Chương 1: Định mức trong xây dựng

Chia sẻ: Hồ Chí Linh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:17

0
395
lượt xem
326
download

Chương 1: Định mức trong xây dựng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG VÀ THỜI GIAN SỬ DỤNG MÁY

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chương 1: Định mức trong xây dựng

  1. PHẦN I: ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG VÀ THỜI GIAN SỬ DỤNG MÁY Chương 1: CÁC KHÁI NIỆM VÀ LÍ LUẬN CHUNG 1.1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Việc nghiên cứu và quan sát các quá trình sản xuất để xây dựng định mức được tiến hành theo thời gian và không gian nhất định. Khi nghiên cứu 1 quá trình nào hay 1 mặt nào đó phải xem xét nó trong 1 tổng thể của quy trình và điều kiện sản xuất trong 1 trạng thái luôn luôn biến động phụ thuộc vào sự thay đổi của những chính sách về kinh tế, hoặc ảnh hưởng của những điều kiện địa phương và tự nhiên. Nói khác đi là trên quan điểm lịch sử sẽ nghiên cứu vấn đề 1 cách biện chứng. 1.2. PHÂN LOẠI CÁC HÌNH THỨC LAO ĐỘNG: Mỗi hình thức lao động khác nhau áp dụng phương pháp quan sát thu thập xây dựng định mức khác nhau, trong khi định mức thường gặp các hình thức lao động sau: 1. Lao động đơn lẻ: là lao động của 1 công nhân có thể tạo ra được một sản phẩm. 2. Lao động tập thể: là lao động của nhiều công nhân cũng để tạo ra một loại sản phẩm. 3. Lao động thủ công: Công nhân có thể sử dụng công cụ hoặc trực tiếp làm bằng tay chân, nhưng tất cả đều dùng đến năng lượng sức lực của cơ bắp để tác động vào đối tượng lao động. Ví dụ công nhân đào đất bằng cuốc xẻng, vận chuyển bằng xe cút kít … 4. Lao động bán cơ giới: Công nhân có sử dụng các công cụ cơ khí chạy bằng năng lượng hoặc bằng nhiên liệu nhưng phải tác động 1 phần sức lực. Ví dụ công nhân xẻ gỗ bằng máy cưa đĩa, khoan lỗ nìm băng máy khoan… 5. Lao động cơ giới: Công nhân sử dụng các máy móc chạy bằng năng lượng nhiên liệu tác động trực tiếp vào đối tượng lao động, chỉ tiêu hao năng lương cơ bắp trong vai trò điều khiển. Ví dụ công nhân điều khiển máy trộn bê tông, lái máy xúc … 1.3. PHÂN LOẠI QUÁ TRINH XÂY LẮP VÀ NGHIÊN CỨU CƠ CẤU CỦA QUÁ TRINH XÂY LẮP: 1. Định nghĩa: Quá trình xây lắp là tập hợp những quá trình sản xuất nhằm dựng mới, sữa chữa, khôi phục kể cả việc lắp ráp các kết cấu vào công trình. Chú ý: Trên quan điểm định mức, lắp máy được tách riêng mà không bao gồm trong quá trình xây lắp. 2. Phân loại: - Tuỳ theo phương pháp thực hiện mà phân thành: quá trình xây hoặc lắp kết cấu vào công trình. - Tuỳ theo ý nghĩa khi thực hiện mà chia ra: quá trình chính hay quá trình phụ. Quá trình chính phải đảm bảo trực tiếp thu được sản phẩm. Quá trình phụ phục vụ cho quá trình chính, nó không trực tiếp tạo ra sản phẩm cuối cùng. - Tuỳ theo giai đoạn thực hiện phân thành: Quá trình chuẩn bị, quá trình thi công bê tông, quá trình xây, quá trình hoàn thiện … 1
  2. - Tuỳ theo mức độ cơ giới hoá phân thành quá trình: lao động thủ công, cơ giới hoá bộ phận hay cơ giới hoá hoàn toàn. - Tuỳ theo mức độ phức tạp phân thành: Quá trình đơn giản, quá trình phức tạp. - Tuỳ theo diễn biến của quá trình chu kỳ hay không chu kỳ. Quá trình chu kỳ là những quá trình mà sau 1 thời gian nhất định các phần việc lặp đi lặp lại như cũ. 3. Cơ cấu của quá trình xây lắp: Trên quan điểm định mức kỹ thuật, phân chia cơ cấu quá trình xây lắp như sau: a. Quá trình tổng hợp là đơn vị chia lớn nhất của xây lắp, gồm một số quá trình đơn giản chính và phụ có liên quan chặt chẽ với nhau về mặt thi công nhằm tạo ra sản phẩm. Ví dụ quá trình tổng hợp đổ bê tông móng gồm các quá trình đơn giản như: làm khuôn bê tông, đặt cốt thép, và đổ bê tông. b. Quá trình đơn giản là một bộ phận của quá trình tổng hợp, bao gồm 1 số phần việc có liên quan chặt chẽ với nhau về mặt thi công. Ví dụ quá trình đơn giản đổ bê tông gồm cỏc phần việc: vận chuyển vật liệu, vận chuyển bê tông, đổ và đầm bê tông. c. Phần việc là 1 bộ phận của quá trình đơn giản còn gọi là nguyên công, nó có đặc điểm là đồng nhất về công cụ và đối tượng lao động, không thể phân chia được nữa về mặt tổ chức. Ví dụ phần việc đầm bê tông hay vận chuyển vật liệu. Nhưng để tiếp tục nghiên cứu tổ chức lao động và định mức, người ta phân chia phần việc thành các thao tác. Sự phân chia này theo dấu hiệu lao động chứ không theo dấu hiệu tổ chức. d. Thao tác: là 1 bộ phận của phần việc bao gồm 1 số động tác có liên quan nhau. Ví dụ thao tác đưa máy đầm vào vị trí gồm các động tác: nhấc lên, chuyển đi, để xuống. e. Động tác: là bộ phận của thao tác, bao gồm 1 số cử động liên tiếp có liên quan đến nhau. Ví dụ động tác nhấc máy đầm lên gồm 3 cử động: đưa tay về phía máy đầm, cầm lấy máy đầm, nhấc lên. f. Cử động: là sự di chuyển bất kỳ của 1 bộ phận cơ thể, nó là đơn vị phân chia nhỏ nhất của 1 quá trình lao động. Chú ý: - Việc phân chia cơ cấu của quá trình xây lắp để nghiên cứu định mức phải linh hoạt, có khi phải gộp nhiều phần việc hay nhiều thao tác lại với nhau (còn gọi là phần tử). - Trong định mức lao động và định mức thời gian sử dụng máy, khi phân chia để nghiên cứu, thường chỉ chia đến thao tác, chỉ khi nào nghiên cứu phương pháp lao động của người lao động tiên tiến thì mới phân chia đến động tác và cử động. - Khi nghiên cứu quan sát xây dựng định mức, có chia và nghiên cứu đến thao tác hoặc phần việc nhưng khi tính toán và trình bày định mức thường lấy đơn vị phân chia là quá trình đơn giản hay quá trình tổng hợp nhằm làm cho số trị số định mức giảm để dể tra cứu. 1.4. PHÂN LOẠI THỜI GIAN LÀM VIỆC CỦA CÔNG NHÂN VÀ THỜI GIAN SỬ DỤNG MÁY: 1.4.3. Định nghĩa: Thời gian làm việc là độ lâu kể từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc ca làm việc không kể thời gian nghỉ ăn cơm giữa ca. Tuỳ theo tính chất công việc và nền kinh tế của từng nước mà quy định độ lâu ca làm việc này. Ở Việt Nam hiện nay độ lâu một ca làm việc thông thường là 8 giờ. Trừ những ngành đặc biệt như làm ở hầm mỏ, làm ở độ sâu dưới nước … có quy định riêng. 2
  3. 1.4.2. Phân loại sơ đồ phân tích thời gian làm việc: Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, có 2 loại sơ đồ: - Phân tích thời gian làm việc để nghiên cứu định mức (nghiên cứu ở chương này) - Phân tích thời gian làm việc để nghiên cứu tổn thất thời gian (nghiên cứu ở chương 4). 1.4.3. Sơ đồ phân tích thời gian làm việc của công nhân nhằm nghiên cứu định mức: Thời gian làm việc của 1 công nhân Thời gian không được định mức Thời gian được định mức Làm việc Ngừng việc Làm việc không Ngừng việc ph ự hợp v ới được quy phù hợp với không được nhiệm vụ định nhiệm vụ quy định Nghỉ Ngừng Làm Làm Do tổ Do Do vi Thời Thời giải lao việc vì việc công chức ngẫu p h ạm gian gian và nhu lý do thi không tác kém nhiên kỷ luật tác chuẩn bị cầu cá thấy công thừa v à k ết nghiệp nhân trước thúc Giải thích: - Thời gian được định mức: là thời gian làm việc phù hợp với quy định và nhiệm vụ, được tổ chức đúng đắn và thời gian ngừng việc được quy định được đưa vào để tính toán định mức. - Thời gian tác nghiệp: là thời gian trực tiếp chế tạo sản phẩm, nó làm thay đổi hình dáng kích thước tính chất của đối tượng lao động. Người ta chia thành thời gian tác nghiệp chính và thời gian tác nghiệp phụ. Trong thời gian tác nghiệp chính người ta trực tiếp tạo ra sản phẩm. Ví dụ trong công tác xây tường tác nghiệp chớính là xây tường, tác nghiệp phụ là phục vụ cho tác nghiệp chính như trộn vữa, vận chuyển vật liệu. - Ngừng vì lý do thi công: chỉ kể đến những thời gian ngừng việc bắt buộc không thể tránh khỏi. Cụ thể do 2 nguyên nhân: + Do quy trình kỷ thuật bắt buộc phải ngừng. Ví dụ đổ bê tông đến 1 đoạn chiều cao để chờ ghép khuôn cửa mới đổ tiếp được, hoặc đến mạch dừng phải di chuyển. + Do nguyên nhân tổ chức không thể sắp xếp bố trí công việc đều đặn cho mọi thành viên trong nhóm mà xảy ra thời gian chờ đợi chút ít. - Thời gian chuẩn bị kết thúc: là thời gian kể đến việc chuẩn bị lúc đầu ca (chuẩn bị dụng cụ, kiểm tra máy móc, xem bản vẽ…) và thời gian thu dọn lúc cuối ca (thu dọn dụng cụ và vị trí làm việc, lau chùi máy…). Thời gian chuẩn bị kết thúc có thể xảy ra ở giữa ca nếu trong ca đó có nhận những nhiệm vụ sản xuất khác nhau. Ví dụ công nhân lắp ghép sau khi lắp được một số tấm tường phải chuẩn bị cho việc hàn các liên kết. - Thời gian không được định mức: là thời gian làm việc và ngừng việc không phù hợp với nhiệm vụ và quy trình sản xuất, không được quy định và không được đưa vào tính toán định mức. - Thời gian làm việc không thấy trước: là tiêu phí thời gian cho những công việc không có trong nhiệm vụ quy định, tuy rằng thời gian này có tạo ra sản phẩm, nếu trên quan 3
  4. điểm phân tích lãng phí thời gian thì loại thời gian này có ích cho sản xuất, nhưng trên quan điểm định mức sử dụng lâu dài và phục vụ cho kế hoạch thì loại thời gian này không tính vào trong định mức. Ví dụ định mức cho cần trục lắp ghép theo quy trình là bốc cấu kiện tại các giá đỡ để lắp, nhưng khi làm việc có xe ô tô chở cấu kiện đến, cần trục bốc cấu kiện từ ô tô xuống, thì thời gian bốc xếp này không tính vào công việc lắp, mà chỉ tính cho định mức bốc xếp. - Thời gian làm công tác thừa là tiêu phí thời gian cho những công việc cũng không có trong nhiệm vụ mà chỉ để sửa chữa những lỗi lầm do thiết kế hoặc do bản thân công nhân gây ra (làm hỏng, phá đi làm lại) hoặc làm quá yêu cầu chất lượng. Ví dụ trộn bê tông quá số vòng quay cần thiết, bào cánh cửa quá độ nhẵn. Loại thời gian này hoàn toàn không làm tăng sản phẩm cho xã hội. - Thời gian ngừng việc do tổ chức kém là tiêu phí thời gian do công nhân phải chờ đợi và ngừng việc do thiếu vật liệu, thiếu cụng cụ, thiếu chỗ làm việc, thiếu cán bộ hướng dẫn … - Ngừng việc do ngẫu nhiên là thời gian ngừng việc không thể biết trước và kiểm soát được do mưa bão, mất điện mạng chung của thành phố. - Ngừng việc do vi phạm kỷ luật lao động, thời gian nghỉ việc do đi muộn về sớm, làm việc riêng trong giờ làm việc … 1.4.4. Sơ đồ phân tích thời gian làm việc của máy thi công nhằm nghiên cứu định mức: Thời gian làm việc của máy thi công Thời gian được định mức Thời gian không được định mức Ngừng việc Làm việc Ngừng Làm việc không được phù hợp với việc được không phù hợp quy định nhiệm vụ quy định với nhiệm vụ CN nghỉ Ngừng Ngừng Làm Làm Tải Giảm Chạy Do tổ Do Do vi giải lao và để bảo việc vì việc công trọng tải cú khụng chức ngẫu p h ạm dưỡng nhu cầu lý do thi không tác hoàn căn cứ tải cho kém nhiên kỷ luật máy cá nhân thấy công thừa toàn phép trước Giải thớch: Giải thích: - Thời gian làm việc của máy là độ lâu 1 ca làm việccủa máy, thông thường hiện nay là 8 giờ, không kể thời gian để công nhân nghỉ ăn cơm giữa ca. - Thời gian được định mức là thời gian làm việc phù hợp với nhiệm vụ và ngừng việc được quy định, được tính vào định mức thời gian sử dụng máy. - Thời gian làm việc với tải trọng hoàn toàn: máy làm việc hết tính năng và công suất theo thiết kế biểu thị ở trọng tải, tốc độ, sức nâng, vòng quay … - Thời gian làm việc giảm tải có căn cứ cũng được tính vào định mức nếu do quy trình hoặc do điều kiện thi công bắt buộc. Ví dụ ô tô trọng tải 7 tấn, nhưng do các loại cầu tạm không cho phép, chỉ chở được 5 tấn. Hoặc ô tô 4 tấn nhưng do chở vật liệu cồng kềnh chỉ chở được 3 tấn. 4
  5. - Thời gian chạy không tải cho phép cũng được tính vào định mức nếu do quy trình bắt buộc. Ví dụ ô tô vận chuyển 1 chiều, máy móc khởi hành lúc ban đầu… - Thời gian máy ngừng để bảo dưỡng: kể đến thời gian bảo dưỡng chăm sóc thường xuyên trong ca, như thời gian kiểm tra cho dầu mỡ lúc đầu ca, lau chùi thu dọn lúc cuối ca … Các loại thời gian khác như đó giải thích ở trên. 1.5. ĐỊNH MỨC THỜI GIAN - ĐỊNH MỨC SẢN LƯỢNG VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA CHÚNG 1.5.3. CÁC LOẠI ĐỊNH MỨC ĐỐI VỚI CÔNG NHÂN VÀ MÁY THI CÔNG: Khi xây dựng định mức đối với công nhân xây lắp và máy thi công, thông thường có những định mức sau: 1. Đối với công nhân: có các định mức sau: - Định mức lao động. - Định mức sản lượng. Thông thường định mức thời gian và định mức sản lượng được xây dựng chung. 2. Đối với máy thi công: - Định mức thời gian sử dụng máy. - Định mức sản lượng của máy (sản lượng 1 giờ hay 1 ca). - Định mức cho công nhân điều khiển máy. 1.5.2. CÁC ĐIỀU KIỆN ẢNH HƯỎNG ĐẾN NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VÀ CŨNG LÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỊNH MỨC: - Công cụ lao động. - Chất lượng vật liệu. - Trình độ tay nghề của công nhân. - Phương pháp tổ chức sản xuất. - Hệ thống trả lương (lương khoán hay công nhật). - Trình độ tự giác của công nhân. 1.5.3. QUAN HỆ GIỮA ĐỊNH MỨC THỜI GIAN VÀ ĐỊNH MỨC SẢN LƯỢNG: 1. Định nghĩa: a. Định mức thời gian (định mức lao động): là mức tiêu phí thời gian (lao động) quy định để làm ra 1 đơn vị sản phẩm đảm bảo quy cách và chất lượng do 1 công nhân có trình độ nghề nghiệp phù hợp thực hiện với quy trình tổ chức sản xuất đúng đắn và sử dụng đối tượng lao động và tư liệu lao động có hiệu quả. Chú ý: Về mặt lý thuyết định mức thời gian hoàn toàn khác với định mức lao động. Định mức thời gian nghiên cứu về mặt tốc độ để tạo ra 1 sản phẩm, đơn vị tính là: giờ / sản phẩm, phút / sản phẩm … Định mức lao động là mức tiêu phí lao động để tạo ra 1 sản phẩm, đơn vị tính là: người giờ / sản phẩm , giờ công /, người phút / sản phẩm. Trong thực tế nhiều khi người ta sử dụng hai khái niệm này là một, nhưng phải hiểu rằng chỉ khi nào quy về một công nhân thực hiện thì định mức thời gian mới bằng định mức sản lượng. b. Định mức sản lượng: là số sản phẩm hợp quy cách và chất lượng làm ra trong 1 đơn vị thời gian do công nhân có trình độ nghề nghiệp phù hợp thực hiện với điều kiện tổ chức sản xuất đúng đắn. Đơn vị đo của định mức sản lượng rất nhiều, tuỳ theo loại cụ thể là: m3/giờ, cái / phút, m / h… 5
  6. 2. Quan hệ giữa định mức thời gian và định mức sản lượng: a. Định mức thời gian có quan hệ tỷ lệ nghịch với định mức sản lượng: được biểu thị bằng công thức: 1 s= (1-1) t Với: s - Định mức sản lượng. t - Định mức thời gian. Chứng minh: Giả thiết sau thời gian T ta thu được 1 số sản phẩm là S đủ các điều kiện quy định của sản phẩm và tiêu phí thời gian như đã trình bày thì ta có định mức thời gian và định mức sản lượng: T S t= và s = S T 1 1 ⇒ s= = T t S Vi dụ: 1. Định mức thời gian để san 1000 m3 đất là 0.35 giờ máy. Hãy tính định mức sản lượng của 1 giờ máy. T 0.35 Ta có định mức thời gian: t = = giờ máy / m3 S 1000 1 1000 s= = Vậy m3 / giờ máy t 0.35 2. Định mức sản lượng sơn cánh cửa gỗ bằng máy phun sơn là s = 240 m2/ca. Hãy tính định mức thời gian cho 100 m2 sơn. 8 × 100 1 1 t = × 100 = × 100 = = 3.3 giờ máy / 100 m2 240 s 240 8 b. Quan hệ giữa định mức thời gian của 1 công nhân và định mức lao động: DMld t nh = n ⇒ ĐMlđ = t nh .n (1-2 ) t nh - Định mức thời gian của nhóm. ĐMlđ - Định mức lao động. n - Số công nhân trong nhóm. c. Quan hệ giữa định mức thời gian và định mức sản lượng của 1 công nhân trong 1 ca T t = ca s ca T s ca = ca ⇒ (1-3) DMld Vì theo (1-2), khi nhóm chỉ có 1 công nhân thì ĐMLĐ = tnh = t t - Định mức thời gian của 1 công nhân. Tca - Độ lâu 1 ca làm việc (8 giờ) sca - Định mức sản lượng trong 1 ca. 6
  7. d. Quan hệ giữa định mức thời gian và định mức sản lượng của 1 nhóm công nhân trong 1 ca: T t nh = ca s nh.ca Tca × n Tca s nh.ca = = ⇒ (1-4) t n hom DMld s nh.ca - Định mức sản lượng của 1 nhóm công nhân trong 1 ca. e. Quan hệ giữa định mức thời gian và định mức sản lượng của máy: T 1 s m.ca = ca s m. gio = hay tm tm Tca 1 tm = = (1-5) s m.ca s m. gio s m.ca - Định mức sản lượng của máy trong 1 ca. t m - Định mức thời gian của máy tính theo giờ. Tca - Thời gian của 1 ca ( 8 giờ ). s m. gio - Định mức sản lượng của máy trong 1 giờ. g. Quan hệ tăng giảm giữa định mức thời gian và định mức sản lượng: - Mức tăng hoặc giảm tương đối (%) của định mức sản lượng khi giảm hoặc tăng tương đối (%) định mức thời gian. 100 × ∆t ∆s = (1-6) 100 ± ∆t ∆s - Mức tăng hoặc giảm tương đối của định mức sản lượng. ∆t - Mức tăng hoặc giảm tương đối của định mức thời gian. Nếu ∆t giảm, ∆s tăng, công thức có dấu ( - ). Nếu ∆t tăng, ∆s giảm, công thức có dấu ( + ). Chứng minh: Gọi s tt và t tt - là định mức sản lượng và định mức thời gian thực tế s kh và t kh - là định mức sản lượng và định mức thời gian theo kế hoạch hiện hành. Theo (1-6) ta có: 1 stt = ⇒ stt × ttt = 1 ttt 1 s kh = ⇒ s kh × t kh = 1 t kh s kh × t kh s tt × t tt = s kh × t kh ⇒ stt = Vậy: t tt 7
  8. Giả thiết ta chứng minh trường hợp giảm định mức sản lượng và tăng định mức thời gian, tức là: s kh × t kh ∆s ' = s kh − stt = s kh − Giảm tuyệt đối: t tt ⎛ t⎞ ∆s , = skh ⎜1 − kh ⎟ ⎜ t⎟ Giảm tuyệt đối: ⎝ tt ⎠ Trong đó ∆s ' là mức giảm tuyệt đối của sản lượng, muốn tìm mức giảm tương đối ( ∆s ) của định mức sản lượng thì ta đem mức giảm sản lượng tuyệt đối chia cho sản lượng kế hoạch và nhân với 100. ⎛ t⎞ ⎜ 1 − kh ⎟ × s kh ⎜ t tt ⎟ ⎛ t⎞ ∆s ' × 100 = ⎝ ⎠ × 100 = ⎜ 1 − kh ⎟ × 100 ∆s = (*) ⎜ t tt ⎟ s kh s kh ⎝ ⎠ Theo nguyên lý thì mức sản lượng thực tế bị giảm so với kế hoạch thì mức thời gian phải tăng. Nếu gọi: t kh = 100% thì t tt = 100 + ∆t . Thay vào (*) ta có: 100 × ∆t ⎛ 100 ⎞ ∆s = ⎜ 1 − ⎟ × 100 = ⎝ 100 + ∆t ⎠ 100 + ∆t - Mức tăng hoặc giảm tuyệt đối (%) của định mức sản lượng khi giảm hoặc tăng tương đối (%) định mức thời gian. s xp × ∆t ∆s ' = ( 1-7 ) 100 ± ∆t ∆s ' - mức tăng hoặc giảm tuyệt đối của định mức sản lượng. ∆t - mức tăng hoặc giảm tương đối của định mức thời gian. s xp - định mức sản lượng xuất phát cần để so sánh, chẳng hạn như định mức sản lượng hiện hành. Khi ∆s ' tăng thì ∆t giảm trong công thức dùng dấu ( - ). Khi ∆s ' giảm thì ∆t tăng trong công thức dùng dấu ( + ). Chứng minh: Khi đó biết mức tăng tương đối của định mức sản lượng ∆s và định mức xuất ∆s × s xp phát s xp để so sánh, muốn tìm mức tăng tuyệt đối ∆s ' ta chỉ việc lấy ∆s ' = và thay 100 100∆t ∆s ở ( 1-6 ) vào ∆s ' = 100 ± ∆t s xp 100 - Mức sản lượng mới khi giảm hoặc tăng tương đối (%) định mức thời gian: s xp × 100 s moi = (1-8) 100 ± ∆t Khi ∆t giảm thì s moi tăng trong công thức dùng dấu ( - ). Khi ∆t tăng thì s moi giảm trong công thức dùng dấu ( + ). Chứng minh: cho trường hợp s moi tăng: 8
  9. s xp × ∆t ∆t ⎞ ⎛ s moi = s xp + = s xp ⎜1 + ⎟ 100 − ∆t ⎝ 100 − ∆t ⎠ ⎛ 100 − ∆t + ∆t ⎞ 100 × s xp = s xp ⎜ ⎟= s moi ⎝ 100 − ∆t ⎠ 100 − ∆t Ví dụ: Định mức thời gian của 1 quá trình giảm 20% . Tìm mức tăng tương đối, mức tăng tuyệt đối của định mức sản lượng ∆s , ∆s ' và mức sản lượng mới s moi . Biết s xp = 80 SP/ giờ. 100 × 20 Giải: Mức tăng tương đối của định mức sản lượng: ∆s = = 25% 100 − 20 80 × 20 Mức tăng tuyệt đối của định mức sản lượng: ∆s ' = = 20 SP/ giờ 100 − 20 80 × 100 s moi = = 100 SP/ giờ Mức sản lượng mới: 100 − 20 s moi = s xp + ∆s ' = 80 + 20 = 100 SP/ giờ Hoặc: 1.6. PHÂN LOẠI SẢN PHẨM XÂY LẮP TRÊN QUAN ĐIỂM ĐỊNH MỨC KỸ THUẬT: 1.6.1. Định nghĩa: Sản phẩm xây lắp là kết quả của sự thay đổi vị trí, hình dáng, tính chất, thành phần, cơ cấu của đối tượng lao động theo nhiệm vụ được giao cho cá nhân hoặc đơn vị thực hiện; là kết quả cuối cùng của việc thực hiện công tác xây lắp. Đơn vị tính sản phẩm cuối cùng của công tác xây lắp là m2xd, m2 ở, căn hộ, km đường … 1.6.2. Sản phẩm quá trình: 1. Sản phẩm quá trình tổng hợp là kết quả của việc thực hiện một quá trình tổng hợp. Ví dụ đổ xong 1 khối lượng bê tông móng, lắp xong 1 tầng nhà … 2. Sản phẩm quá trình đơn giản là kết quả của việc thực hiện một quá trình đơn giản. Ví dụ số m2 làm ván khuôn, số kg làm cốt thép, số m3 đổ bê tông … 1.6.3. Sản phẩm phần việc là kết quả của việc thực hiện từng phần việc. Ví dụ số xe vật liệu chuyển được, số viên gạch xây được … 1.6.4. Phần tử và sản phẩm phẩn tử: Trong quá trình nghiên cứu quan sát xây dựng định mức, thường người ta chia quá trình thành các phần tử, nó cũng là một bộ phận chia nhỏ của quá trình xây lắp để nghiên cứu. Việc phân chia này độc lập tương đối với việc chia cơ cấu của 1 quá trình, có nghĩa là phần tử có thể trùng với phần việc, hoặc gộp nhiều phần việc, nhưng cũng có thể là phần việc bị chia nhỏ ra để nghiên cứu. Do việc phân chia phần tử nên cũng có sản phẩm phần tử, đó là kết quả việc thực hiện của từng phần tử. 1.6.5. Hệ số chuyển đơn vị: 1. Đặt vấn đề: Khi quan sát thu thập các tài liệu định mức người ta chia nhỏ các quá trình thành các phần việc và phần tử để loại bỏ những chỗ không hợp lý, sẽ thu được sản phẩm của phần việc hay sản phẩm phần tử, nhưng khi tính toán trình bày định mức, người ta tính toán cho sản phẩm quá trình đơn giản hoặc cho sản phẩm quá trình tổng hơp. Việc tính toán này được thực hiện nhờ hệ số chuyển đổi đơn vị từ sản phẩm phần tử sang sản phẩm quá trình đơn giản hoặc sản phẩm quá trình tổng hơp. 2. Định nghĩa: Hệ số chuyển đơn vị là số sản phẩm phần tử hoặc sản phẩm phần việc tính cho 1 đơn vị sản phẩm của quá trình đơn giản hoặc số sản phẩm của quá trình đơn giản tính cho 1 đơn vị sản phẩm của quá trình tổng hợp. 9
  10. 3. Ví dụ: a. Cần rải 50 m2 sân nhựa, phải đào 150 m3 đất, trải đá từng lớp 100 m2, rải nhựa 50 m2. Ta có hệ số chuyển đơn vị như sau: 150 100 50 k1 = = 3, k2 = = 2, k3 = =1 50 50 50 Nghĩa là muốn làm 1 m2 sân nhựa phải đào 3 m3 đất, rải 2 m2 đá và rải 1 m2 nhựa. b. Khi quan sát định mức cho quá trình xây tường (quá trình đơn giản) đơn vị là m3 xây. Quá trình quan sát người ta chia ra các phần việc sau: - Vận chuyển gạch tiêu phí lao động là 15 người-phút / xe, mỗi xe 60 viên. - Vận chuyển vữa tiêu phí lao động là 10 người-phút /chuyến, mỗi chuyến 2 xô bằng 20 lít. - Xây gạch tiêu phí lao động là 150 người-phút /m3 xây. Mỗi m3 xây cần 540 viên gạch và 280 lít vữa. Hãy tính hệ số chuyển đơn vị và tiêu phí lao động cho 1 m3 xây. 540 280 1 Hệ số chuyển đơn vị: k1 = =9, k2 = = 14 , k3 = = 1 60 20 1 Hao phớ lao động cho 1 m3 xõy: ∑ Ti ki = 15 × 9 + 10 × 14 + 150 × 1 = 425 người-phút / m3 xây 1.6.6. Hệ số cơ cấu: Trong khi quan sát và tính toán định mức cho những quá trình nhiều biến loại giống nhau về sử dụng công cụ, đối tượng lao động và sản phẩm, nhưng có vài đặc điểm khác nhau làm ảnh hưởng đến năng suất lao động. Khi quan sát người ta quan sát từng biến loại một, nhưng khi tính toán trình bày định mức, để cho đơn giản người ta trình bày chung cho một vài trị số định mức, nhưng muốn phản ảnh tính chính xác của sự tiêu phí thời gian khác nhau của các biến loại vào định mức người ta dựng hệ số cơ cấu. Ví dụ: Khi quan sát lắp khối bê tông móng, tổng số 140 khối, trong đó có 126 khối ở giữa và 14 khối ở góc. Tiêu phí thời gian để máy lắp 1 khối ở giữa T1 = 10 phútt. Tiêu phí thời gian để máy lắp 1 khối ở góc T2 = 12 phút. Nhưng khi tính toán định mức người ta chỉ trình bày chung một định mức lắp 1 khối bê tông móng nói chung. Muốn vậy phải tính hệ số cơ cấu: 126 14 N1 = = 0 .9 , N2 = = 0 .1 140 140 Tiêu phí lao động để lắp 1 khối bê tông móng nói chung là: ∑ Ti N i = 10 × 0.9 + 12 × 0.1 = 10.2 phút Khác với hệ số chuyển đơn vị là 1 số bất kỳ, bao giờ tổng các hệ số cơ cấu cũng bằng 1, có thể tính hệ số cơ cấu theo tỷ lệ %, khi đó thì tổng của chúng bằng 100%. 1.7. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN QUÁ TRINH XÂY LẮP KHI NGHIÊN CỨU ĐỊNH MỨC 1.7.1. Vị trí làm việc (chỗ): là khoảng không gian vừa đủ để công nhân tham gia quá trình xây lắp; trong đó công cụ, máy móc, vật liệu và sản phẩm làm ra được bố trí sao cho hợp lý nhất. Khi quan sát định mức, chỗ làm việc được mô tả ghi chép lại trong phiếu đặc tính, nó là cơ sở để quy định các điều kiện tiêu chuẩn của định mức. 1.7.2. Điểm ghi: Trong quá trình quan sát nghiên cứu định mức phải phân biệt điểm ghi, đó là điểm phân chia ranh giới về mặt thời gian của 1 phần tử hoặc nhiều phần tử liền nhau, khi có sự thay đổi về số lượng những đối tượng tham gia hoặc khi kết thúc phần tử này chuyển sang phần tử khác. 10
  11. 1.7.3. Nhân tố ảnh hưởng: là tình trạng sự việc sự việc nào đó có ảnh hưởng đến đại lượng tiêu phí thời gian, nhân tố ảnh hưởng có thể diễn tả bằng số hoặc bằng lời. Ví dụ: - Diễn tả bằng lời: Xây đá hộc, xây gạch chỉ .. - Diễn tả bằng số: Tường dày 220, 330, 450 mm - Diễn tả cả bằng lời và bằng số: Lắp panen mái ở độ cao 12m. bằng lời bằng số 1.7.4. Đặc tính của quá trình: là tập hơp các nhân tố ảnh hưởng đặc trưng cho 1 quá trình xây lắp dựa vào đặc tính chủ yếu của quá trình khi quan sát cũng được ghi vào phiếu đặc tính và cũng là cơ sở để thiết kế điều kiện tiêu chuẩn của định mức. Thường bao gồm: - Loại quá trình. - Đơn vị khối lượng. - Thành phần công nhân thực hiện. - Cụng cụ lao động. - Thành phần công việc. - Quy trình thực hiện. 1.7.5. Các điều kiện tiêu chuẩn của quá trình: là những đặc tính của quá trình nhưng có sự lựa chọn bố trí hợp lý và quy định chặt chẽ, mỗi trị số định mức được thiết kế ra đều kèm theo một điều kiện tiêu chuẩn nhất định ban hành kèm theo định mức. Khi nghiên cứu để đánh giá sự hụt, đạt hay vượt định mức đều phải xem xét quá trình ấy có đúng với điều kiện tiêu chuẩn hay không sau đó mới kết luận. Khi muốn nghiên cứu phương pháp sản xuất của người sản xuất tiên tiến phải tổ chức các điều kiện đúng với các điều kiện tiêu chuẩn của định mức để đánh giá người ấy có thật sự là tiên tiến hay không. 1.8. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH MỨC VÀ CÁC LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH MỨC: 1.8.1. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH MỨC: 1. Phương pháp tính toán thuần tuý: là xây dựng định mức theo phương pháp dựa trên các tài liệu có sẵn (ngồi trong phòng để tính định mức), dựa vào các tiêu chuẩn thời gian phần việc, lý lịch và đặc tính của máy móc (tốc độ di chuyển, tốc độ nâng vật, tốc độ quay…) để tính toán thành các định mức, hoặc trong định mức vật liệu dựa vào các kích thước kết cấu hoặc đặc tính của vật liệu để tính toán định mức vật liệu. Để tiến hành định mức người ta tiến hành thực hiện theo 3 giai đoạn: a. Thu thập và phân tích tài liệu gốc, bao gồm: các thiết kế tổ chsức thi công, các thời gian tác nghiệp tiêu chuẩn có sẵn của các phần việc, lý lịch tính năng của máy móc, các tài liệu có liên quan khác … b. Thiết kế cơ cấu hợp lý của quá trình: dựa vào các tài liệu có sẵn thiết kế điều kiện tiêu chuẩn cho quá trình. c. Tính toán trị số định mức Nhận xét: Phương pháp định mức này tiết kiệm được khối lượng ngày công quan sát rất lớn. Đặc biệt là những phần việc trùng lặp giống nhau trong các quá trình, nếu sử dụng được tài liệu gốc thì đỡ phải quan sát mất nhiều lần và nhiều ngành. Phương pháp này có nhược điểm là không phản ảnh được các điều kiện sản xuất thi công thực tế, nên thường kết hợp phương pháp này với phương pháp quan sát để xây dựng định mức. 2. Phương pháp quan sát thực nghiệm: có 2 loại: 11
  12. a. Phương pháp quan sát thực tế: Phương pháp này thường được sử dụng phổ biến nhằm: xây dựng các định mức mới, kiểm tra việc thực hiện các định mức hiện hành, nghiên cứu phương pháp sản xuất của người sản xuất tiên tiến, nghiên cứu chấn chỉnh tổ chức lao động. Để xây dựng định mức theo phương pháp này phải tiến hành quan sát nhiều lần, nhiều nơi, dựng các dụng cụ và biểu mẫu in sẵn tiến hành quan sát ghi chép số liệu sau đó tính toán xử lý số liệu và tính thành các định mức. Nhận xét: Ưu điểm: - Do quan sát thực tế, nên đó phân tích loại bỏ những tiêu phí bất hợp lý không đưa vào định mức. - Phản ảnh đúng đắn các điều kiện thi công thực tế. Nhược: Rất tốn kém do phải tốn nhiều ngày công và phương tiện để nghiên cứu quan sát. b. Phương pháp thực nghiệm: Phương pháp này thường sử dụng bằng cách tổ chức điều kiện lao động mẫu, nghiên cứu khả năng và điều kiện làm việc của con người, hoặc nghiên cứu các đặc tính cơ lý của vật liệu để phục vụ cho việc lập định mức, nói chung phương pháp này chỉ sử dụng trong điều kiện thực nghiệm. 3. Phương pháp thống kê kinh nghiệm: Xây dựng định mức theo phương pháp này là dựa trên các tài liệu thống kê về hao phí vật tư, nhân lực, máy móc và khối lượng sản phẩm trong từng thời gian. Trên cơ sở đó tính ra trị số trung bình quy định thành định mức. Phương pháp này nói chung không khoa học, vì nếu xây dựng định mức theo phương pháp thống kê thì coi như đó thừa nhận nhiều chỗ bất hợp lý trong sản xuất đưa vào để tính định mức. Tuy nhiên phương pháp này có thể sử dụng để tổng kết mức năng suất trong từng thời kỳ, để kịp thời phục vụ cho công tác kế hoạch. Ngoài ra cũng sử dụng phương pháp kinh nghiệm và so sánh: - Dựa vào kinh nghiệm của các CBCNV và chuyên gia lành nghề để định mức. - So sánh những công việc hiện tại với các định mức đó có để điều chỉnh và đề ra những định mức hợp lý. Nói chung việc sử dụng kinh nghiệm và so sánh đều phải có chọn lọc. Tóm lại: Phương pháp thống kê kinh nghiệm không dựng để xây dựng định mức mới vì nó không phải là mức năng suất tiên tiến, nếu áp dụng định mức như vậy thì có khả năng kiềm hãm sản xuất. 1.8.1. CÁC LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH MỨC: 1. Sử dụng số liệu thực tế có phê phán: Trong quá trình xây dựng định mức phải quan sát thu thập và sử dụng nhiều số liệu thực tế, nhưng cần phải phân tích chọn lọc loại bỏ những chỗ không hợp lý. 2. Việc nghiên cứu các đối tượng để xây dựng định mức mang tính chất lựa chọn và điển hình: Vì định mức phản ảnh mức năng suất tiên tiến và hiện thực, nên không thể quan sát ở mọi chỗ mọi nơi, mà chỉ quan sát những quá trình và những đối tượng tham gia có sự lựa chọn mang tính chất đại diện. Ví dụ đối với công nhân phải lựa chọn những công nhân có trình độ nghề nghiệp cấp bậc phù hợp, đối với máy móc thì phải lựa chọn các máy có năng suất bình thường (không mới quá hoặc cũ quá). 3. Nghiên cứu quan sát xây dựng định mức: Trên cơ sở chia nhỏ quá trình thành các phần việc thao tác phần tử … Vì có chia nhỏ như vậy mới nghiên cứu tỷ mỷ loại bỏ được các tiêu phí thời gian không hợp lý, sửa đổi các thao tác vụng về. 4. Sử dụng đúng đắn phương pháp tính số trung bình: Khi quan sát định mức phải tiến hành nhiều lần, nhiều nơi, nhiều ngành. Mỗi lần quan sát sẽ thu được 1 đại lượng tiêu phí lao động và sản phẩm tương ứng, sau đú tính trung bình cho các lần quan sát thành các định mức. 12
  13. Nhưng việc sử dụng phương pháp tính số trung bình cho đúng đắn là 1 điều hết sức quan trọng, thông thường trong thống kê có các phương pháp tính số trung bình sau: - Trung bình đơn giản ( bình quân số học ). - Trung bình có trọng lượng ( bình quân gia quyền ). - Trung bình điều hoà. - Trung bình nhân ( bình quân kỳ hà ). Trong lĩnh vực định mức ta phân tích và có các công thức sau: a. Các công thức tính trung bình trong định mức: a1. Các công thức bình quan điều hoà: áp dụng đúng trong mọi trường hợp: n TTB = n ( 1-9 ) Si ∑T i =1 i TTB : Tiêu phí thời gian lao động trung bình cho 1 đơn vị sản phẩm. n: số lần quan sát. S i : Số sản phẩm thu được trong lần quan sát thứ i. Ti : Tổng tiêu phí thời gian lao động trong lần quan sát thứ i. Chứng minh: Trước khi chứng minh cần chú ý rằng tiêu phí thời gian lao động chỉ có thể tính đúng nếu công thức biểu thị quan hệ chặt chẽ với số sản phẩm nhận được. S Gọi si = i là số sản phẩm nhận được trong từng lần quan sát. Ti Giả sử sau n lần quan sát, ta nhận được tổng số sản phẩm: S S S S ∑ si = ∑ Ti = T1 + T 2 + ... + T n i 1 2 n S ∑ Ti i Số sản phẩm trung bình nhận được trong 1 lần quan sát sẽ là: . n n 1 Và tiêu phí thời gian là nghịch đảo với mức sản phẩm: TTB = = . Si Si ∑T ∑T i n Công thức bình quân điều hoà cũng có thể tính theo 2 dạng sau: n TTB = n (1-10) 1 ∑t i =1 i n TTB = (1-11) ∑ Shi Với t i - Tiêu phí thời gian lao động cho 1 đơn vị sản phẩm trong từng lần quan sát. Đơn vị tính: giờ - công. S hi - Số sản phẩm có ích trong 1 giờ. a2. Công thức bình quân gia quyền: Chỉ sử dụng khi độ lâu các lần quan sát bằng nhau: 13
  14. n n ∑T ∑ S .t i i i TTB = = i =1 i =1 (1-12) n n ∑S ∑S i i i =1 i =1 Với t i - Tiêu phí thời gian lao động cho 1 đơn vị sản phẩm trong từng lần quan sát. Nó đúng vai trò của chỉ tiêu lượng biến cần nghiên cứu. S i - Số sản phẩm trong từng lần quan sát, đúng vai trò quyền số. a3. Công thức bình quân đơn giản (số học): Nói chung không dùng để tính định mức sau các lần quan sát: T n n ∑ Si ∑ t i TTB = i =1 i = i =1 (1-13) n n b. Giải thích các trường hợp sử dụng công thức: b1. Các sai số khi sử dụng công thức số học (đơn giản): Ví dụ: có 5 công nhân đều làm việc 1 quá trình giống nhau, mỗi người làm liên tục trong 1 giờ (60 phút), và số sản phẩm thu được của từng người như sau: - Người thứ 1 thu 30 sản phẩm. - Người thứ 2 thu 25 sản phẩm. - Người thứ 3 thu 20 sản phẩm. Tổng cộng 100 sản phẩm - Người thứ 4 thu 15 sản phẩm. - Người thứ 5 thu 10 sản phẩm. + Nếu tính tiêu phí thời gian trung bình cho 1 đơn vị sản phẩm theo công thức bình quân đơn giản ta có: T ∑ Si 60 + 60 + 60 + 60 + 60 = 30 25 20 15 10 = 3.45 TTB = i người phút. n 5 60 = 17.2 sản phẩm. Như vậy số sản phẩm trung bình mỗi người thu được sẽ là: 3. 4 Vậy 5 người thu được: 17.2 x 5 = 86 sản phẩm. Sai số tuyệt đối so với ban đầu: giảm 14 sản phẩm. 100 − 86 × 100 = 14 % Sai số tương đối: 100 + Nếu tính theo công thức bình quân gia quyền, ta có: ∑ Ti = 60 + 60 + 60 + 60 + 60 = 3 phút TTB = ∑ S i 30 + 25 + 20 + 15 + 10 + Nếu tính theo công thức bình quân điều hoà, ta có: n 5 TTB = = = 3 phút Si 30 25 20 15 10 ∑ T 60 + 60 + 60 + 60 + 60 i 60 = 20 sản phẩm. 5 người thu Thử lại: Số sản phẩm trung bình 1 người thu được là: 3 được: 20 x 5 = 100 sản phẩm. Đúng với điều kiện ban đầu. Sở dỉ trong trường hợp này tính với 14
  15. công thức bình quân gia quyền cũng đúng như bình quân điều hoà là vì thời gian làm việc của từng người (xem như độ lâu từng lần quan sát) đều bằng nhau. Trường hợp độ lâu các lần quan sát khác nhau thì tính theo công thức bình quân gia quyền sẽ không đúng. Xét trường hợp cụ thể sau: b2. Tính hạn chế và sai số khi sử dụng công thức bình quân gia quyền: Ta biết rằng công thức bình quân gia quyền có xét đến sự biến thiên của các tầng số (quyền số), trong trường hợp này quyền số chính là số sản phẩm trong từng lần quan sát ( S i ), nhưng số sản phẩm thu được trong từng lần quan sát phụ thuộc vào độ lâu quan sát. Độ lâu quan sát do chủ quan của người làm công tác định mức. Muốn quan sát 1 hoặc 2, 3 giờ chỉ cần đo được đại lượng tiêu phí thời gian và số sản phẩm thu được, nó không phải là nguyên nhân khách quan tác động đến định mức. Nên quá trình tính toán người ta loại bỏ nguyên nhân chủ quan này, và chỉ khi nào các lần quan sát đều bằng nhau thì mới áp dụng công thức bình quân gia quyền. Ví dụ: Có 2 bảng tổng kết tài liệu quan sát, thành phần công nhân không đổi, lượng hao phí lao động cho 1 đơn vị sản phẩm của từng lần quan sát ( t i ) trong 2 bảng cũng không đổi, nhưng do độ lâu quan sát khác nhau và số sản phẩm khác nhau nên tính theo phương pháp bình quân gia quyền có sai số. Trường hợp1: Lần quan sát 1 2 3 4 5 Chỉ tiêu Độ lâu quan sát Ti ( phút ) 60 90 120 150 180 Hao phí lao động cho 1 sản phẩm ( t i ) 2.0 2.4 3 4 6 30 37.5 40 37.5 30 Số SP thu được trong từng lần quan sát ( S i ) 30 25 20 15 10 Số SP tính cho 60 người phút ( S hi ) Trường hợp 2: Lần quan sát 1 2 3 4 5 Chỉ tiêu Độ lâu quan sát Ti ( phỳt ) 180 150 120 90 60 Hao phí lao động cho 1 sản phẩm ( t i ) 2.0 2.4 3 4 6 90 62.5 40 22.5 10 Số SP thu được trong từng lần quan sát ( S i ) 30 25 20 15 10 Số SP tính cho 60 người phút ( S hi ) n n ∑T ∑ S .t i i i Nếu tính theo công thức bình quân gia quyền: TTB = = i =1 i =1 n n ∑S ∑S i i i =1 i =1 60 + 90 + 120 + 150 + 180 Tính cho trường hợp 1: TTB = = 3.43 ' 30 + 37.5 + 40 + 37.5 + 30 180 + 150 + 120 + 90 + 60 Tính cho trường hợp 2: TTB = = 2.67 ' 90 + 62.5 + 40 + 22.5 + 10 Nhận xét: Trong 2 trường hợp trên ta thấy các đại lượng tiêu phí thời gian lao động cho 1 sản phẩm trong các lần quan sát ( t i ) đều không thay đổi mà đó chính là chỉ tiêu lượng biến mà ta 15
  16. cần nghiên cứu để tính trung bình, nhưng vì sử dụng công thức bình quân gia quyền chịu ảnh hưởng của quyền số là số sản phẩm ( S i ) phụ thuộc vào độ lâu từng lần quan sát do chủ quan của người quan sát đẫn đến kết quả của 2 trường hợp có sai số như trên. Vì vậy trong định mức, những trường hợp có độ lâu các lần quan sát khác nhau, người ta không dùng công thức bình quân gia quyền, mà tính theo công thức bình quân điều hoà sau đây: n TTB = . Si ∑T i 5 TTB = = 3' Trường hợp 1: 30 37.5 40 37.5 30 + + + + 60 90 120 150 180 5 TTB = = 3' Trường hợp 2: 90 62.5 40 22.5 10 + + + + 180 150 120 90 60 Hoặc tính theo 2 công thức sau (cả 2 trường hợp đều giống nhau ) n 5 TTB = = = 3' 1 1 1 111 ∑ T 2 + 2.4 + 3 + 4 + 6 i 5 × 60 n TTB = = = 3' ∑ S hi 30 + 25 + 20 + 15 + 10 n Ghi chú: Công thức TTB = nếu tính nguyên theo các đại lượng trong công thức sẽ ra ∑ S hi giờ công, muốn đổi ra người phút phải nhân với 60, đổi ra người giây phải nhân với 3600. Tóm lại: Trong khi tính toán hao phí lao động trung bình để xây dựng định mức, người ta không sử dụng công thức bình quân số học đơn giản, và chỉ sử dụng công thức tính bình quân gia quyền trong trường hợp độ lâu các lần quan sát bằng nhau. Công thức bình quân điều hoà đúng cho mọi trường hợp. 5. Sự thống nhất giữa các điều kiện tiêu chuẩn và định mức: Mỗi trị số định mức được lập ra đều phải có điều kiện tiêu chuẩn kèm theo, đó chính là điều kiện và phạm vi áp dụng ban hành kèm theo định mức. 6. Sử dụng mối liên hệ so sánh khi nghiên cứu xây dựng định mức: Khi nghiên cứu xây dựng định mức để ban hành thành bộ hoặc tập định mức, không phải tất cả từng nhân tố ảnh hưởng đều phải xây dựng riêng 1 trị số định mức, bằng cách dùng hệ số cơ cấu, dùng toán học đồ thị, ta có thể quan sát thu số liệu cho 1 số mức đại diện. Sau đó tính ra 1 định mức giới hạn cho 1 số phạm vi biến loại nào đó. Ví dụ khi định mức cho công tác làm ván khuôn bê tông của dầm, thì chiều cao của dầm có ảnh hưởng đến định mức (dầm càng cao càng dể làm). Nhưng nếu cứ mỗi sự thay đổi chiều cao: 10, 20, 30, 40… cm ta đều xây dựng riêng từng trị số định mức thì sẽ rất phức tạp mà chỉ xây dựng với 2 trị số định mức theo độ cao của dầm ≤ 50 cm và > 50 cm. Tất nhiên khi quan sát thì các cao độ dầm được phản ảnh trong trị số định mức này. Hoặc khi nghiên cứu công tác làm cốt thép hao phí lao động phụ thuộc đường kính cốt thép, biểu thi trên đồ thị có dạng sau: 16
  17. Tiêu phí lao động cho 100kg Trong trường hợp này khi quan sát, người ta chỉ quan sát 1 số đường kính đại diện, và khi thể hiện lên mặt phẳng có hệ trục toạ độ thì các đại lượng quan sát ngẫu nhiên nên chưa nằm trên 1 đường đồ thị. Bằng phương pháp toán học, người ta sẽ chỉnh lý rút ra đường 0 8 10 12 14 16... Đường kính hồi quy của chúng. Từ đường đồ thị hồi quy có thể nội suy để tìm tiêu phí lao động cho những loại đường kính chưa quan sát ( cách chỉnh lý nghiên cứu ở chương 2). 7. Tính pháp lệnh của định mức: Khi các đinh mức được xây dựng, phải được cấp có thẩm quyền thông qua và ban hành thì nó trở thành bộ luật và và mang tính chất pháp lệnh đối với Nhà Nước. 1.9. CÁC GIAI ĐOẠN CHÍNH TRONG VIỆC XÂY DƯNG ĐỊNH MỨC: 1. Giai đoạn chuẩn bị: - Thành lập nhóm nghiên cứu và chuẩn bị đề cương nghiên cứu, trong đề cương phải nêu được các phương pháp cơ bản nào dùng trong việc xây dựng định mức và dự kiến danh mục (các mô hình, bảng mức hay tập mức) sẽ xây dựng. - Chuẩn bị hiện trường và đối tượng nghiên cứu (công nhân, máy móc…) - Chuẩn bị về tư tưởng và nghiệp vụ đối với những cán bộ công nhân viên làm định mức và đối với những công nhân là những đối tượng nghiên cứu của định mức. - Chuẩn bị các loại tài liệu, biểu mẫu và dụng cụ. 2. Nghiên cứu chấn chỉnh tổ chức sản xuất: xem xét từng quá trình, việc tổ chức có những điểm nào bất hợp lý về thành phần công nhân, cụng cụ lao động, vị trí làm việc … nghiên cứu tổ chức bố trí lại sao cho hợp lý nhất, nhằm đảm bảo cho các điều kiện tiên tiến của định mức sau này. 3. Quan sát thu thập tài liệu: 4. Tính toán xử lý số liệu - tính toán và trình bày định mức. 5. Thông qua để xét duyệt và ban hành định mức. 17
Đồng bộ tài khoản