dạng và giao lưu ta sẽ mất hẳn nền âm nhạc truyền thống Việt Nam”. mạnh mẽ, nhiều học giả đồng ý rằng nên sử dụng cụm từ âm nhạc truyền thống để chỉ loại âm nhạc thuần túy Việt Nam, Nhưng tôi không bi quan đến như vậy vì chúng ta còn có rất được truyền lại qua nhiều đời và để thay cho danh từ cổ nhạc. nhiều tấm lòng nặng tình với nền văn hóa truyền thống của Mặt khác, ngay trong số những người đã từng hoạt động lâu quê cha đất tổ. Thực tế đã chứng minh rằng, ngay trong năm trong lĩnh vực âm nhạc cũng đã có những cái nhìn rất những năm tháng chiến tranh khốc liệt giữa hai miền Nam phiến diện về nền âm nhạc Việt Nam. Chẳng hạn, có luận Bắc, nền âm nhạc truyền thống Việt Nam vẫn được duy trì và điểm cho rằng dân tộc Việt Nam hoàn toàn không có các điệu phát triển; kể cả khi làn sóng nhạc Pop và Rock tràn vào Việt múa dân tộc. Sự thật, chúng ta có khá nhiều thể loại múa dân Nam cùng với những người lính Hoa Kỳ và các phương tiện gian khác nhau như múa Dâng Bông, múa Rồng Rắn, múa thông tin hiện đại. Đặc biệt, sau 1975, ở hải ngoại cũng đã có Gậy, múa Siêu, múa Đèn, múa Dâng Hương, hoặc múa Xuân rất nhiều cố gắng của các cá nhân hoặc đoàn thể trong việc Phả – một loại múa màtất cả các diễn viên đều mang mặt nạ – duy trì và phát triển văn hóa Việt Nam nói chung và âm nhạc v.v.; dù đa phần các điệu múa dân gian này đã được phối hợp truyền thống Việt Nam nói riêng. Các giáo sư dân nhạc học vào trong các loại hình nghệ thuật sân khấu như Chèo hoặc người Việt như Trần Văn Khê và Nguyễn Thuyết Phong, các Tuồng (Hát Bội). Cũng có ý kiến nói rằng Việt Nam chỉ có nhà nghiên cứu như Trần Quang Hải, Lê Tuấn Hùng, Lê hùng ca kể từ khi có cuộc kháng chiến chống Pháp. Điều này Ngọc Chân, v.v..đã không ngừng tham gia các cuộc hội thảo, cũng không đúng, vì chúng ta có thể tìm thấy trong Tuồng có biểu diễn, và giảng dạy ở nhiều nơi trên thế giới nhằm quảng rất nhiều hùng ca. Hoặc có người cho rằng Việt Nam chỉ có bá âm nhạc Việt Nam. Ngay chính tại miền Nam California, hát hợp ca từ thời Pháp thuộc, nhưng trong hát Chèo hoặc Hò các giáo sư và nghệ sĩ như Nguyễn Châu, Nguyễn Thị Mai, - với phần họa và xướng- đã xuất hiện thể loại hợp ca từ Chí Tâm, Hoàng Oanh, Việt Hùng, Tám Trí, Ngọc Nuôi, trước đó rồi! Dũng Thanh Lâm v..v. đã không ngừng nghỉ tổ chức các lớp dạy nhạc cụ dân tộc, các buổi biểu diễn, các cuộc thi. Các vị Dựa trên những nhận thức lệch lạc và tầm nhìn phiến diện ấyï cũng đã đóng góp giọng hát tiếng đàn của mình trong hiện nay về nền âm nhạc truyền thống Việt Nam, kết quả là công trình lưu trữ vàphổ biến dân nhạc Việt Nam tại Hoa Kỳ chúng ta đang vô tình đánh mất di sản âm nhạc đồ sộ và quí mà giáo sư Nguyễn Thuyết Phong thực hiện từ hơn 10 năm báu của ông bà chúng ta. Mặc dù giáo sư tiến sĩ dân nhạc học qua thông qua một chương trình do chính phủ Mỹ tài trợ. Terry Miller ở đại học Kent State, Ohio, đã từng nể phục: Tuy nhiên, nhìn chung, các nổ lực quí giá này chỉ giống như “Việt nam có một kho tàng âm nhạc phong phú”, có rất nhiều “gió vào nhà trống” vì vẫn còn mang tính qui mô nhỏ, cá thanh thiếu niên Việt Nam đã hoàn toàn hoặc phần nào đó nhân, thiếu những phong trào rộng lớn cũng như sự hổ trợ không biết gì về nền âm nhạc truyền thống của quê hương tích cực của cộng đồng người Việt tại hải ngoại. mình. Theo đề tài nghiên cứu “Ảnh Hưởng của Kinh Tế Thị Trường Đối với Việc Hình Thành và Phát Triển Nhân Cách Từ hiện trạng của nền âm nhạc truyền thống Việt Nam ở Con Người Việt Nam”, thực hiện bởi chính phủ Việt Nam từ trong và ngoài nước, chúng tôi thiết nghĩ chúng ta cần có sự 8
  9. quan tâm và nhận thức đúng mức để có những biện pháp tích riêng một ai. Đối với các Trung Tâm Băng Nhạc hải ngoại, cực trong việc duy trì và phát triển âm nhạc Việt Nam. Đối chúng tôi đề nghị nên có thêm nhiều các DVD, băng video, tượng chính yếu để nhận giáo dục âm nhạc truyền thống của hoặc cassette cho các em học hỏi về các loại hình nghệ thuật chúng ta, cũng như ở bất cứ các quốc gia khác trên thế giới, của âm nhạc truyền thống trong đó có sự dẫn giải nghệ thuật là thế hệ trẻ vì họ luôn luôn là thế hệ kế thừa. Đúng như một cho từng trích đoạn hoặc bài bản. Các dẫn giải này không người làm văn hóa đã nói với chúng tôi rằng “Khoa học kỹ nên mang tính học thuật cao mà cần chú trọng vào sự đơn thuật có thể có những bước nhảy vọt, nhưng trong văn hóa, giản, dễ nhớ, dễ tiếp thu, dễ so sánh và liên hệ. Một công không thể có bước nhảy vọt mà phải có thế hệ kế thừa”. Như việc không kém phần quan trọng khác là việc sưu tầm, thu vậy biện pháp trước tiên, theo chúng tôi, là việc đòi hỏi các âm, thu hình, lưu trữ và phổ biến các giá trị âm nhạc truyền bậc phụ huynh thấy sự quan trọng của việc giáo dục âm nhạc thống từ các nghệ nhân lão thành. Các nghệ nhân như Việt truyền thống cho các em trẻ kể cả việc nâng cao trình độ Hùng, Tám Trí, Ngọc Nuôi, v.v., là những người mà không thưởng thức cho chính mình để có thể giúp các em. Thay vì có trường lớp hay nhạc viện nào có thể đào tạo nổi. Họ là để mặc cho các em dành toàn thời gian nghe các loại nhạc những người có giọng hát tiếng đàn mang nắng, mưa, và hồn như Rock, Hip Hop, Rap, hoặc Pop, v.v., các em cần được dân tộc từ những năm tháng dâng hiến nghệ thuật cho đời. hướng dẫn để có một thời gian thích hợp tìm về nguồn cội để Họ cũng là những nhân chứng lịch sử giá trị cho sự thăng ít nhất biết sự khác biệt căn bản giữa các làn điệu dân ca trầm của âm nhạc truyền thống Việt Nam, là những vốn quí Quan Họ, Lý, Hò, Veø, v.v... hoặc ở trình độ cao hơn nữa là cần được thu âm, thu hình, v.v.. Như đã đề cập, chúng ta đã khác biệt giữa Ca Trù, Ca Huế, Ca Nhạc Tài Tử trong thể loại có thực hiện điều này, nhưng hình như còn thiếu sự liên tục nhạc thính phòng, hoặc Chèo, Tuồng, và Cải Lương trong và yểm trợ từ các nhà hảo tâm. Chúng tôi thiết nghĩ, với ý nghệ thuật sân khấu. Các phụ huynh nên hướng cho các em thức về tính kế thừa của thế hệ “tre già” và “măng mọc”, mỗi học các nhạc cụ dân tộc ngay khi các em còn nhỏ tuổi. Có độc giả cũng có thể tự mình thu âm, thu hình, lưu trữ và trao một học giả về âm nhạc Việt Nam đã cho rằng, do đặc tính đổi các làn điệu dân ca, các bài hát ru, hò, bài bản nhạc Tài thang âm điệu thức của Việt Nam, các em học nhạc cụ Việt Tử, các ngón đàn, kể cả các giai thoại về âm nhạc của ông bà, Nam sẽ có trình độ thẩm âm cao hơn các em học nhạc cụ Tây cha mẹ, hoặc các nghệ nhân quen biết. Một biện pháp khác Phương. Mặt khác, nếu không có điều kiện để học biểu diễn là việc hướng dẫn các em tham dự các buổi trình diễn và nhạc cụ dân tộc, các em cũng có thể học nghe và hát dân ca thuyết trình về âm nhạc truyền thống Việt Nam tại địa và phân biệt cho được thế nào là một bài dân ca chính thống phương của mình. Qua đó các em sẽ được tiếp cận với văn và một bài dân ca cải biên. Để nâng cao trình độ thưởng thức hóa dân tộc trong một môi trường âm nhạc quê hương. Mặt âm nhạc truyền thống Việt Nam, các cơ sở truyền thông như khác, các bậc phụ huynh cũng không nên ngăn cản các em có radio, truyền hình, internet, hoặc các đoàn thể, với chức năng khuynh hướng yêu thích theo học đại học về ngành dân tộc giáo dục của mình, có thể tổ chức các chuyên đề để giải thích nhạc học (ethnomusicology). Đây là một ngành học tương những nét tinh tế của một bài dân ca nào đó, hoặc những xử đối mới trên thế giới, được thiết lập với mục đích nghiên cứu lý tế nhị của một ngón đàn điêu luyện từ một nghệ nhân. Các về âm nhạc truyền thống của mỗi dân tộc hoặc chủng tộc. Trung Tâm Việt Ngữ hoặc các khóa tu nghiệp Sư Phạm cũng Người Việt hiện còn đang thiếu các chuyên viên về lĩnh vực sẽ đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc hướng dẫn này vì số người Việt theo học ngành dân tộc nhạc học ở trong các em và giáo sinh tìm hiểu âm nhạc truyền thống Việt Nam và ngoài nước cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay. qua những giờ dẫn giải bởi các nhà chuyên môn. Được biết sắp tới Giải Khuyến Học và các Trung Tâm này hợp tác với Sau cùng, chúng tôi hy vọng rằng, với những nhận thức đúng giáo sư Nguyễn Thuyết Phong để thực hiện việc giáo dục âm đắn về vốn qúi âm nhạc truyền thống Việt Nam, về tính kế nhạc Việt Nam cho thế hệ trẻ tại hải ngoại. Rõ ràng, đây là thừa trong văn hóa giữa các thế hệ, cùng với tấm lòng yêu một nỗ lực rất đáng khích lệ và cần có sự bảo trợ của nhiều quê hương dân tộc tiềm tàng trong mỗi cá nhân, “khi tre già phụ huynh hoặc mạnh thường quân, cũng như phải xem đây thì măng sẽ mọc” và nền âm nhạc truyền thống Việt Nam ở là công việc bảo tồn văn hóa chung của chúng ta chứ không hải ngoại sẽ được duy trì cũng như phát triển mạnh mẽ. Sáng tác của trại viên Về Nguồn 2002 9
Đồng bộ tài khoản