Chương 1: Chống bán phá giá là gì?

Chia sẻ: ngocloc_tailieu

Hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, mang lại nhiều lợi ích và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên cơ...

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Chương 1: Chống bán phá giá là gì?

Chương 1: Chống bán phá giá là gì?
Hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, mang
lại nhiều lợi ích và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên cơ sở một
nền thương mại và đầu tư công bằng. Nhưng trong khi các quốc gia thành viên WTO
đang phải dẫn dỡ bỏ các rào cản thuế quan và thuế hoá các rào cản phi thuế quan thì các
biện pháp tự vệ, thuế chống phá giá và thuế đối kháng vẫn ngày càng được nhiều quốc
gia phát triển áp dụng một cách triệt để, nhất là, nhiều nước đang phát triển và kém phát
triển phải đối mặt với tình trạng hàng hoá nhập khẩu bán phá giá tại thị trường của
mình, và gánh chịu những thiệt hại cho sản xuất trong nước. Việc tìm các biện pháp bảo
đảm thương mại công bằng - biện pháp chống bán phá giá, đang được rất nhiều nước
quan tâm, kể cả các nước phát triển và đang phát triển. Tuy nhiên không phải nước nào
cũng áp dụng biện pháp chống bán phá giá một cách đúng đ ắn, đôi khi mang tính ch ủ
quan áp đặt mang tính chính trị.... Hàng hoá của Việt Nam cũng đã gặp phải những biện
pháp chống bán phá giá mà nước sở tại áp dụng. Sự việc đó cũng đã ảnh hưởng đ ến
xuất khẩu hàng hoá của chúng ta. Trong bài này tôi xin đề cập tới vấn đ ề “Hiệp đ ịnh
chống bán phá giá của WTO và Luật chống bán phá giá của Hoa kỳ. Những thách th ức,
khó khăn có liên quan trong việc xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam.”.

1. Khái niệm:
Định nghĩa bán phá giá là: giá xuất khẩu của một mặt hàng thấp hơn giá của mặt
hàng cùng loại mà các nước xuất khẩu cung ứng cho người tiêu dùng của nước mình,
tức thâm nhập vào thị trường một nước khác với giá thấp hơn giá thông thường. Nếu
một công ty xuất khẩu sản phẩm với giá thấp hơn giá cả bình thường trong nước, thì
sản phẩm đó đã là "bán phá giá".

2. Nội dung hiệp định chống bán phá giá của WTO.
1. Thiết lập nguyên tắc cơ bản về việc thu thuế chống bán phá giá. Chỉ có thể áp
dụng biện pháp đánh thuế chống bán phá giá sau khi tiến hành điều tra theo quy định của
điều 6 của Hiệp định GATT (hiệp định chung về thuế quan và thương mại).
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
2. Bản quy tắc còn làm rõ thế nào là bán phá giá. Việc bán phá giá có gây thiệt hại
nghiêm trọng cho các bên ký kết khác hay không và thiệt hại ở mức độ nào
Ở đây có khái niệm giá thông thường. WTO đưa ra 3 cách xác định giá thông
thường: một là giá tiêu thụ thông thường trong nước của nước xuất khẩu hàng hoá; hai
là giá xuất khẩu của nước xuất khẩu sang nước thứ ba; ba là giá c ủa các chi phí c ấu
thành. Thông thường, WTO xác định giá thông thường theo cách thứ nhất, trong trường
hợp không áp dụng được thì mới áp dụng cách xác định thứ 2, thứ 3.
Quy tắc đã định nghĩa chi tiết về "công nghiệp trong nước": đó là tổng thể hoặc
đa số các nhà sản xuất trong một nước có các sản phẩm cùng loại.
3. Cam kết về giá cả là những đảm bảo tự nguyện của nhà xuất khẩu thay đổi
giá xuất khẩu hoặc giá bán phá giá để loại bỏ những ảnh hưởng gây thiệt hại cho nước
nhập khẩu. Nhưng sự đảm bảo này phải dựa trên những điều tra của nước nhập khẩu,
hơn nữa không được bắt buộc nước xuất khẩu đưa ra đảm bảo, nhưng công tác điều tra
vẫn có thể tiến hành.
4. Kim ngạch của thuế chống bán phá giá không được vượt quá mức chênh l ệch
do bán phá giá. Việc thu thuế chống bán phá giá hoặc các biện pháp chống bán phá giá
tạm thời khác chỉ áp dụng đối với hàng hoá đã được vận chuyển vào lãnh thổ nước
nhập khẩu. Khi thu thuế phải được tiến hành bình đẳng không phân biệt đối xử, phải
thu thuế từng kiện hàng nhập khẩu qua điều tra thấy gây thiệt hại do bán phá giá (kim
ngạch là quy định về mặt giá trị thể hiện bằng tiền tệ đối với các loại hàng hóa xuất
hay nhập khẩu của 1 nước hay 1 khu vực trong 1 khoảng thời gian nhất định).
5. Những hành động chống bán phá giá đại diện cho nước thứ ba phải được nước
thứ ba đưa ra lời mời hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan.
Theo WTO, để xác định giá sản phẩm có bán phá giá hay không, cần tuân thủ
những quy tắc sau đây:
Thứ nhất: Lấy cơ sở giá bán hàng hoá cùng loại tại thị trường nội đ ịa c ủa nước
xuất khẩu. Khi không thể sử dụng giá này, phải sử dụng giá mà nước này xuất khẩu
sang nước thứ ba làm chuẩn, hoặc xác định bằng cách cộng giá thành sản xuất với các
chi phí hợp lý và lợi nhuận.



2
Quản Trị Doanh Nghiệp
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
Hai là: Hàng chuyển khẩu thường được so với giá tương ứng của nước xuất
khẩu.
Ba là: Nếu không có giá xuất khẩu hoặc giá này bị cho là không đáng tin, thì có
thể lấy giá bán hàng nhập khẩu để xác định giá xuất khẩu.
Bốn là: Giá xuất khẩu và giá bán nội địa của nước xuất khẩu phải được so sánh
ở cùng một trình độ thương mại.
“Việt Nam hiện vẫn chưa sử dụng hữu hiệu các biện pháp phòng vệ thương mại
để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước như các nước khác đã làm, mặc dù các công
cụ phòng vệ đều đã có”.

3.Cơ chế chống bán phá giá của Mỹ.
Đoạn 800-801 của Đạo luật chống bán phá giá của Mỹ quy định: “Bật cứ người
nào thực hiện hay giúp đỡ thực hiện việc nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Mỹ một
cách phổ biến và có hệ thống để bán những hàng hóa đó ở mức giá thấp hơn đáng kể
giá thực tế thị trường, hay giá bán buôn của những hàng hóa đó tại thị tr ường nơi nó
được sản xuất hay tại thị trường nước ngoài khác mà các hàng hóa đó thường được xuất
khẩu sau khi đã cộng giá bán buôn, chi phí vận tải, thuế, các chi phí và l ệ phí cần thi ết
khác đều bị coi là vi phạm pháp luật nếu những hành vi kể trên đ ược thực hiện v ới d ự
định phá hoại, hay gây tổn thất một ngành của Mỹ, hay ngăn cản việc thiết lập một
ngành tại Mỹ, hay tạo sự kiềm chế hoặc độc quyền về hàng hóa đó tại Mỹ”.
Các thủ tục hành chính áp dụng cho việc chống phá giá được quy định trong Đạo
Luật chống phá giá 1916; Đạo Luật chống phá giá 1921; Mục VII của Đạo Luật thuế
1930.
Thủ tục chủ đạo đó là: thay vì dựa trên hành động của chính phủ hay cá nhân
trước tòa án , luật chống phá giá cho phép thực hiện các thủ tục tố tụng. Cụ thể là
những người đại diện cho một ngành ở Mỹ có thể lấy các lá phiếu biểu quy ết và trình
cho Bộ Thương Mại Mỹ .
DOC sẽ quyết định có tồn tại việc phá giá hay không và ITC có trách nhiệm tìm
kiếm bằng chứng và chứng minh sự tồn tại các tổn thức. Yêu cầu về việc có dự định
hay không có dự định từ phía bên bị không quan trọng. Nếu ITC phát hiện ra tồn tại phá


3
Quản Trị Doanh Nghiệp
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
giá và tổn thức phá giá, thuế chống phá giá sẽ được áp dụng. Bên bị sẽ không phải chịu
các trừng phạt dân sự hay hình sự nào.


Chương 2: Những thách thức và khó khăn có liên quan
trong việc xuất khẩu hàng hóa của việt nam.
Việc bán phá giá đang diễn ra ngày càng nhiều ở hầu hết các quốc gia kể cả các
quốc gia phát triển và đang phát triền. Mặc dù là nước đang phát triển ở trình độ thấp,
nhưng vài năm trở lại đây hàng hóa của Việt Nam đã dần thâm nhập vào các thị trường
khác nhau và các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã bị nước ngoài tiến hành điều tra bán
phá giá tới 8 lần (1994-2002). Trong số 8 vụ các doanh nghiệp Việt Nam bị áp đặt thuế
chống phá giá. Vụ kiện bán phá giá cá tra, cá basa của Việt Nam tại Mỹ (năm 2002)
được coi là một vụ kiện có quy mô lớn và có rất nhiều áp đặt bất công từ phía Mỹ. Các
ngành đã từng bị kiện phá giá của Việt Nam là tỏi, giày dép, bột ngọt, cá tra, cá basa, bật
lửa gas.
Canada kiện Việt Nam hai vụ liên quan tới giày dép và tỏi. Thuế chống phá giá áp
dụng cho tỏi của Việt Nam là 1,48 CAĐ/kg.
EU kiện Việt Nam hai vụ liên quan tới giày dép và bột ngọt. Mức thuế chống phá
giá đối với bột ngọt là 16,8%. Riêng đối với mặt hàng giày dép EU đã không đánh thuế
chống bán phá giá đối với Việt Nam vì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam
thấp hơn các quốc gia khác là Trung Quốc, Inđônêxia và Thái Lan.
Ba Lan kiện Việt nam một vụ về bật lửa gas. Thuế chống phá giá là 0,09
EUR/chiếc.
Mỹ kiện Việt Nam một vụ về cá tra, cá basa. Thuế chống phá giá áp đặt cho Việt
Nam từ 38% đến 64%. Phương thức mà Hiệp hội cà tra, cá basa (CFA) của Mỹ đã thực
hiện trong vụ tranh chấp với Việt Nam có thể tóm tắt như sau :
+ Trước hết CFA đã gây sức ép bắt các nhà xuất khẩu Việt Nam phải thay đổi
tem dán để phân biệt cá của Việt Nam với cá của Mỹ.
+ Sau đó CFA đã kiện Việt Nam đã phá giá cá tra, cá basa trên thị trường Mỹ.
Gạo của Việt Nam đã từng bị Columbia kiện vào năm 1994 với biên phá giá là
9,7% nhưng sau đó Columbia quyết định rằng Việt Nam đã không gây thiệt hại về vật
chất với việc sản xuất gạo của Columbia nên không áp dụng thuế chống bán phá giá.
4
Quản Trị Doanh Nghiệp
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
Việt Nam còn rất ít kinh nghiệm trong việc đương đầu với các vụ kiện phá giá và
vận dụng cơ chế chống bán phá giá. Qua các vụ kiện phá giá chúng ta có cơ hội nhìn
nhận rõ hơn thực trạng thương mại quốc tế hiện nay. EU đã bác bỏ vụ kiện DN Việt
Nam bán phá giá bật lửa gas vào thị trường này với lí lẽ DN Việt Nam hoạt động trong
nền kinh tế thị trường. Trong khi đó, Hoa Kỳ lại kết luận Việt Nam có nền kinh t ế phi
thị trường. Việc xem xét Việt Nam là nền kinh tế thị trường hay phi thị trường hoàn toàn
mang tính chính trị, không phụ thuộc vào yếu tố kỹ thuật, mặc dù phía Mỹ có đ ưa ra 5
yếu tố kỹ thuật để xem xét. Như vậy, kinh tế thị trường chỉ là cái cớ mà nguyên nhân
sâu xa chính là giá bán. Với mức giá 1kg cá basa khoảng 3USD thì các DN Hoa Kỳ cạnh
tranh nổi, khi đó hình thức kiện phá giá được sử dụng nhiều nhất. Chủ nghĩa bảo hộ
mậu dịch Hoa Kỳ đã phát triển một mức tinh vi với các nước có nền kinh tế phát tri ển,
đôi khi lại trắng trợn theo lối đơn phương – áp đặt, nhất là với các nền kinh tế nhỏ bé.
Cách tốt nhất là chúng ta không để xảy ra kiện cáo bán phá giá. Thực tế chúng ta không
bán phá giá nhưng không tìm hiếu xem đối tác của ta ở nước sở tại chi phí sản xuất như
thế nào, bán giá bao nhiêu. Nếu chúng ta nghiên cứu kỹ, sẽ đưa được mức giá phù hợp,
không gây mâu thuẫn về lợi ích với DN Hoa Kỳ thì chắc chắn việc kiện cáo sẽ ít xảy ra.
Mặt khác, ngay cả trong tình hình xuất khẩu thuận lợi, chúng ta cũng nên san sẻ sang các
thị trường khác, bởi cứ gia tăng sản lượng xuất khẩu vào một thị trường sẽ bị DN nước
sở lại phản ứng một cách tiêu cực.
Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ mới đây đã có báo cáo kết luận rằng luật
chống bán phá giá trên thực tế đã gây tổn hao cho nền kinh tế Mỹ nhất là qua vụ kiện
tôm được nhiều nước quan tâm hiện nay, John MaQuaid công tác tại tờ “The Times
picayune” đã tập hợp í kiến của các nhà kinh tế nhằm chỉ ra những điểm phi lí trong luật
chống bna1 phá giá của Mỹ.
“Bán phá giá” gợi lên hình ảnh Công ty nước ngoài theo đuổi chiến lược có chủ í,
có sự phân phối hợp nhằm cản trở DN trong nước bằng hàng NK giá rẻ tràn ngập thị
trường. Đây chình điệp khúc mà ngành công nghiệp đánh bắt tôm ở Mỹ viện làm lí khơi
kiện. Ngư dân đánh bắt tôm ở Mỹ nói riêng họ bị áp đảo bởi xu hướng hàng NK bán phá
giá từ 6 nước nuôi tôm đang gia tăng, khiến mặt hàng tôm rơi giá. Liên minh tôm mi ền
nam nước Mỹ (SSA), đại diện cho 8 bang trong đó Louisiana, đã đệ hơn theo luật chống

5
Quản Trị Doanh Nghiệp
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
phá giá, yêu cầu chính phủ Mỹ áp thuế đối với mặt hàng tôm NK và trợ giá sản phẩm
của họ.
Trên thực tế, luật chống phá giá của Mỹ không đòi hỏi bằng chứng cho thấy các
Công ty nước ngoài bị cáo buộc bán phá giá đang phối hợp hành động hay có í đ ịnh đ ẩy
mặt hàng của họ tràn ngập thị trường Mỹ. Các nhà kinh tế nói rằng luật chống phá giá
được soạn thảo khái quát và nhiệu trình tự cho luật này là thủ tục hoạt động tiêu chuẩn
đổi mới các DN tại Mỹ và trên thế giới. Sự khác biệt giữa văn bản luật và thực tiễn là
điều bình thường trong thế giới của chống phá mà những người đánh bắt tôm ở Mỹ
bước vào.
Khi toàn cầu hóa gây ra làn sóng đổ vỡ xuyên suốt nền kinh tế Mỹ. Thương mại
quốc tế đã trở thành vấn đề chính trị tại Lousiana,cũng như với nhiều bang khác phải
chống chọi với nguy cơ mất việc làm do sự cạnh tranh từ nước ngoài. Luật chống phá
giá mở ra phương thức giúp các ngành công nghiệp gặp khó khăn có được khoản trợ cấp
kinh tế tạm thời. Luật này cũng được xem xét là một chiếc van an toàn về chính trị. Mặc
dù các quyết định về chống phá giá có ảnh hưởng trên toàn thế giới, nhưng chúng l ại
được quyết định trong phạm vi một nhóm nhỏ, thiển cận ở Oashintơn. Những í kiến chỉ
trích nói rằng các vụ kiện bị chi phối bởi những quy định mà ít ngưới bên ngoài có th ể
hiểu được và đầy rẫy những mâu thuẫn.
Những người đề xướng việc kiện tụng nói rằng luật chống phá giá có thể “làm
cân bằng sân chơi” thương mại quốc tế, nơi làm các Công ty nước ngoài thường không
chơi công bằng và cách chơi của họ đe dọa việc làm của Mỹ. Luật chống phá giá mà
Quốc hội Mỹ ban hành được xem như một vũ khí tự vệ của các ngành công nghiệp.
Mục tiêu của luật này là để cân bằng thương mại bất công. Khái niệm luật chống phá
giá cũng tương tự như luật chống độc quyền, nó có tác dụng sắp xếp lại thị trường
nhằm duy trì khả năng cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng về lâu dài.
Nhiều í kiến chỉ trích, trong đó có những người ủng hộ thương mại tự do và
nhiệu nhà kinh tế chủ đạo, đồng tinhh2 rằng thương mại toàn cầu thường không công
bằng. Nhung họ cũng nói rằng luật chống phá giá và các quy định của luật này, đặc biệt
là những công thức phức tạp mà Chính phủ áp dụng để tính thuế, là mang tính độc đoán
và gây trở ngại cho các Công ty đang hoạt động theo nguyên tắc thông thường tại thị

6
Quản Trị Doanh Nghiệp
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
trường quốc tế. Họ nói rằng cơ bản về luật này là một hình thức bảo hộ và do đó nó là
kẻ thù của thương mại tự do.
Vụ kiện chống phá giá tôm chỉ là một trong cả chục vụ kiện xẩy ra mỗi năm.
Bên nguyên đơn cáo buộc sáu nước : Trung Quốc, Ecuađo, Ấn Độ, Thái Lan và Việt
Nam-đã xuất ồ ạt sản phẩm và thị trường Mỹ với giá thấp hơn giá thành sản xuất.
Những người đánh bắt tôm ở Mỹ đòi hỏi chính phủ áp thuế tôm NK từ 25,76% (mức
thấp nhất đối với Việt Nam) đến 349% (mức cao nhất đối voi Braxin). Chính phủ Mỹ
đã sử dụng hệ thống hai cấp, phức tạp để phân tích vụ kiện bán phá giá. Bộ th ương
mại Mỹ (DOC) có quyền quyết định liệu vấn đề bán phá giá có xảy ra trên thực tế hay
không và mức thuế nào sẽ được áp đặt. Ủy ban Thương mại quốc tế Mỹ (USITC) là cơ
quan đưa ra phán quyết cuối cùng, quyết định xem DN Mỹ-trong vụ kiện này là các DN
tôm có bị “thiệt hại vật chất” do hàng NK hay không.Cho tới nay của DOC và USTIC
đều có những phán quyết sơ bộ ủng hộ người đánh bắt tôm ở Mỹ. Theo luật hiện nay,
khoản tiền thuế sẽ được dành để trợ cấp cho ngành công nghiệp tôm nội địa.
Nhìn chung, Chính phủ Mỹ thường có xu hướng đứng về phía các ngành công
nghiệp Mỹ. Theo nhà kinh tế Bruce Blonigen của Đại học tổng hợp bang Oregon, một
chuyên gia nghiên cứu lĩnh vực chống phá giá, có tới 80% vụ kiện có kết luận là xảy ra
tình trạng bán phá giá, khoảng 60% vụ kiện kết luận rằng các DN nội địa bị ảnh hưởng
bởi hàng NK. Thomas Prusa, nhà kinh tế của Đại học tổng hợp Rutgers chuyên nghiên
cứu về các vụ kiện thương mại và chống phá giá nói: “DOC gần như không bao giờ kết
luận là không xảy ra tình trạng bán phá giá”.
Các nhà kinh tế còn nhiều quan tâm đến khác biệt về mục tiêu chính sách cơ bản
của luật chống phá giá. Một số coi luật này là phương thức nuôi dưỡng chủ nghĩa bảo
hộ. Một số khác bảo vệ khái niệm này như một công cụ giữ gìn việc làm và giúp giảm
bớt tai họa của kinh tế toàn cầu. Clyde Prestowitz, Chủ tịch Viện chiến lược kinh tế,
một nhóm nghiên cứu thiên tả có trụ sở tại Oashintơn nói: “Khái niệm chống phá giá là
hoàn toàn hợp pháp và đã được đưa vào các quy định của tổ chức Thương mại thế giới
(WTO) bởi đây là công cụ để đối phó với một số vấn đề thực tế”. Nhưng nhiều nhà
kinh tế nói rằng cách thức mà DOC phân xử vụ kiện tôm đã bị bóp méo nhằm chống lại
các Công ty nước ngoài và thiên vị các ngư dân đánh bắt tôm ở Mỹ.

7
Quản Trị Doanh Nghiệp
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
Theo các nhà kinh tế, yếu tố gây tranh cãi nhất về luật chống phá giá là cách thức
DOC tính thuế chống phá giá. Các nhà kinh tế của DOC sẽ xem xét sự khác biệt giữa giá
của sản phẩm NK với giá trị thị trường hợp lí. Nếu giá NK thấp hơn có nghĩa là các
Công ty nước ngoài đang bán sản phẩm vào Mỹ với giá quá rẻ, như vậy xuất hiện hiện
tượng bán phá giá. Tuy nhien theo Michael Moore và một số nhà kinh tế khác, khó khăn
chính ở đây là làm sao so sánh giá NK thức tế với “giá thị trường hợp lí” gải thuy ết, ở
một số trường hợp việc so sánh như vậy gần như là điều không thể, bởi hầu như chẳng
ai biết rõ “giá thị trường hợp lí”. Tùy thuộc vào tình huống vụ kiện chính phủ Mỹ xác
định giá trị thị trường hợp lí theo những phương thức khác nhau. Trong trường hợp đơn
giản nhất, Chính phủ Mỹ so sánh tại nước XK với giá tại Mỹ. Nhưng trong hầu hết các
vụ kiện chống phá giá, phương thức xác định không đơn giản như vậy : trong số 6 nước
bị kiện, SSA nói rằng chỉ duy nhất Braxin có thị trường nội đ ịa đáng kể về mặt hàng
tôm, các nước khác hoặc không có thị trường lớn về mặt hàng này hoặc là những nước
bị quy vào diện không có nền kinh tế thị trường. Trong những trường hợp như vậy,
DOC có khá nhiều lựa chọn phụ, lập danh sách giá tôm tại một nước thứ ba mà DOC
cho rằng co thể so sánh với nước XK. DOC cũng quyết định xem xét liệu các Công ty
nước ngoài có bán tôm dưới mức chi phí sản xuất, cộng thêm tỉ lệ lợi tức đ ược quy
định. Đây là lí lẽ được viện dẫn chống lại tôm NK từ Việt Nam và Trung Quốc. Chính
phủ Mỹ sẽ tiến hành điều tra và thu thập số liệu thoe cách điều tra và thu thập số liệu
theo cách của mình, như lí lẽ mà các luật của nguyên đơn đưa ra không phải là lí lẽ cuối
cùng. Nhưng lí lẽ này những phần nào cho thấy cách thức tiến hành vụ kiện.
Để đưa ra lí lẽ rằng các Công ty Trung Quốc bán phá giá tôm tại Mỹ, các luật sư
của nguyên đơn đã đặt ra một mô hình kinh tế phức tạp để xác đ ịnh chi phí s ản xuất
tôm tại Trung Quốc và Việt Nam. Nhưng Trung Quốc và Việt Nam bị xếp vào diện các
nước không có nền kinh tế thị trường, do vậy họ nói rằng số liệu cơ bản, xác thực về
chi phí sản xuất có thể có là không có hiệu lực. Thay vào đó, các luật sư nguyên đơn lấy
mức giá và chi phí tại Mỹ và Ấn Độ làm thị trường phụ để xác đ ịnh số liệu. Đ ối v ới
trường hợp Trung Quốc các luật sư khảo sát các nhà chế biến tôm ở Mỹ nhằm tính toán
các hạng mục để có thể chế biến một pao (0,454kg) tôm đông lạnh, như điện nước, vật
liệu đóng gói...Tiếp đến họ nghiên cứu nền kinh tế Ấn Độ để xác định chi phí của các

8
Quản Trị Doanh Nghiệp
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
mục này. Sau đó họ kết hợp hai kết quả này để đưa mức chi phí sản xuất. Cuối cùng,
họ ước tính tỉ lệ lãi đối với mặt hàng của Trung Quốc. Kết quả của cách tính toàn này
đưa ra “giá sản xuất” đối với tôm loại to của Trung Quốc là 10,6 USD/pao-cao hơn 7,72
USD so với mức giá tôm Trung Quốc nhập vào Mỹ theo số liệu của Cơ quan Hải quan
Mỹ và mức chênh lệch này được chuyển thành mức thuế chống phá giá được đề nghị là
263,68% (mức cao nhất được dự kiến đối với tôm của Trung Quốc). Các nhà kinh tế nói
rằng cách tính toán như vậy bộc lộ đầy rẫy những bất cập, chỉ nói đơn giản ngay ở
việc so sánh giá tại các nước khác nhau. Michael Moore thắc mắc “Ai dám khẳng định
đó đã phải là giá hợp lí chưa? Việc cho rằng giá viện chuyển tải Ấn Độ hay Trung Quốc
cũng đều giống nhaula2 điều hết sức phi lí”
Các nhà kinh tế nói rằng một vấn đề đáng nói nữa là việc chính phủ Mỹ gộp tất
cả các công ty và các nước cùng vào một vụ kiện chung , dù là các công ty khác nhau bán
sản phẩm với múc giá khác nhau , sản phẩm của nước này có thể có cơ cấu giá khác
hẳng so với sản phẩm của nước khác , hoặc thẩm chí là một sản phẩm khác hẳn .
Trong vụ kiện tôm , Ấn Độ đang đưa ra lí lẽ rằng tôm SK của họ là hoàn toàn khác và
không thể đem ra so sánh với tôm của Mỹ
Trên thế giới , từ năm 1995 – 2002, các nước và vùng lãnh thổ bị điều tra bán phá
giá nhiều nhất trong thương mại quốc tế là Trung Quốc 308 vụ, Hàn Quốc : 160 vụ,
Mỹ : 115 vụ , Đài Loan : 109 vụ , Indonexia : 91 vụ .... Như vậy , so với các nước khác
thì số vụ mà các doanh nghiệp Việt Nam bị điều tra còn là con số rất nhỏ . Mặc dù Việt
nam đã bị kiến phá giá từ cách đây 10 năm song chúng ta đã không có một kế hoạch c ụ
thể để đương đầu với các vấn đề về giá cả và chống phá giá.
Khi vụ kiện cá tra, cá Basa tạo được sự chú í của dư luận và các doanh nghiệp
thủy sản Việt Nam cũng như những người nông dân việt Nam phải gánh chịu phần
thua , lúc này các Bộ Ngành và các Hiệp hội liên quan mới thực sự lo ngại về khả năng
Việt Nam bị kiện phá giá ở những mặt hàng khác.
Việt Nam không thể tránh khỏi việc tiếp tục bị kiện phá giá. Lí do có thể nêu ra
như chống bán phá giá được sử dụng như một công cụ bảo hộ mới, Việt Nam có điều
kiện để xuất khẩu những mặt hàng giá rẽ và Việt Nam bị cho là một nền kinh tế phi thị
trường.

9
Quản Trị Doanh Nghiệp
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
Những hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam thông thường có lợi thế cạnh tranh do
giá nhân công rẽ dẫn đến giá thành thấp so với các quốc gia khác và xu thế ngày càng
nhiều của hàng hóa Việt Nam thâm nhập vào thị trường quốc tế chắc rằng các cuộc
điều tra chống phá giá đối với các DN Việt Nam sẽ không dừng lại ở đó và một khi đã
bị áp đặt thuế chống bán phá giá thì khả năng xuất khẩu mặt hàng đó sẽ bị giam đi r ất
nhiều. Vì thế vấn đề đặt ra cho các DN và các nhà quản lí của Việt Nam là làm thế nào
để có thể hạn chế được những tác động bất lợi đồng hành cùng các công cụ chống bán
phá giá.



Chương 3: Biện pháp chống bán phá giá trong thương
mại quốc tế.
1. Tình hình chung:
Trong thương mại quốc tế, khi hàng hóa bị xem là bán phá giá thì chúng có thể bị
áp đặt các biện pháp chống bán phá giá (antiduming) như thuế chống bán phá giá, đặt
cọc hoặc thuế chấp, can thiệp hạn chế định lượng hoặc điều chỉnh mức giá của nhà
xuất khẩu nhằm triệt tiêu nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước nhập
khẩu, trong đó thuế chống bán phá giá và biện pháp phổ biến nhất hiện nay.
Về thực chất, thuế chống bán phá giá là một loại thuế nhập khấu bổ sung đánh
vào những hàng hóa bị bán phá giá ở nước nhập khẩu nhằm hạn chế những thiệt hại do
việc bán phá giá đưa đến cho ngành sản xuất của nước đó nhằm bảo đảm sự công bằng
trong thương mại (nói chính xác đó là một sự bảo hộ hợp lí cho sản xuất trong nước).
Thuế này đánh vào các nhà sản xuất riêng lẻ chứ không phải là thuế áp đặt chung cho
hàng hóa của một quốc gia. Nguyên tắc chung nêu ra những Hiệp định của WTO là
không được phân biệt đối xử khi áp dụng thuế chống phá giá, tức là nếu hàng hóa bị bán
giá được xuất khẩu từ những quốc gia khác nhau với cùng biên độ phá giá như nhau thì
sẽ áp đặt mức thuế chống phá giá thuộc vào biên độ phá giá của từng nhà xuất kh ẩu
chứ không phải áp dụng bình quân (ngay cả khi các nhà xuất khẩu từ cùng một quốc gia)
và không được phép vượt quá biên độ phá giá đã được xác định.
Tuy nhiên, không phải bất kì trường hợp bán phá giá nào cũng bị áp đặt các biện
pháp chống bán phá giá. Theo quy định của WTO và luật pháp của r ất nhi ều n ước thì
10
Quản Trị Doanh Nghiệp
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
thuế chống bán phá giá chỉ được áp đặt khi hàng hóa được bán phá giá gây thiệt hại đáng
kể hay đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất ở nước nhập khẩu. Như vậy,
nếu một hàng hóa được xác định là có hiện tượng bán phá giá nhưng không gây thiệt hại
đáng kể cho ngành sản xuất mặt hàng đó ở nước nhập khẩu thì sẽ không bị áp đặt thuế
chống bán phá giá và các biện pháp chống bán phá giá khác. Thiệt hại cho ngành sản
xuất trong nước được hiểu là tình trạng suy g iam3 đáng kể về số l ượng, mức tiêu th ụ
trong nước, lợi nhuận sản xuất, tốc độ phát triển sản xuất, việc làm cho người lao
động, đầu tư tới các chỉ tiêu khác của ngành sản xuất trong nước hoặc dẫn đ ến khó
khăn cho việc hình thành sản xuất trong nước. Bán phá giá được xác định dựa vào 2 yếu
tố cơ bản là: Một là biên độ phá giá từ 2% trở lên, hai là số lượng, trị giá hàng hóa bán
phá giá từ một nước vượt quá 3% tổng khối lượng hàng nhập (ngoại trừ trường hợp số
lượng nhập khẩu của các hàng hóa tương tự mới nước có khối lượng dưới 3%, nhưng
tổng số các hàng hóa tương tự của các nước khác nhau được xuất khẩu vào nước bị bán
phá giá chiếm trên 7%).
Theo quy định của WTO, biên độ phá giá được xác định thông qua việc so sánh
với mức giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự được xuất khẩu sang một nước
thứ ba thích hợp, với điều kiện là mức giá có thể so sánh được này mang tính đại diện,
hoặc được xác định thông qua so sánh với chi phí sản xuất tại nước xuất xứ hàng hóa
cộng thêm khoản chi phí hợp lí cho quản trị, bán hàng, các chi phí chung khác và m ột
khoản lợi nhuận. Như vậy, có thể hiểu rằng biên độ phá giá là mức chênh lệch giá
thông thường của hàng hóa tương tự với mức giá xuất khấu hiện tại. Việc xác định giá
thông thường được tính toán rất phức tạp dựa trên cơ sở sổ sách và ghi chép c ủa nhà
xuất khẩu hoặc nhà sản xuất là đối tượng đang được điều tra với điều kiện là s ổ sách
này phù hợp với các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi và phản ánh được một
cách hợp lí của chi phí.
Để xác định hàng hóa có bị bán phá giá hay không? Việc bán phá giá có thể gây
thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước hay không để áp đặt các biện pháp
chống phá giá thì điều quan trọng nhất và phức tạp nhất này ở quá trình điều tra về bán
phá giá. Ở những quốc gia khác nhau, việc điều tra sẽ được thực hiện bởi các cơ quan
chức năng khác nhau. Theo quy định trong Hiệp định về chống bán phá giá của WTO thì

11
Quản Trị Doanh Nghiệp
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
việc điều tra chỉ được tiến hành khi có đơn yêu cầu bằng văn bản c ủa ngành s ản xuất
trong nước hoặc của người dân dành cho ngành sản xuất trong nước. Đơn yêu cầu sẽ
được coi là đủ tư cách đại diện cho ngành sản xuất trong nước nếu như đơn này nhận
được sự ủng hộ bởi các nhà sản xuất chiếm tối thiểu 50% tổng sản lượng của sản
phẩm tương tự được bắt đầu nếu như các nhà sản xuất bày tỏ í ki ến tán thành điều tra
chiếm ít hơn 25% tổng sản lượng của sản phẩm tương tự được ngành sản xuất trong
nước làm ra.
Trên thực tế, quá trình điều tra về bán phá giá của EU, Mỹ và một số nước cho
thấy việc xác định giá trị thông thường của hàng hóa để làm căn cứ xác định biên độ phá
giá quá phức tạp và đôi khi không minh bạch, vẫn còn rất nhiều áp dặt. Theo luật pháp
của Mỹ thì một khi không thể xác định được giá trị thông thường tại nước xuất khẩu,
người ta có thể lấy mức giá của hàng hóa tương tự trong điều kiện thương mại bình
thường ở một nước thứ ba có trình độ phát triển như nước bị điều tra bán phá giá. Đây
chính là cái cớ quan trọng mà trong vụ kiện phi lí về Thương mại Mỹ đã tính toán giá trị
thông thường theo giá trị Băng-la-đét với lập luận rằng Việt nam chưa có nền kinh tế thị
trường, vì vậy các chi phí và các số liệu của các doanh nghiệp Việt Nam cung cấp là
không phản ánh trung thực và không tin cậy được. Có thể nói rằng, thuế chống bán phá
giá là một công cụ bảo hộ rất mạnh và rất lợi hại.

2. Một số đề xuất, kiến nghị.
Để chúng ta có thể đồng hành cùng các biện pháp chống bán phá giá, các DN Việt
Nam trước hết cần trang bị cho mình những kiến thức pháp luật về chống bán giá
trong thương mại quốc tế. Bên cạnh đó, cần lưu một số vấn đề cụ thể sau :
Một là sẵn sàng đương đầu với các phụ kiện phá giá khác.
Chính phủ Việt Nam cần có kế hoạch sẵn sàng đương đầu với các vụ kiện bán
phá giá khác. Việt Nam cần chủ động giảm thiêu tiêu cực của việc chống bán phá giá từ
các nước khác. Cụ thể Việt Nam cần :
Xây dựng một hệ thống thông tin về phá giá và chống bán phá giá.
Xây dựng cơ chế cảnh bảo về kiện phá giá và chống bán phá giá (trực thuộc Bộ
Thương mại), dự kiến những mặt hàng có khả năng bị kiện phá giá.


12
Quản Trị Doanh Nghiệp
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
Xây dựng cách thức tận dụng có hiệu quả các thủ tục điều tra trong khuôn khổ
WTO cũng như thủ tục điều tra của nước kiện phá giá. Chẳng hạn, khi bị áp dụng thuế
chống bán phá giá, quốc gia bị áp thuế có thể tăng giá hàng hóa của mình đ ể chịu mức
thuế chống bán phá giá thấp hơn ở giai đoạn xem xét lại hành vi phá giá.
Tích cực tham gia vào các diễn đàn cùng với các nước đang phát triển đ ể xây
dựng một cơ chế chống bán phá giá chặt chẽ hơn trong khuôn khổ WTO.
Đây được xem là cơ hội để các DN thu thập thông tin về vấn đề này và chứng
minh tính hợp lí của giá xuất khẩu hàng hóa. Một khi các DN Việt Nam đứng ngoài là tự
đánh mất quyền được khiếu nại và quyền kháng nghị của mình. Khi đó các cơ quan
điều tra sẽ đưa ra những phán quyết xủa riêng họ và áp đặt các biện pháp chống phá giá,
tất nhiên là có lợi cho họ. Mặt khác khi các DN nước ngoài thắng kiện, họ s ẽ không
ngần ngại tiếp tục kiện các hàng hóa khác và như vậy thì cơ hội XK hàng hóa c ủa các
DN Việt Nam sẽ giảm đi nhanh chóng. Tham gia vụ kiện (rất có thể bị thua do những áp
đặt vô lí ), cac DN có thể rất tốn kém, nhưng từ chối tham gia là sẽ chấp nhận thiệt hại
mà thông thường còn lớn hơn nhiều.
Hai là xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về phá giá, chống bán phá giá: các tình
huống kiện phá giá, các vấn đề liên quan cần được chia theo ngành và ưu tiên theo đ ặc
thù của nền ngoại thương Việt Nam. Chẳng hạn thời gian trước mắt, các thông tin liên
quan đến các vụ kiện tôm, dệt may, giày dép và khoáng sản cần được ưu tiên thu thập.
Chính phủ và các DN Việt Nam cần lưu í rằng việc nắm bắt và có đầy đủ thông tin về
các vụ kiện trong cùng ngành cũng như những lập luận của bên trong vụ kiện là sự
chuẩn bị cần thiết để sẳn sàng đương đầu với các vụ kiện phá giá trong thời gian tới.
Ba là tổ chức tìm hiểu các vụ kiện về chống bán phá giá của một số ngành và
một số quốc gia lựa chọn : Việt Nam cần thiết phải tìm hiểu các vụ kiện về bán phá giá
trong một số ngành và một số quốc gia mà Việt Nam quan tâm. Trong bối cảnh các quy
định về chống bán phá giá của WTO còn chưa chặt chẽ như hiện nay, việc tìm hiểu các
vụ kiện trong một số ngành là cần thiết. Chính phủ Việt Nam có thể tìm ra đ ược các lí
lẽ mà các nước bị kiện khác đang sử dụng để phản bác lại nước đi kiện.
Bốn là chứng minh “Việt Nam có nền kinh tế thị trường”. Trong vụ kiện giữa
Việt Nam và Mỹ về cá tra, cá basa, Việt Nam bị coi là “nền kinh tế phi thị trường” dẫn

13
Quản Trị Doanh Nghiệp
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM
đến những tham chiếu bất lợi khác như phải chọn một nước thứ ba để so sánh chi phí
và tính giá trị thông thường của sản phẩm.
Năm là thuế chống phá giá sẽ áp đặt cho tất cả các DN có hàng xuất khẩu, vì thế
khi bị kiện rất cần có sự tham gia và ủng hộ của tất cả các DN. Nếu đ ứng ngoài cuộc
sẽ luôn bị áp đặt mức thuế xuất cao nhất. Do đó, cùng đoàn kết thống nhất để tham gia
vụ kiện là bài học quan trọng mà các DN Trung Quốc đã rút ra khi tham gia vụ kiện v ề
nước táo ép của họ và vụ kiện khác.
Sáu là cố gắng để cuộc điều tra sơ bộ về chống bán phá giá dẫn đến kết luận tốt
nhất. Vấn đề rất quan trọng là các DN phải tìm hiểu thật kỹ và trả lời tất cả các câu
hỏi do cơ quan điều tra nếu ra trong bảng câu hỏi điều tra một cách hợp lí nhất và trong
thời gian sớm nhất. Sự minh bạch và rõ ràng trong các câu trả lời sẽ tạo ấn tượng tốt
với các cơ quan điều tra. Sự tham vấn các í kiến của các luật sư có uy tín trong tr ường
hợp này là rất quan trọng.
Bảy là cần có những chứng cứ xác đáng để chứng minh việc bán giá thấp (nếu
có) để không gây thiệt hại cho nền sản xuất cả nước nhập khẩu (lượng hàng xuất khẩu
chiếm dưới 3% tổng khối lượng nhập khẩu mặt hàng đó của nước có hàng bán giá
thấp) và nếu có thì biên độ bị coi là phá giá là không đáng kể (dưới 2%). Đ ồng thời có
thể thương lượng với cơ quan đưa ra phán quyết của nước này nhằm đạt đ ược thỏa
thuận về hạn chế định lượng hoặc chấp nhận một mức giá tối thiểu thay vì áp đặt thuế
chống phá giá.
Tám là trong điều kiện có thể hãy thuyết phục các Công ty nhập khấu của nước
ngoài cùng lên tiến trước các cơ quan điều tra rằng thực sự không có tổn hại đáng kể.




14
Quản Trị Doanh Nghiệp
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM

Kết luận:
Như vậy trong thời gian vừa qua Việt Nam đã phải đón nhận một số vụ kiện chống
bán phá giá từ một số quốc gia mà chúng ta xuất khẩu hàng hóa sang nước đó. Vấn
đề này chúng ta đã gặp phải từ rất lâu nhưng do chưa nhận thức được tầm quan
trọng của vấn đề cho nên chưa có sự chuẩn bị chu đáo đối với các vụ kiện. Mặt
khác chúng ta còn ít kinh nghiệm trong vấn đề chống bán phá giá cùng với sự áp đặt
của những nước lớn, những nước mà đang nhập khẩu hàng hóa của chúng ta dẫn
đến chúng ta gặp phải những bất lợi lớn. Hàng hóa của chúng ta có chi phí sản xuất
thấp dẫn đến giá bán thấp nhưng vẫn bị cho là bán phá giá và chịu thuế xuất cao.
Điều này dẫn đến giảm kim ngạch xuất khẩu và ảnh hưởng đến sản xuất trong
nước. Trong thới gian tới chúng ta có thể sẽ phải gặp những vụ kiện bán phá giá
mới, cho nên cần phải có những tìm hiểu đúc rút kinh nghiệm và có phương án giải
quyết vấn đề một cách tốt nhất.




15
Quản Trị Doanh Nghiệp
Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. HCM

Mục Lục:
Chương 1: Chống bán phá giá là gì?..............................................................................................1
1. Khái niệm:...............................................................................................................................1
2. Nội dung hiệp định chống bán phá giá của WTO................................................................. 1
3.Cơ chế chống bán phá giá của Mỹ.........................................................................................3
Chương 2: Những thách thức và khó khăn có liên quan trong việc xuất khẩu hàng hóa của việt
nam................................................................................................................................................... 4
Chương 3: Biện pháp chống bán phá giá trong thương mại quốc tế.........................................10
1. Tình hình chung:....................................................................................................................10
2. Một số đề xuất, kiến nghị................................................................................................... 12
Để chúng ta có thể đồng hành cùng các biện pháp chống bán phá giá, các DN Việt Nam trước
hết cần trang bị cho mình những kiến thức pháp luật về chống bán giá trong thương mại quốc
tế. Bên cạnh đó, cần lưu một số vấn đề cụ thể sau :................................................................12
Kết luận:.......................................................................................................................................15
Như vậy trong thời gian vừa qua Việt Nam đã phải đón nhận một số vụ kiện chống bán phá
giá từ một số quốc gia mà chúng ta xuất khẩu hàng hóa sang nước đó. Vấn đề này chúng ta đã
gặp phải từ rất lâu nhưng do chưa nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề cho nên chưa
có sự chuẩn bị chu đáo đối với các vụ kiện. Mặt khác chúng ta còn ít kinh nghiệm trong vấn
đề chống bán phá giá cùng với sự áp đặt của những nước lớn, những nước mà đang nhập
khẩu hàng hóa của chúng ta dẫn đến chúng ta gặp phải những bất lợi lớn. Hàng hóa của
chúng ta có chi phí sản xuất thấp dẫn đến giá bán thấp nhưng vẫn bị cho là bán phá giá và chịu
thuế xuất cao. Điều này dẫn đến giảm kim ngạch xuất khẩu và ảnh hưởng đến sản xuất
trong nước. Trong thới gian tới chúng ta có thể sẽ phải gặp những vụ kiện bán phá giá mới,
cho nên cần phải có những tìm hiểu đúc rút kinh nghiệm và có phương án giải quyết vấn đề
một cách tốt nhất...........................................................................................................................15
Mục Lục:........................................................................................................................................16




16
Quản Trị Doanh Nghiệp
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản